chấp chia tài sản sau khi ly hôn và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân
dân khu vực 10 – An Giang.
-- 3 of 11 --
4
[1.2] Đối với việc nguyên đơn anh Nguyễn Văn H1 thay đổi yêu cầu khởi
kiện, cụ thể: Tại đơn khởi kiện, anh khởi kiện yêu cầu phân chia đôi tài sản chung
là 18 chỉ vàng 24K (Mười tám chỉ vàng 24L) cho anh, anh nhận giá trị là
120.000.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình tố tụng anh xin thay đổi yêu cầu
khởi kiện, anh yêu cầu chia đôi tài sản chung là số vàng 18 chỉ vàng 24K, yêu cầu
được nhận hiện vật, yêu cầu được nhận 09 chỉ vàng 24K, không nhận giá trị. Xét
thấy: Việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không vượt quá phạm vi
khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện
của anh H1 theo quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:
Nguyên đơn anh Nguyễn Ngọc H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn
chị Nguyễn Thị Lam L đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng
mặt không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng
dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn H1 thấy:
Nguyên đơn cho rằng trong ngày cưới bên gia đình anh có cho chung hai vợ
chồng anh gồm có: Nhẫn, dây chuyền, đôi bông tai, lắc tay, kiềng..., tổng cộng là
20 chỉ vàng 24K. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống thì vợ chồng đã tiêu xài
hết 02 chỉ vàng, còn lại: 18 chỉ vàng 24K. Hiện nay chị L đang giữ số vàng này.
Anh yêu cầu chị L chia cho anh 09 chỉ vàng 24K.
Bị đơn chị Lam L trình bày: vào ngày cưới ba mẹ chồng có cho 20 chỉ vàng
24k, chị không biết đó là tài sản chung hay tài sản riêng, nhưng nói là cho riêng
chị. Khi ở bên gia đình chồng, anh H1 lấy bán 01 chỉ vàng, mẹ chồng mượn 01 chỉ
vàng, còn lại 18 chỉ vàng. Khi về nhà cha mẹ ruột ở chị có mang theo 18 chỉ vàng
24K này. Tuy nhiên, chị đã dùng 18 chỉ vàng 24K cất nhà để ở, việc dùng vàng để
cất nhà có sự đồng ý của anh H1, số vàng còn dư sau khi cất nhà chị đã chi xài cá
nhân hết.
Căn cứ theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015 về nghĩa vụ chứng minh như sau:
“1. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho
yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp......
4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra
được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân
sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc” .
-- 4 of 11 --
5
Toà án đã ra quyết định yêu cầu chị L cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng
minh: số vàng cưới 20 chỉ vàng 24K gia đình nguyên đơn cho vào ngày cưới là cho
riêng chị và tài liệu chứng cứ chứng minh chị đã sử dụng là 18 chỉ vàng 24K còn
lại để cất nhà để ở có sự đồng ý của anh H1.
Tuy nhiên, chị L không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào chứng minh 20 chỉ
vàng 24K là tài sản riêng của chị, vàviệc sử dụng 18 chỉ vàng 24K còn lại để cất
nhà có sự đồng ý của anh H1.
Ngoài ra, căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân gia đình quy
định: “Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng
đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản
chung”. Trong quá trình tố tụng, chị L không chứng minh 20 chỉ vàng 24K cho
trong ngày cưới là tài sản cho riêng chị, do đó, 20 chỉ vàng 24K cho trong ngày
cưới là tài sản chung của vợ chồng anh H1 và chị L.
Trong quá trình tố tụng, chị L và anh H1 đều thống nhất tài sản tranh chấp
còn lại là 18 chỉ vàng 24K. Việc chị L cho rằng sử dụng 18 chỉ vàng 24 K còn lại
cất nhà có sự đồng ý của anh H1, tuy nhiên không được anh H1 thừa nhận. Mặt
khác, số vàng còn lại sau khi cất nhà là tài sản chung của vợ chồng, chị L đã chi
xài cà nhân hết. Do đó, việc chị L sử dụng 18 chỉ vàng 24K là tài sản chung của vợ
chồng để cất nhà và chi xài cá nhân hết mà không có sự đồng ý của anh H1. Bên
cạnh đó, việc chị L có lời khai mâu thuẫn lời khai với anh H1, nhưng không có mặt
đối chất với nguyên đơn về số vàng 18 chỉ vàng 24K, coi như từ bỏ nghĩa vụ
chứng minh của mình. Do đó, lời trình bày của chị L không có cơ sở xem xét.
Tóm lại, số vàng 18 chỉ vàng 24K còn lại là tài sản chung hợp nhất của vợ
chồng anh H1, chị L theo quy định tại Điều 33, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình.
Do đó, việc anh H1 yêu cầu chia 18 chỉ vàng 24K này, được nhận hiện vật là có cơ
sở chấp nhận và buộc chị L có trách nhiệm hoàn lại cho anh H1 09 chỉ vàng 24K là
phù hợp.
Giá vàng tại thời điểm xét xử sơ thẩm là: Vàng nữ trang 24 kara loại 9999
có giá là 16.150.000 đồng/chỉ.
[3] Về án phí: Anh H1 phải chịu án phí chia tài sản chung là 09 chỉ vàng
24K (loại 9999) giá vàng là 16.150.000 đồng/chỉ x 09 chỉ = 145.350.000 đồng x
5% = 7.267.500 đồng, nhưng được khấu trừ từ số tiền tạm ứng là 3.000.000 đồng
theo biên lai thu số 0009786 ngày 24/11/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu
vực 10 – An Giang. Anh H1 còn phải nộp án phí là 4.267.500 đồng. Chị L phải
chịu án phí chia tài sản chung là 09 chỉ vàng 24 kara x 5% = 7.267.500 đồng theo
điểm b khoản 5 Điều 27
Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
-- 5 of 11 --
6
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 4