đơn, bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị Thu H và anh Lò Văn D có đăng ký
kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện S, tỉnh Sơn La (nay là Ủy ban nhân dân
xã S, tỉnh Sơn La) vào ngày 07/02/2023, việc kết hôn là tự nguyện không bị ai ép
buộc, khi kết hôn hai bên đủ kiều kiện kết hôn theo quy định. Căn cứ Điều 8;
khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định quan hệ hôn
nhân của anh chị là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy hôn nhân mâu thuẫn giữa chị
Lò Thị Thu H và anh Lò Văn D xuất phát từ việc hai vợ chồng tính cách không
hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, hai vợ chồng thường xuyên cãi vã, anh D và
chị H chị đã sống ly thân với nhau từ tháng 6/2025 cho đến nay, hiện tại không
còn quan tâm tới cuộc sống của nhau. Tòa án đã tiến hành triệu tập tống đạt hợp
lệ các văn bản tố tụng nhiều lần cho bị đơn anh Lò Văn D để viết bản tự khai,
tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ, tham gia phiên tòa xét xử vụ án
nhưng anh Lò Văn D không có mặt tại Tòa án để giải quyết việc xin ly hôn với
chị Lò Thị Thu H thể hiện ý chí thiếu trách nhiệm, không còn quan tâm đến cuộc
sống chung của gia đình và không có hành động gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, biên bản xác minh tại địa phương,
bản tự khai của đương sự và tại phiên tòa cho thấy cuộc sống chung vợ chồng
giữa chị H và anh D không hạnh phúc, mâu thuẫn kéo dài, không thể hoà hợp
được, đã sống ly thân từ tháng 6/2025 đến nay không ai quan tâm đến cuộc sống
của ai dẫn đến tình cảm vợ chồng xa cách, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc. Căn
cứ vào Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét
-- 4 of 6 --
5
thấy tình trạng hôn nhân của chị H và anh D đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống
chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó cần chấp
nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, xử cho anh chị được ly hôn theo Điều 56 của
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lò Thành Đ, sinh
ngày 21/10/2022. Hiện cháu Lò Thành Đ đang ở cùng anh Lò Văn D.
Ý kiến của chị Lò Thị Thu H nếu ly hôn chị nhất trí giao con chung cho
anh Lò Văn D được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng
thành và chị không phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh D.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành triệu tập anh Lò Văn D nhiều
lần nhưng anh D không có mặt để lấy lời khai về việc nuôi con chung và các vấn
đề khác. Căn cứ vào đề nghị của nguyên đơn, kết quả xác minh tại chính quyền
địa phương, đại diện gia đình bị đơn thể hiện: Kể từ khi cháu Đ được sinh ra đến
khi chị H và anh D sống ly thân tới nay con chung ở cùng anh D, được anh D lo
ăn học, chăm sóc chu đáo đầy đủ. Do vậy để đảm bảo mọi quyền lợi cho cháu,
đảm bảo sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của cháu, để
cháu phát triển tốt nhất, cần chấp nhận yêu cầu của chị H là tiếp tục để con chung
cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi trưởng thành đủ 18
tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của Pháp luật, chị H không phải cấp
dưỡng nuôi con cùng anh D do không có người yêu cầu.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lò Thị Thu H xác định không có, không
yêu cầu Toà án giải quyết. Anh Lò Văn D không có ý kiến gì. Do đó không xem
xét giải quyết trong vụ án. Trường hợp sau khi giải quyết ly hôn có phát sinh tranh
chấp và có người yêu cầu, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
[5] Về án phí: Chị Lò Thị Thu H là người đồng bào dân tộc thiểu số sống ở
xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin được miễn nộp
tạm ứng án phí, án phí được Tòa án chấp nhận nên được miễn toàn bộ án phí xin
ly hôn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH
14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,