Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 5. Các yếu tố khảo sát, đo đạc và tần suất đo
Bảng số 01. Các yếu tố khảo sát , đo đạc và tần suất đo
TT
Nội dung
điều tra,
khảo sát
Yếu tố đo
Tần suất đo
Trạm mặ t rộng Trạm liên tụ c
I Điều tra, khảo sát khí tượng biển
1 Khí tượng
biển
Gió, lượng mây; tầm
nhìn xa, khí á p, nhiệt độ
không khí, độ ẩm không
khí, các hiện tượng thời
tiết khác
1 lầ n tại tất cả
cá c trạm khảo
sá t
8 lần vào 1, 4, 7,
10, 13, 16, 19 và
22 giờ hàng ngà y
3
TT
Nội dung
điều tra,
khảo sát
Yếu tố đo
Tần suất đo
Trạm mặ t rộng Trạm liên tụ c
II Điều tra, khảo sát hải văn
1 Hải văn
Sóng biển
Khảo sát 1 lầ n
bằ ng mắt tại tất
cả cá c trạm
1 giờ/số liệ u (đo
bằ ng má y tự ghi)
Mự c nước Không khảo sát
1 giờ/số liệ u (đo
bằng thủy chí), 15
phút/số liệ u (với
má y đo tự ghi)
Dòng chảy
1 lầ n tại tất cả
cá c trạm khảo
sá t
1 giờ/số liệ u (với
má y đo trự c tiếp)
15 phút/số liệ u
(với má y đo tự
ghi)
III Điều tra, khảo sát môi trường biển
1 Độ trong
suốt
Độ trong suốt nước
biển
1 lầ n tại tất cả
cá c trạm khảo
sá t (đo sáng hoặc
chiều)
Đo vào buổi
sáng hoặc chiều
trong 1 ngà y (tất
cả các ngày
trong kỳ quan
trắc)
2
Môi
trường
nước biển
Độ đục, độ pH, Oxy
hòa tan (DO), nhiệt độ
và độ muối
1 lầ n tại tất cả
cá c trạm khảo
sá t
Lấy theo các
tầng chuẩn vào
triều cường, triều
kiệt/ngày, cách
02 ngày/ lần
Dầu mỡ khoáng, mu ối
dinh dưỡng (NH4+,
PO43-); Kim loại nặng
(Cu, Pb, Cd, Fe, Mn,
Zn, As, Hg, Tổng Cr,
Cr6+)
1 lầ n tại tất cả
cá c trạm khảo
sá t
Lấy theo các
tầng chuẩn vào
triều cường, triều
kiệt/ngày, cách
02 ngày/ lần
Tổng chất rắn lơ lửng
(TSS), Fluoride (F-),
Cyanide (CN-), Tổng
phenol, Tổng
1 lầ n tại tất cả
cá c trạm khảo
sá t
Lấy theo các
tầng chuẩn vào
triều cường, triều
kiệt/ngày, cách
4
TT
Nội dung
điều tra,
khảo sát
Yếu tố đo
Tần suất đo
Trạm mặ t rộng Trạm liên tụ c
Coliform, Tổng
Hydrocarbon gốc dầu
(TPH), Tổng DDT,
Chất hoạt động bề mặt
anion
02 ngày/ lần
3
Môi
trường
không khí
Môi trường không khí:
Tổng bụi lơ lửng
(TSP), SO2, NO2, CO,
O3.
1 lầ n tại tất cả
cá c trạm khảo
sá t
8 lần vào 1, 4, 7,
10, 13, 16, 19 và
22 giờ hàng
ngà y
4
Môi
trường
trầm tích
biển
Kim loại nặng (As, Cd,
Cu, Pb, Fe, Zn, Hg,
Tổng Cr)
1 lầ n tại tất cả
cá c trạm khảo
sá t
1 lầ n/đợt tại tất
cả cá c trạm khảo
sá t (tối thiểu 02
đợt/năm)
Tổng Hydrocacbon
1 lầ n tại tất cả
cá c trạm khảo
sá t
1 lầ n/đợt tại tất
cả cá c trạm khảo
sá t (tối thiểu 02
đợt/năm)
Hóa chất bảo vệ thực
vật clo hữu cơ và
polyclo biphenyl
(DDD, DDE, DDT,
Dieldrin, Endrin,
Lindan, Tổng
Polyclobiphenyl
(PCB), Heptachlor
epoxide)
1 lầ n tại tất cả
cá c trạm khảo
sá t
1 lầ n/đợt tại tất
cả cá c trạm khảo
sá t (tối thiểu 02
đợt/năm)
Dioxin và Furan
1 lầ n tại tất cả
cá c trạm khảo
sá t
1 lầ n/đợt tại tất
cả cá c trạm khảo
sá t (tối thiểu 02
đợt/năm)
Phenol
1 lầ n tại tất cả
cá c trạm khảo
sá t
1 lầ n/đợt tại tất
cả cá c trạm khảo
sá t (tối thiểu 02
đợt/năm)
Cyanide (CN) 1 lầ n tại tất cả
cá c trạm khảo
1 lầ n/đợt tại tất
cả cá c trạm khảo
5
TT
Nội dung
điều tra,
khảo sát
Yếu tố đo
Tần suất đo
Trạm mặ t rộng Trạm liên tụ c
sá t sá t (tối thiểu 02
đợt/năm)
Các hợp chất
Hydrocacbon
thơm đa vòng (PAH)
(Acenaphthen,
Acenaphthylen,
Athracen, Benzo[a]
anthracen,
Benzo[e]pyren,
Chryren,
Dibenzo[a,h]anthracen,
Fluroanthen, Fluoren,
2-Methylnaphthalen,
Naphthalen,
Phenanthren, Pyren)
1 lầ n tại tất cả
cá c trạm khảo
sá t
1 lầ n/ đợt tại tất
cả cá c trạm khảo
sá t (tối thiểu 02
đợt/năm)
IV Điều tra, khảo sát độ sâu đáy biển
1 Độ sâu đáy
biển
Đo độ sâu điểm, tuyến
độ sâu, định vị các điểm
lấy mẫu, thả trạm quan
trắc
1 lầ n tại tất cả
cá c trạm khảo
sá t
1 lầ n tại tất cả
cá c trạm khảo
sá t
V Điều tra, khảo sát sinh thái biển
1 Sinh thá i
biển
Thự c vật phù du, độ ng
vật phù du
Thu mẫu 1 lầ n
tại tất cả cá c
trạm khảo sát
Thu mẫu 8 lần
vào 1, 4, 7, 10,
13, 16, 19 và 22
giờ/trạm
Động v ật đá y, cá biển,
rong, cỏ biển, san hô,
thực vật ngập mặn
Thu mẫu 1 lầ n
tại tất cả cá c
trạm khảo sát
Thu mẫu 1 lầ n
tại tất cả cá c
trạm khảo sát
Chương II QUY ĐỊNH KỸ THUẬT CÔNG TÁC ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT
Điều 9. Công tác điều tra, khảo sát
1. Yêu cầu chung
a) Vị trí quan trắc và đặt máy phải ở nơi thoáng, vị trí cao nhất của tàu,
không bị ảnh hưởng của các vật chắn xung quanh;
b) Quan trắc viên ca sau phải kiểm tra, ghi vào sổ giao ca công việc của ca
trực trước;
c) Công tác bàn giao ca phải được tiến hành trước 15 phút đầ u giờ tròn;
d) Đối với trạm mặt rộng: Khi tàu đến điểm khảo sát, tàu dừng hẳn và ổn
định mới tiến hành đo đạc các yếu tố theo bảng số 01;
đ) Đối với trạm liên tục: Khi tàu đến điểm khảo sát và tiến hành neo đậu
cố định, sau đó tiến hành đo đạc các yếu tố theo bảng số 01;
e) Thu dọn máy móc, thiết bị, dụng cụ vật tư khi kết thúc chuyến khảo sát .
2. Đo nhiệt độ và độ ẩm không khí
a) Trước giờ đo, lấy dụng cụ đo độ ẩm mang ra vị trí đo . Vào mùa đông
lấy dụng cụ trước 15 phút, vào mùa hè lấy dụng cụ trước 10 phút;
b) Trước lúc quan trắc 4 phút, tiến hành thấm nước cho vải mịn quấn bầu
chứa thủy ngân ở nhiệt kế bên phải (ôn biểu ướt), lên giây cót cho máy thông gió ;
c) Ngay sau khi tẩm nước và lên dây cót, treo dụng cụ đo độ ẩm lên tay
đỡ phía ngoài thành tàu phía hứng gió ;
d) Khi máy chạy được 3 phút, lần lượt đọc các trị số ôn biểu khô (nhiệt kế
bên trái), ôn biểu ướt (nhiệt kế bên phải). Đọc phần số lẻ trước (phần mười độ),
đọc phần nguyên sau và ghi kết quả vào biểu quan trắc khí tượng biển ;
đ) Thu dọn, lau chùi, bảo quản dụng cụ đo độ ẩm sau khi kết thúc đo.
3. Đo á p suất khí quyển
a) Đặt dụng cụ đo á p suất khí quyển lên giá đỡ cao khoảng 1,4 m trong
cabin tàu hoặc nơi đặt không bị ảnh hưởng của sự tỏa nhiệt từ buồng máy, bếp,
lò sưởi;
b) Không thay đổi vị trí hoặc xê dịch dụng cụ đo á p suất khí quyển ;
c) Khi đo, mở nắp hộp bảo vệ dụng cụ đo á p suất khí quyển, đọc số đo
nhiệt độ ;
d) Búng nhẹ ngón tay hoặc dùng bút chì gõ nhẹ lên mặt kính của dụng cụ
đo á p suất khí quyển, đọc số đo á p suất khí quyển ;
9
đ) Ghi kết quả vào biểu quan trắc khí tượng biển ;
e) Kết thúc đo đậy nắp hộp bảo vệ dụng cụ đo á p suất khí quyển .
4. Đo gió
a) Đến giờ đo, lấy máy gió, đồng hồ bấm giây, la bàn mang ra vị trí đo ;
b) Đưa máy đo gió lên nóc cabin, chọn nơi thoáng, xác định độ cao đặt
máy đo gió so với mực nước biển, đọc và ghi chỉ số ban đầu của máy ;
c) Tay phải cầm máy đo gió nâng lên khỏi đầu sao cho trục của máy ở vị
trí thẳng đứng, mặt số hướng về người quan trắc. Tay trái cầm đồng hồ bấm
giây. Cùng một lúc mở đồng hồ bấm giây, nâng chốt hãm máy gió lên trên để
kim chỉ số làm việc. Giữ máy đo gió ở vị trí như thế trong 100 giây và ở giây
cuối cùng kéo chốt hãm xuống dưới, kim tự ngừng lại. Trường hợp gió rất nhỏ
thời gian đo để đến 200 giây hoặc hơn nữa ;
d) Đọc và ghi chỉ số lần 2 vào biểu quan trắc khí tượng biển ;
đ) Xác định hướng gió bằng la bàn ;
e) Thu dọn, lau chùi, bảo quản dụng cụ la bàn, đồng hồ bấm giây, máy đo
gió sau khi kết thúc đo.
5. Quan trắc mây
a) Quan trắc viên dùng mắt để ước lượng (đánh giá) lượng mây tổng quan
phần bầu trời bị che khuất (phần mười bầu trời), không kể là loại mây gì thuộc
họ hay tính mây;
b) Quan trắc viên dùng mắt để ước lượng (đánh giá) phần bầu trời bị mây
dưới che khuất, kể cả mây phát triển theo chiều thẳng đứng ;
c) Xác định loại và dạng mây trên bầu trời dựa vào tập ảnh Atlat mây
chuẩn của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) hoặc bảng phân hạng mây ;
d) Xác định độ cao chân mây của mây dưới và mây giữa không quá 2 .500m;
đ) Ghi kết quả vào biểu quan trắc khí tượng biển .
6. Quan trắc tầm nhìn xa
a) Các mục tiêu xác định tầm nhìn xa phải quan sát thấy rõ từ vị trí của
người quan trắc dưới một góc không lớn hơn 5 - 6o so với đường chân trời;
b) Xác định tầm nhìn xa theo bảng phân cấp tầm nhìn xa ;
c) Xác định tầm nhìn xa cả về hai phía: Phía biển và phía bờ. Ghi kết quả
vào biểu quan trắc khí tượng biển .
7. Quan trắc các hiện tượng thời tiết
a) Quan trắc thủy hiện tượng: Mưa, mưa phùn, mưa đá, sương mù và các
hiện tượng khác;
b) Quan trắc thạch hiện tượng: Mù khô, khói và các hiện tượng khác;
10
c) Quan trắc điện hiện tượng: Dông, chớp và các hiện tượng khác;
d) Ghi kết quả vào biểu quan trắc khí tượng biển .
Chương II QUY ĐỊNH KỸ THUẬT CÔNG TÁC ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT
Điều 15. Công tác điều tra, khảo sát
1. Yêu cầu chung
a) Vị trí quan trắc phải đặc trưng cho vùng biển khảo sát, không bị ảnh
hưởng của địa hình và các vật chắn xung quanh như gần đảo, vùng cửa sông và
các công trình trên biển có tác động đến dòng chảy và sóng biển ;
b) Quan trắc viên ca sau phải kiểm tra, ghi vào sổ giao ca công việc của ca
trực trước;
c) Công tác bàn giao ca phải được tiến hành trước 15 phút đầ u giờ tròn;
d) Đối với trạm mặt rộng: Khi tàu đến điểm khảo sát, tàu dừng hẳn và ổn
định mới tiến hành đo đạc các yếu tố theo Bảng số 01;
đ) Đối với trạm liên tục: Khi tàu đến điểm khảo sát , sẽ tiến hành thả hệ
thống trạm phao độc lập (theo sơ đồ tại Hình số 01 đối với các máy đo một yếu
tố hoặc Hình số 02 đối với máy đo tích hợp nhiều nhiều yếu tố ). Sau đó neo tàu
ổn định cách khu vực thả máy một khoảng từ 3 đến 5 lần so với độ sâu thả máy .
Thực hiện khảo sát các yếu tố theo Bảng số 01;
e) Tiến hành đo độ sâu ở tất cả các loại trạm khảo sát ;
g) Thả hệ thống trạm phao độc lập sao cho máy nằm cân bằng dưới đáy
biển để đảm bảo chất lượng số liệu thu được;
12
h) Thu vớt máy và rửa các máy , thiết bị, dụng cụ vật tư khi kết thúc
chuyến khảo sát .
2. Quan trắc sóng bằng mắt
a) Xác định hướng truyền sóng bằng la bàn ;
b) Xác định (ước lượng) độ cao sóng bằng mắt ;
c) Tiến hành quan trắc độ cao sóng liên tục trong 5 phút ;
d) Ghi lại tất cả các độ cao sóng quan trắc được trong 5 phút trên giấy
nháp, sau đó gạch bỏ chỉ để lại 5 sóng có độ cao lớn nhất và ghi vào biểu quan
trắc hải văn 5 sóng đó;
đ) Gạch bên dưới sóng có độ cao lớn nhất và tìm cấp sóng tương ứng .
3. Đo dòng chảy bằng máy đo dòng chảy trực tiếp
a) Kiểm tra và hiệ u chỉnh thông tin thời gian;
b) Điều chỉnh độ tương phản của mà n hì nh hiển thị LCD;
c) Tiến hà nh bù điểm không (ZERO) đối với sensor dòng chảy và độ sâu;
d) Sử dụng dây dù nylon để treo quả nặ ng (10kg), không sử dụng dây
xích;
đ) Thả má y đo dòng chảy xuống tới tầng đo đã định trước, t ốc độ thả 0,5
m/s. Tại mỗi tầng đo được thả trong thời gian 2 phút và ghi số liệ u hướng và tốc
độ dòng chảy vào sổ quan trắc dòng chảy. Lưu số liệu hướng và tốc độ dòng
chảy vào bộ nhớ của máy ;
e) Thu máy, rửa máy, dây, lau chùi bộ phận hiển thị khi kết thúc đo đạc.
Cất giữ máy đo dòng chảy trong thùng bảo vệ .
4. Đo dòng chảy bằng máy đo dòng chảy tự ghi
a) Lắp pin nguồn cho máy đo dòng chảy, kết nối máy đo dòng chảy với
máy tính;
b) Cài đặt các thông số đo, format bộ nhớ ;
c) Bôi một lớp silicon mỏng vào tất cả các gioăng chống nước trên máy
đo dòng chảy, lắp vỏ máy, vặn chặt các vít ;
d) Tính toán chính xác độ dài của dây thả máy phù hợp với độ sâu trạm
khảo sát, vị trí đặt máy đo dòng chảy đúng tầng cần đo. Lắp phao tiêu, phao
hiệu, đèn nháy, phao căng dây, quả nặng vào dây thả máy theo hình chữ U ;
đ) Thả máy đo dòng chảy, đảm bảo dây treo máy phải thẳng, độ nghiêng
dây treo ≤ 10o;
13
e) Bố trí người canh trực máy đo dòng chảy liên tục đến khi kết thúc đo đạc ;
g) Tiến hành vớt máy đo dòng chảy tự ghi khi kết thúc đo đạc. Rửa máy
bằng nước ngọt sạch, lau khô. Tiến hành xuất số liệu từ máy phần mềm máy đo
sang file máy tính để lưu trữ . Tháo pin nguồn , rửa sạch dây thả máy, đèn hiệu,
phao và các dụng cụ khác. Cất giữ máy đo dòng chảy trong thùng bảo vệ .
5. Đo sóng bằng máy đo sóng tự ghi
a) Lắp pin nguồn cho máy đo sóng, kết nối máy đo sóng với máy tính ;
b) Cài đặt các thông số đo, format bộ nhớ ;
c) Bôi một lớp silicon mỏng vào tất cả các gioăng chống nước trên máy
đo sóng, lắp đầu câm để chống nước ;
d) Lắp khung bảo vệ máy đo sóng. Tính toán chính xác độ dài của dây thả
máy phù hợp với độ sâu trạm khảo sát. Lắp phao tiêu, phao hiệu, đèn nháy, phao
căng dây, quả nặng vào dây thả máy theo hình chữ U ;
đ) Bố trí người canh trực máy đo sóng liên tục đến khi kết thúc đo đạc ;
e) Tiến hành vớt máy đo sóng khi kết thúc đo đạc. Rửa máy bằng nước
ngọt sạch, lau khô. Tiến hành xuất số liệu từ phần mềm máy đo sang file máy
tính để lưu trữ. Tháo pin nguồn, rửa sạch dây thả máy, đèn hiệu, phao và các
dụng cụ khác. Bảo quản máy đo sóng trong thùng bảo vệ .
6. Đo mực nước tự ghi bằng máy đo mực nước tự ghi
a) Lắp pin nguồn cho máy đo mực nước, kết nối máy đo mực nước với
máy tính;
b) Cài đặt các thông số đo , format bộ nhớ ;
c) Bôi một lớp silicon mỏng vào tất cả các gioăng chống nước trên máy
đo mực nước ;
d) Lắp khung bảo vệ máy đo mực nước. Tính toán chính xác độ dài của
dây thả máy phù hợp với độ sâu trạm khảo sát. Lắp phao tiêu, phao hiệu, đèn
nháy, phao căng dây, quả nặng vào dây thả máy theo hình chữ U ;
đ) Bật máy đo mực nước , thả máy đo mực nước ;
e) Bố trí người canh trực máy đo mực nước liên tục đến khi kết thúc đo đạc ;
g) Tiến hành vớt máy đo mực nước khi kết thúc đo đạc. Rửa máy bằng
nước ngọt sạch, lau khô. Tiến hành xuất số liệu từ phần mềm máy đo sang file
máy tính để lưu trữ . Tháo pin nguồn , rửa sạch dây thả máy, đèn hiệu, phao và
các dụng cụ khác. Bảo quản máy đo mực nước trong thùng bảo vệ .
14
7. Sơ đồ thả máy tại trạm phao độc lập
Hình số 01. Sơ đồ vị trí các thiết bị đo dòng chảy và mực nước
tại trạm phao độc lập
Hình số 02. Sơ đồ vị trí thiết bị đo sóng, dòng chảy và mực nước
tại trạm phao độc lập
1
2
3
3
4 5
6
7
8
9
3
9
8
Ghi chú
1. Phao tiêu
2. Phao ngầm treo máy
3. Máy đo dòng chảy
4. Máy đo mực nước
5. Neo
6. Dây nylon
7. Phao hiệu
8. Đèn hiệu
9. Cờ hiệu
3
8
1
4
5
6
7
8
7
2
Ghi chú
1. Phao tiêu
2. Phao ngầm treo máy
3. Máy đo sóng, dòng
chảy, mực nước
4. Neo
5. Dây nylon
6. Phao hiệu
7. Đèn hiệu
8. Cờ hiệu
15
Chương II QUY ĐỊNH KỸ THUẬT CÔNG TÁC ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT
Điều 21. Công tác điều tra, khảo sát
1. Đo độ trong suốt nước biển
17
a) Đợi tàu cố định sau khi neo , đo độ trong suốt tiến hành bên phía thành
tàu có bóng râm. Tránh xa khu vực xả nước thải của tàu, khu vực có váng dầu
trên mặt nước ;
b) Dùng tời thả từ từ đĩa đo độ trong suốt xuống chạm mặt nước theo
phương thẳng đứng, đánh dấu vị trí điểm 0, tiếp tục thả đĩa xuống tới độ sâu
không còn nhìn thấy đĩa, nhắc đĩa lên và hạ xuống vài lần ở tại độ sâu này ;
c) Đo 3 lần, lấy giá trị độ sâu trung bình , ghi kết quả vào biểu đo đạc.
2. Đo các thông số chất lượng nước: DO, pH, độ muối, nhiệt độ và độ đục
nước biển
a) Lắp pin nguồn cho máy đo DO, pH, độ muối, nhiệt độ, độ đục;
b) Kiểm chuẩn tự động sensor đo pH với dung dịch chuẩn pH4;
c) Nhúng sensor và o mẫu nước cần đo. Đo nhiệt độ nước biển, DO trước,
tiếp đến đo độ muối, độ đục, cuối cùng đo pH;
d) Ghi kết quả vào biểu điều tra, đo đạc môi trư ờng biển.
3. Lấy mẫu môi trường nước biển
a) Đợi tàu cố định sau khi neo , đo độ sâu tại các vị trí khảo sát , lấy mẫu
bên mạn tàu hướng đón gió bằng dụng cụ lấy mẫu nước (batomet), tránh khu
vực bị nhiễm nước thải của tàu ;
b) Dụng cụ lấy mẫu được gắn với quả nặng đảm bảo dây lấy mẫu không
bị xiên;
c) Thả dụng cụ lấy mẫu nước tới đúng tầng cần lấy mẫu ;
d) Lấy mẫu đo nhiệ t độ , độ muối, DO, pH và độ đục nước biển tại tầng
mặ t, tầng giữa và t ầ ng đá y;
đ) Lấy mẫu phân tích muối dinh dưỡng NH4+, PO43- tại tầng mặ t, tầng
giữa và tầ ng đá y;
e) Lấy mẫu kim loại nặ ng (Cu, Pb, Cd, Fe, Mn, Zn, As, Hg, Tổng Cr,
Cr6+) tại tầng mặ t, tầng giữa và t ầ ng đá y;
g) Lấy mẫu dầ u mỡ khoáng tại tầ ng mặ t. Thể tích mẫu nước cầ n lấy là 2 lít;
h) Fluoride (F-), Cyanide (CN-), Tổng phenol, Tổng Coliform, Tổng
Hydrocarbon gốc dầu (TPH), Tổng DDT, Tổng chất rắn lơ lửng (TSS), Chất
hoạt động bề mặt anion .
4. Lấy mẫu môi trường trầm tích biển
a) Yêu cầu thành phần trầm tích của mẫu môi trường là mẫu phải có thành
phần độ hạt ở cấp hạt mịn cao (bùn, bùn cát, cát bùn…).
18
b) Khi tàu đến điểm khảo sát đợi tàu cố định sau khi neo, đo độ sâu, sau
đó tiến hành thả cuốc. Dây cáp khi thả phải có phương tương đối vuông góc so
với mặt nước biển;
- Khi cuốc chạm đáy (cáp chùng), kéo lên từ từ, không để rối cáp, đảm
bảo lượng mẫu lấy (khoảng 0,3-0,5 kg/mẫu);
- Khi lấy đủ mẫu, cho tàu di chuyển đến vị trí khảo sát tiếp theo và tiến
hành lau rửa thiết bị chuẩn bị cho trạm khảo sát tiếp theo.
5. Lấy mẫu môi trường không khí xung quanh
a) Vị trí lấy mẫu đảm bảo không khí không bị ô nhiễm cục bộ do hoạt
độ ng của tàu gây ra (nơi cao nhất của tàu, không bị che chắn );
b) Xác định hướng gió, tốc độ gió. Quan sát, đánh giá sơ bộ tình hình thời tiết ;
c) Lựa chọn vị trí, lắp đặt gắn chặt máy móc thiết bị vào vị trí thích hợp ;
d) Bơm dung dịch hấp thụ, hãm giữ mẫu đã chuẩn bị vào các ống tương
ứng và gắn vào vị trí lấy mẫu khí. Điều chỉnh bộ định chế thời gian cho thiết bị.
Kiểm tra Rotamet, điều chỉnh thông lượng đến giá trị thích hợp , chạy máy phá t
điệ n;
đ) Kết thúc quá trì nh lấy mẫu chuyển mẫu sang bộ phận phân tích, bảo
quản tương thích;
e) Trường hợp lấy mẫu trên đường hà nh trì nh ghi tọa độ vị trí đầ u - cuối
và thời gian bắt đầ u - kết thúc quá trì nh lấy mẫu;
g) Các thông số CO , SO2, NO2, tổng bụi lơ lửng (TSP) có thể sử dụng
thiết bị đo trực tiếp. Yêu cầu kỹ thuật á p dụng theo quy trình kỹ thuật quy định
tại Phụ lục 2.1. Phương pháp quan trắc không khí xung quanh (Bảng 6. Phương
pháp lấy mẫu và đo tại hi ệ n trường không khí xung quanh),
Thông tư số
10/2021/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên
và Môi trường về Quy định kỹ thuật quan trắc môi trường và quản lý thông tin,
dữ liệu quan trắc chất lượng môi trường ;
h) Thời gian lấy mẫu bụi tổng bụi lơ lửng (TSP) trong 24 giờ, lấy mẫu
SO2 trong 1,5 giờ, lấy mẫu NO2 trong 1 giờ, lấy mẫu O3 trong 1 giờ, lấy mẫu CO
trong 20 phút.
6. Bảo quản mẫu
a) Công tác bảo quản mẫu nước biển
Dụng cụ lưu giữ mẫu và phương pháp bảo quản mẫu được thực hiện theo
TCVN 6663-3:2016 ISO 5667-3:2012 Chất lượng nước - Lấy mẫu. Phần 3: Bảo
quản và xử lý mẫu nước.
b) Công tác bảo quản mẫu môi trường trầm tích biển
19
Thực hiện theo quy định tại tiêu chuẩn TCVN 6663 -15:2004 Chất lượng
nước - Lấy mẫu. Phần 15. Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu bùn và trầm tích .
c) Bảo quản mẫu môi trường không khí
Bảo quản cá c mẫu SO2, NOx, O3, CO trong tủ bảo ôn nhiệt. Bảo quản giấy
lọc thủy tinh thu mẫu bụi TSP trong túi nilon ở môi trường khô.
7. Phân tích mẫu
a) Công tác đo nhanh hiện trường
Phương pháp đo mẫu nước biển tại hiện trường các thông số chất lượng
nước tuân thủ theo quy định tại Mục 3. Phương pháp xác định của Quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia về chất lượng nước biển QCVN 10:2023/BTNMT ban hành kèm
theo
Thông tư số 01/2023/TT-BTNMT ngày 13 tháng 3 năm 2023 của Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
chất lượng môi trường xung quanh và tại Phụ lục 2.4 Phương pháp quan trắc
chất lượng nước biển kèm theo
Thông tư số 10/2021/TT-BTNMT ngày 30 tháng
6 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về Quy định kỹ thuật
quan trắc môi trường và quản lý thông tin, dữ liệu quan trắc chất lượng môi
trường.
b) Công tác phân tích mẫu nước biển
Phương pháp phân tích xác định các thông số chất lượng nước biển tuân
thủ theo quy định tại Mục 3. Phương pháp xác định của Quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về chất lượng nước biển QCVN 10:2023/BTNMT ban hành kèm theo
Thông tư số 01/2023/TT-BTNMT ngày 13 tháng 3 năm 2023 của Bộ trưởng Bộ
Tài nguyên và Môi trường Ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng
môi trường xung quanh.
Chấp nhận các phương pháp phân tích hướng dẫn trong các tiêu chuẩn
quốc gia và quốc tế khác có độ chính xác tương đương hoặc cao hơn các tiêu
chuẩn viện dẫn.
c) Công tác phân tích mẫu môi trường trầm tích biển
Phương pháp phân tích xác định các thông số môi trường trầm tích biển
được thực hiện theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng trầm tích QCVN
43:2017/BTNMT ban hành kèm theo
Thông tư số 78/2017/TT -BTNMT ngày 29
tháng 12 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Ban hành quy
chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.
Chấp nhận các phương pháp phân tích hướng dẫn trong các tiêu chuẩn
quốc gia và quốc tế khác có độ chính xác tương đương hoặc cao hơn các tiêu
chuẩn viện dẫn.
d) Công tác phân tích mẫu môi trường không khí xung quanh
20
Phương pháp phân tích xác định các thông số môi trường không khí xung
quanh được thực hiện theo quy định tại Phụ lục 2.1. Phương pháp quan trắc
không khí xung quanh (Bảng 7. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm)
của
Thông tư số 10/2021/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2021 của Bộ trưởng
Bộ Tài nguyên và Môi trường về Quy định kỹ thuật quan trắc môi trường và
quản lý thông tin, dữ liệu quan trắc chất lượng môi trường.
Chương II QUY ĐỊNH KỸ THUẬT CÔNG TÁC ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT
Điều 33. Công tác điều tra, khảo sát
1. Thực vật phù du
a) Công tác thu mẫu
- Thu mẫu tầ ng mặ t bằ ng lưới: Các loại lưới hình phễu, có kích thước mắt
20 - 25 micromet, có ống thu dưới đáy lư ới hoặ c các thiết bị thu mẫu khác có
kích thước tương đương, lưới đều vớt thẳng đứng, vớt từ đáy t ới mặ t nước.
Trường hợp góc lệ ch lớn hơn 45o thì mẫu vật thu được chỉ có giá trị về mặ t định
tính, không có giá trị định lượng;
- Kéo lưới tầ ng mặ t với tốc độ ổn định. Đối với lưới cỡ lớn (đường kính
trên 45 cm) tốc độ kéo lưới là từ 0,5 đến 1 m/s; lưới cỡ vừa (đường kính từ 25 -
45 cm) là 0,5 m/s; lưới cỡ nhỏ (đường kính dưới 25 cm) từ 0,3 đến 0,5 m/s. Khi
đang kéo lưới tuyệ t đối không được dừng lại;
- Sau khi kéo lưới lên khỏi mặ t nước dùng vòi phun nước hoặ c dộ i nước ở
phía ngoài cho sinh vật trôi hết xuống ống thu rồi cho vào lọ. Tùy theo thể tích
nước trong lọ đự ng mẫu mà cố định bằ ng formol với nồng độ 5% (hoặ c hóa chất
khác);
- Thu mẫu phân tầ ng phải căn cứ theo sự phân tầ ng như của bộ phận thủy
văn: 0 đến 10 m, 10 đến 20 m. Trường hợp kéo góc lệ ch dây cáp lớn hơn 30o thì
không lấy mẫu phân tầ ng;
- Thu mẫu phân tầ ng bằ ng máy lấy nước: Mẫu lấy nước ít nhất là 1 lít.
Trường hợp trong mẫu vật có rác bẩn, váng dầ u hoặ c có các độ ng vật thủy sinh
lớn có nhiều xúc tu thì phải thu mẫu lại. Khi cố định mẫu phải cho đủ hóa chất
tương ứng với thể tích nước trong lọ mẫu để bảo quản. Trường hợp lưới có ống
đáy nh ẹ, phầ n cuối khung lưới nối với quả rọi có trọng lượng khoảng 0,5 kg.
b) Xử lý mẫu vật
- Đổ mẫu vật vào lọ nhỏ có kích thước thích hợp tùy theo thể tích mẫu vật;
- Các lọ mẫu phải có nhãn hiệ u ở bên ngoài và bên trong, nhãn phải viết
bằ ng mự c không nhòe trên giấy can hoặ c vật liệ u tương đương. Trên nhãn ghi
ký hiệ u của vùng biển điều tra, loại lưới, thời gian thu thập và số thứ tự của mẫu
vật trong từng đợt điều tra;
- Mẫu vật thu thập bằ ng máy lấy nước phải dùng máy ly tâm đ ể làm lắng,
rút bớt nước còn khoảng 5 đến 10 ml, sử dụng hóa chất để bảo quản trong các lọ
nhỏ, các lọ này phải có nhãn hiệ u;
- Các lọ mẫu của các tầ ng nước ở mỗi trạm cho vào mộ t lọ lớn có dán
nhãn và ghi rõ số hiệ u trạm.
29
c) Bảo quản và vận chuyển
- Hoá chất bảo quản: Dung dịch formol, lugol hoặc hóa chất tương tự;
- Lọ đựng mẫu với đầy đủ nhãn mác, bút chì, bút viết kính (mực chịu
nước), nhật ký khảo sát. Riêng đối với lọ đựng mẫu thường sử dụng các loại lọ
nhựa hoặc thủy tinh dầy để dễ vận chuyển trong các chuyến khảo sát; đối với
mẫu định lượng tùy vào vùng nghiên cứu mà lọ đựng mẫu thường có dung tích
từ 0,1 - 1 lít;
- Sau khi thu mẫu các lọ được xếp vào các thùng xốp, thùng nhựa PP lớn
có nắp đậy hoặc vật liệu tương tự để vận chuyển về phòng thí nghiệm phân tích.
d) Đăng ký mẫu vật
- Tất cả các mẫu vật đã thu thập được đều phải ghi vào sổ đăng ký mẫu vật;
- Khi ghi xong phải có người đối chiếu.
đ) Phân tích mẫu
- Phân tích mẫu định tính: Mẫu định tính mang về phòng thí nghiệm, để
lắng, sau đó dùng ống hút nhỏ hút lấy một lượng nhỏ dung dịch mẫu cho lên lam
kính và quan sát dưới kính hiển vi. Tuỳ theo đặc điểm phân loại của từng loài
mà thực hiện các công đoạn tiếp theo như: Tẩy mẫu, phá vỡ, tách, nhuộm tế bào
để dễ quan sát. Trong khi quan sát, tiến hành chụp ảnh các mẫu tiêu biểu cho
từng loài. Phân tích mẫu bằng kính hiển vi OLYMPUS và kính đảo ngược
huỳnh quang LEICA hoặc kính khác tương đương;
- Phân tích định lượng: Mẫu định lượng mang về phòng thí nghiệ m, để
lắng trong tối ít nhất từ 24 - 48 giờ. Dùng xi phông nhỏ rút dầ n nước trong các
lọ mẫu cho đến khi bắt đầ u xuất hiệ n vẩn. Chuyển mẫu sang ống đong hình tr ụ
100 ml và tiếp tục để lắng ít nhất 1 ngày đêm. Dùng xi phông rút nư ớc mẫu
trong ống đong cho đến khi xuất hiệ n vẩn và lại để lắng. Cứ tiếp tục như vậy cho
đến khi thể tích mẫu trong ống đong còn lại khoảng 10 - 20 ml. Chuyển mẫu
sang lọ nhỏ thể tích 10 – 20 ml để bảo quản. Khi phân tích, lắc đều lọ mẫu, dùng
pipet hút lấy 1 ml dung dịch mẫu cho vào buồng đếm Sedgewick – Rafter,
Neubauer, hoặ c vật liệ u tương đương. Đếm số lượng tế bào của từng loài dư ới
kính hiển vi đảo ngược LEICA hoặ c kính khác tương đương;
- Đối với loài có tầ n suất xuất hiệ n cao phải dùng máy đ ếm. Đếm mộ t
phầ n, mộ t nửa hoặ c cả buồng đếm tùy thuộ c vào mật độ tế bào trong mẫu nhiều
hay ít;
- Sau khi đếm xong, mẫu vật được đổ trở lại lọ bảo quản. Buồng đếm và
ống hút định lượng phải được rửa sạch bằng nước sạch trước khi chuyển sang
đếm mẫu khác ;
30
- Kết quả phân tích được cập nhật vào biểu đếm số lượng và tính trọng
lượng tế bào thực vật phù du.
2. Động vật phù du
a) Công tác thu mẫu
- Thu thập mẫu tầ ng mặ t bằ ng lưới: Các loại lưới hình phễu, có kích thước
mắt 45 - 75 m, có ống thu dưới đáy lư ới hoặ c các thiết bị thu mẫu khác có kích
thước tương đương, loại lưới đều vớt thẳng đứng. Trường hợp góc lệ ch lớn hơn
45o thì mẫu vật thu được chỉ có giá trị về mặ t định tính, không có giá trị định
lượng;
- Kéo lưới với tốc độ ổn định. Đối với lưới cỡ lớn (đường kính trên 45
cm) tốc độ kéo lưới là từ 0,5 đến 1 m/s; lưới cỡ vừa (đường kính từ 25 - 45 cm)
là 0,5 m/s; lưới cỡ nhỏ (đường kính dưới 25 cm) từ 0,3 đến 0,5 m/s. Khi đang
kéo lưới tuyệ t đối không được dừng lại;
- Sau khi kéo lưới lên khỏi mặ t nước dùng vòi phun nước hoặ c dộ i nước ở
phía ngoài cho sinh vật trôi hết xuống ống thu rồi cho vào lọ. Tùy theo thể tích
nước trong lọ đự ng mẫu mà cố định bằ ng formol với nồng độ 5% (hoặ c hóa chất
khác tương đương);
- Thu mẫu phân tầ ng phải căn cứ theo sự phân tầ ng như của bộ phận thủy
văn: 0 đến 10 m, 10 đến 20 m. Khi miệ ng lưới tới giới hạn trên của tầ ng nước
phải dừng lại và nhanh chóng thả búa phân tầ ng để lưới gập lại. Trường hợp kéo
góc lệ ch dây cáp lớn hơn 30o thì không vớt mẫu phân tầ ng. Kết quả thu mẫu
phân tầ ng ghi trong biểu;
- Mẫu định lượng thu bằng bathomet với thể tích 5 lít - 10 lít, kéo đủ 100
lít và toàn bộ lượng nước được lọc qua lưới thu mẫu phù du , chỉ giữ lại một
lượng không quá 200 ml nước với động vật phù du. Sau đó mẫu được bảo quản
trong lọ đựng mẫu ( lọ nhựa , lọ thủy tinh, hoặc dụng cụ tương đương ) và cố định
bằng dung dịch form ol với nồng độ 5% (hoặc hóa chất khác) .
b) Xử lý mẫu vật
- Dùng ống hút đầ u bịt vải lưới để hút bớt nước trong lọ mẫu, đổ mẫu vật
vào lọ nhỏ có kích thước thích hợp tùy theo lượng mẫu vật;
- Các lọ mẫu phải có nhãn hiệ u ở bên ngoài và bên trong, nhãn phải viết
bằ ng mự c không nhòe trên giấy can hoặ c vật liệ u tương đương. Trên nhãn ghi
ký hiệ u của vùng biển điều tra, loại lưới, thời gian thu thập và số thứ tự của mẫu
vật trong từng đợt điều tra.
c) Bảo quản và vận chuyển
31
- Mẫu vật vớt bằ ng lưới được ngâm giữ trong dung dịch formol có nồng
độ 5% hoặ c hóa chất có tính năng tương tự khác;
- Mẫu vật thu thập bằ ng máy lấy nước được ngâm giữ trong dung dịch
lugol 1% hoặ c hóa chất có tính năng tương tự khác;
- Trong một số trường hợp để tránh sự ăn mòn vỏ của động vật phù du
cần phải kiềm hoá dung dịch form ol với sodium borat hoặc carbornat sodium
(Na2CO3) hoặc hóa chất có tính năng tương tự khác;
- Dụng cụ chứa mẫu bằng lọ đựng mẫu ( lọ nhựa , lọ thủy tinh hoặc vật liệu
tương đương);
- Sau khi đã được bảo quản và dán nhãn đầy đủ, mẫu động vật phù du
được đặt vào thùng xốp, thùng gỗ hoặc vật liệu tương tự vận để chuyển về
phòng thí nghiệm.
d) Đăng ký mẫu vật
- Tất cả các mẫu vật đã thu thập được đều phải ghi vào sổ đăng ký mẫu vật;
- Khi ghi xong phải có người đối chiếu.
đ) Phân tích mẫu
- Phân tích mẫu định tính: Xá c định thành phần loài bằng kính giải phẫu,
kính hiển vi;
- Xác định đến nhóm trên kính giải phẫu ;
- Chọn các cá thể phát triển đầy đủ nhất đại diện cho từng nhóm để giải
phẫu và xác định loài bằng kính hiển vi ;
- Phương pháp đếm số lượng: Trường hợp số lượng mẫu vật ít phải đếm
toàn bộ. Trường hợp mẫu vật quá nhiều đếm toàn bộ những loài có kích thước
lớn. Kết quả đếm ghi vào biểu đếm số cá thể động vật phù du và kết quả đếm
của mẫu phân tầng ghi vào biểu đếm số cá thể động vật phù du lưới phân tầng ;
- Phương pháp kh ối lượng: Chọn riêng những loài độ ng vật phù du là thức
ăn cho cá đ ể cân trọng lượng ẩm. Cân phải có độ nhậy ít nhất là 0,01 mg. Loại
bỏ cặ n, rác bẩn trước khi cân mẫu bằ ng cân điệ n tử với độ chính xác 0,0001 g.
Lọc mẫu qua lưới lọc (mắt lưới 315 m hoặ c tương đương). Thấm mẫu bằ ng
giấy lọc đến độ ẩm tự nhiên rồi cân mẫu.
3. Động vật đáy
a) Công tác thu mẫu
- Thu mẫu bằng cuốc đại dương (thể tích từ 0,15 m3 và diện tích mặt tiếp
xúc 0,1 m2) hoặc công cụ tương tự : Quan sát và ghi nhận tình hình mẫu thu loại
chất đáy, độ dày, hiện trạng sinh vật. Khối lượng chất đáy phải trên một nửa
32
cuốc đại dương hoặc công cụ tương tự mới đạt yêu cầu. Diện tích thu mẫu là 0,5
m2 tại mỗi trạm. Độ ngập sâu của công cụ thu mẫu phải đạt tối thiểu là 4 - 5 cm
đối với nền đáy là cát và vỏ sinh vật cỡ trung, 6 - 7 cm đối với nền đáy là cát
mịn, ≥ 10 cm đối với nền đáy là bùn. Khi lấy mẫu lên, trường hợp không thỏa
mãn 1 trong những chỉ tiêu trên thì bắt buộc phải lấy lại mẫu. Rửa mẫu qua hệ
thống rây (mắt rây 0,5 - 5 mm). Sau khi rửa sạch, nhặt và tách từng loài hoặc
nhóm taxon (có thể tách riêng c á thể lớn, nhỏ) rồi cho vào lọ ng âm giữ;
- Thu mẫu bằng cào đáy bằng khung tam giác đều (25 hoặc 30 cm), hình
vuông (25 - 30 cm) gắn túi lưới có mắt lưới 0,5 - 1 mm hoặc dụng cụ tương
đương): Thả cào đáy khi tàu đang chạy với tốc độ chậm và phương hướng đã ổn
định. Độ dài dây cáp khi kéo lưới phải phụ thuộc vào tốc độ của tàu, độ sâu,
hướng gió, dòng chảy. Vận tốc của tàu khi kéo phải đủ chậm để cào đáy không
bị nổi. Thời gian kéo cào đáy khoảng từ 5 đến 10 phút. Mẫu thu định tính được
coi là đạt yêu cầu khi túi lưới chứa 1/4 chất đáy (chiều dài túi lưới khoảng trên
1,5 m). Tùy độ sâu và tốc độ dòng chảy sẽ sử dụng các loại cào đáy có kích
thước và trọng lượng khác nhau để cào không bị nổi. Tiến hành đổ mẫu từ túi
lưới ra rây, rửa bằng nước và lọc bỏ vật liệu không phải mẫu trên hệ thống rây
rồi cho vào lọ đựng mẫu, cố định ngâm trong dung dịch ancol 70 - 90%;
- Thu mẫu vùng triều: Thu ở cả 3 khu cao triều, trung triều và thấp triều.
Khi đã xác định chính xác điểm cần thu, dùng ô định lượng 0,25 m2 (50 x 50
cm) hoặc 1 m2 (100 x 100 cm) đặt lên bãi triều rồi dùng xẻng hoặc dụng cụ đào
sâu đến 15 - 20 cm dưới nền đáy khi không còn gặp động vật đáy;
- Thu mẫu trong thảm cỏ biển: Tuỳ theo diện tích thảm cỏ mà quyết định
số lượng mặt cắt cần thu, ít nhất là thu 3 mặt cắt cho mỗi thảm cỏ. Trên mỗi mặt
cắt đặt 3 trạm thu mẫu (2 trạm ở hai đầu và 1 trạm ở giữa). Tại mỗi trạm thu 4
mẫu (3 định lượng và 1 định tính) bằng phương pháp thu trực tiếp bằng công cụ
và thiết bị lặn sâu Scuba hoặc dùng cuốc đại dương cỡ lớn (trên 20 kg) hoặc
công cụ khác. Tiến hành đổ mẫu từ công cụ ra rây, rửa bằng nước và lọc bỏ vật
liệu không phải mẫu trên hệ thống rây rồi cho vào lọ đựng mẫu, cố định ngâm
trong dung dịch ancol 70 - 90%;
- Thu mẫu trên rạn san hô: Sử dụng công cụ và thiết bị lặn sâu Scuba hoặc
các dụng cụ tương đương để thu mẫu động vật đáy. Mẫu định tính thu trùng với
dây mặt cắt của nghiên cứu san hô. Trên mỗi dây mặt cắt đặt khoảng 3 - 5 trạm
khảo sát. Trên mỗi trạm thu 3 ô mẫu, mỗi ô định lượng có diện tích 1 m2 (thu
toàn bộ các cá thể hiện diện trong ô thu mẫu). Mẫu định lượng thu tại các trạm
trùng với trạm thu mẫu định tính. Ở mỗi trạm thu 3 tảng san hô chết có trọng
lượng trên 5 kg/tảng. Dùng búa, dao, đục lấy toàn bộ số mẫu ở trong tảng san hô
ngâm trong dung dịch ancol 70 - 90%, dán nhãn đầy đủ.
b) Xử lý mẫu vật
33
- Tách mẫu: Trút mẫu từ dụng cụ thu mẫu ra ngoài, phải loại bỏ vật thể
không phải là động vật đáy . Trong nhóm động vật đáy lại tách riêng động vật
cần gây mê và không cần gây mê. Tách riêng các loài có cơ thể mềm yếu , dễ tổn
thương và các loài có vỏ cứng hoặc có gai;
- Nuôi và gây mê: Để mẫu vật sau khi được cố định vẫn giữ nguyên dạng
như lúc sống, cần phải tiến hành nuôi và gây mê trước khi ngâm giữ mẫu (cần
cho sinh vật hồi phục bình thường trong nước biển). Tránh tình trạng bỏ chung
động vật mềm yếu với các loài động vật ăn thịt , động vật có vỏ cứng hoặc bơi
lội nhanh (như giáp xác lớn). Khi động vật đã hồi phục bình thường, cho dần
thuốc gây mê vào ( ancol, menthol, sulfat manhê, ...). Khi gây mê, thuốc được
chia thành nhiều đợt, khối lượng thuốc không được nhiều quá. Khi động vật đáy
đã hoàn toàn mất cảm giác mới cho vào dung dịch ancol 70 - 90% để ngâm giữ;
- Ngâm giữ: Mẫu vật sau khi đã xử lý được bỏ trực tiếp vào hộp, lọ có
chứa ancol 70 - 90% hoặc formol từ 4 đến 10% để ngâm giữ ;
- Mẫu định tính: Các loài động vật đáy có kích thước trung bình, có vỏ
ngoài cứng (thân mềm, giáp xác) hoặc có xương trong (da gai, hải miên, ruột
khoang,...) dùng ancol để ngâm giữ. Đối với những mẫu có kích thước lớn, thịt
nhiều và dày (loài mang ngoài Nudibranchia, mực , bạch tuộc Octpeda hoặc
động vật tương tự) dùng xilanh tiêm trực tiếp ancol vào trong mô cơ thể hoặc
dùng formol để cố định mẫu 7 - 10%;
- Mẫu định lượng: Đối với những mẫu vật định lượng, cần tính sinh lượng
chính xác, phải dùng formol trung bình từ 7 đến 10% hoặc ancol 7 0 - 90% để cố
định toàn bộ chất sống trong cơ thể sinh vật. Đối với loài động vật cần tiến hành
thủ thuật vi phẫu trong quá trình định loại sau này, sau khi gây mê xong phải
dùng dung dịch (Bouin, formol trung tính 10% hoặc hóa chất tương đương) để
cố định.
c) Bảo quản và vận chuyển
- Hoá chất bảo quản: Dung dịch ancol, formol, lugol hoặc hóa chất tương
đương;
- Lọ đựng mẫu với đầy đủ nhãn mác, bút chì, bút viết kính (mực chịu
nước), nhật ký khảo sát. Riêng đối với lọ đựng mẫu động vật đáy thường sử
dụng các loại lọ nhựa hoặc thủy tinh dầy để dễ vận chuyển trong các chuyến
khảo sát . Đối với mẫu định lượng tùy vào vùng nghiên cứu mà lọ đựng mẫu
thường có dung tích từ 0,1 - 1 lít;
- Sau khi cố định xong mẫu các lọ được xếp vào các thùng xốp, thùng
nhựa PP lớn có nắp đậy hoặc dụng cụ tương đương để vận chuyển về phòng thí
nghiệm phân tích.
34
d) Đăng ký và ghi chép mẫu vật
- Mẫu vật sau khi xử lý phải được tiến hành đăng ký đồng thời trên sổ
nhật ký thực địa và nhãn ;
- Đăng ký trên bảng ghi. Bảng ghi thu mẫu định tính dùng để đăng ký
mẫu định tính. Bảng ghi thu mẫu định lượng dùng để đăng ký mẫu định lượng;
- Đăng ký trên nhãn và thẻ: Nhãn phải làm bằng giấy can hoặc vật liệu
khác mà không bị rách , bị nhòe chữ khi ngâm lâu trong ancol, formol hoặc hóa
chất tương đương. Thẻ để đăng ký mẫu phải làm bằng nhựa , nhôm, hoặc vật liệu
khác và phải khắc chữ số, phải có khuôn khổ thống nhất, có lỗ khoan ở một đầu
để tiện sắp xếp thứ tự và cố định, bảo quản.
đ) Phân tích mẫu
- Đối chiếu mẫu vật, sau khi đối chiếu xong, tiến hành tách mẫu để chuẩn
bị phân tích. Mẫu định tính và định lượng được tách riêng. Tách ra các nhóm
taxon khác nhau như: Hải miên, ruột khoang, giun nhiều tơ, thân mềm, giáp xác,
da gai hoặc động vật có ngoại hình khác biệt;
- Cân mẫu ngâm cồn: Dùng cân tiểu ly có độ nhạy 0 ,01 g để cân. Trường
hợp mẫu còn dùng để tính khối lượng khô thì phải dùng thống nhất một cân có
độ nhạy 0 ,01 mg. Trước khi cân, mẫu vật phải được đặt trên giấy thấm để hút đi
phần nước bề mặt. Đối với động vật sống trong ống hoặc tổ quá lớn thì phải loại
bỏ, trường hợp nhỏ thì được giữ nguyên để tránh hư hỏng mẫu. Khi cân khối
lượng thân mềm không cần phải bỏ vỏ, nhưng cần thấm hết nước hay cồn ở
trong vỏ. Đối với những loài có kích thước lớn, số lượng cá thể nhiều thì bỏ vỏ,
nhưng đồng thời phải cân riêng khối lượng sống và vỏ để làm tài liệu tham khảo ;
- Cân khối lượng khô: Sau khi đã cân xong khối lượng mẫu ngâm cồn, các
loài hoặc nhóm loài của từng trạm cần xử lý khô để cân khối lượng. Những mẫu
vật lớn cần phải giải phẫu để bỏ cặ n bã trong cơ thể. Những loài có xương canxi
phải được khử bằng axít clohydric pha loãng (HCl 0,1N). Dùng cân tiểu ly có độ
nhạy 0,01 mg. Trước khi cân, mẫu phải bỏ ra khỏi tủ sấy và để nguội trong các
bình hút ẩm. Phải cân nhanh từng mẫu.
4. Rong biển
a) Công tác thu mẫu
- Điều tra cộng đồng: Mẫu vật thu dùng để phân loại hay làm mẫu bảo
tàng lưu trữ phải đảm bảo các yêu cầu mẫu phải thu ở nhiều địa phương khác
nhau, sống trôi nổi hay sống bám, kể cả phụ sinh trên các loài rong khác. Mẫu
vật phải hoàn chỉnh, có đầy đủ các cơ quan, có mang tế bào sinh sản hay cơ
quan sinh dục, mẫu ở giai đoạn trưởng thành hay đã thành thục. Số lượng ít nhất
của mỗi loài là 5 -10 mẫu, những loài có số lượng quá ít thu toàn bộ số mẫu đã
gặp. Khi thu mẫu, đối với các loài rong nhỏ, rong đá hay các loại rong bám chắc,
35
thì dùng dao để cạy hoặc dùng dụng cụ loại bỏ vật bám để thu mẫu. Các loại
rong khác có thể thu bằng tay hay bằng panh kẹp;
- Điều tra sản lượng tự nhiên của rong kinh tế: Xác định tuyến điều tra. Ở
vùng triều ven biển, các tuyến được đặt song song với nhau từ vùng triều cao
cho tới vùng triều thấp, cho đến chỗ rong không còn phân bố. Quy trình phải
đảm bảo trong một khu vực điều tra có ít nhất từ 3 - 5 tuyến. Trên mỗi tuyến đặt
3 trạm thu mẫu (2 trạm ở hai đầu và 1 trạm ở giữa). Tại mỗi trạm thu 1 mẫu định
lượng (mẫu được thu bằng khung vuông 50 x 50 cm, nơi mật độ thưa thì kích
thước khung lớn hơn) và thu toàn bộ số lượng rong biển có trong ô định lượng
theo phương thẳng đứng, đến khi không còn gặp (thu tất cả các phần cơ thể của
rong biển như rễ, thân, lá, hoa, quả ...). Tiến hành cố định mẫu bằng dung dịch
ancol 70 - 90% hoặc hóa chất khác;
- Ở các đầm nước mặn, lợ, các tuyến được xếp theo hình bàn cờ. Khoảng
cách các tuyến tùy thuộc vào diện tích đầm hồ và kích thước không quá 100 m;
- Chọn điểm thu mẫu: Trên các tuyến xác định các điểm thu mẫu để tính
sinh lượng. Khoảng cách giữa các điểm thu mẫu dựa vào chiều dài mỗi tuyến,
mỗi tuyến có từ 5 đến 10 điểm thu mẫu (mỗi điểm thu 1 mẫu);
- Ở khu vực điều tra có rong phân bố dày và tuyến thu mẫu kéo dài,
khoảng cách các điểm thu mẫu không quá 50 m;
- Những nơi có rong mọc thưa, khoảng cách các điểm thu mẫu không quá
30 m. Thu mẫu trong một diện tích nhất định, được giới hạn bằng các khung
vuông 50 x 50 cm, nơi mật độ thưa thì kích thước khung lớn hơn ;
- Ở những nơi có rong phân bố dày hay tập trung, diện tích lấy mẫu sinh
lượng chỉ cần khung vuông 50 x 50 cm. Những nơi rong phân bố thưa thì dùng
khung có diện tích lớn hơn;
- Đối với một số loài rong có số lượng lớn thường bị sóng táp vào bờ (như
Sargassum, Chnoospora hoặc rong biển có hiện trạng tương tự ), cần phải tính
sinh lượng của chúng ở các điểm trên bờ trùng với các điểm của tuyến kéo dài
tới vùng phân bố chính;
- Khi độ sâu mực nước vượt quá khả năng quan sát và thu mẫu của nhóm
điều tra thì sử dụng công cụ và thiết bị lặn sâu Scuba hoặc các dụng cụ tương
đương để thu mẫu động vật đáy ;
- Khi thu mẫu đếm bằng khung diện tích đã chọn và thu tất cả những cá
thể rong, thu cả phần gốc nằm trong khung;
- Khi thu mẫu xong, rửa sạch và tách riêng các giống loài ra, cho từng
mẫu vào túi vải hoặc vật liệu khác thoáng khí, loại bỏ hết nước bám quanh rong
và cân trọng lượng từng loài hay từng giống;
- Mặt sau của bảng, biểu điều tra, vẽ sơ đồ của khu vực điều tra, đánh số
36
các tuyến, điểm thu mẫu. Các điểm thu mẫu phải phù hợp với số ghi trong bảng,
biểu điều tra để khi chỉnh lý dễ dàng đối chiếu.
b) Xử lý mẫu vật
- Làm mẫu rong khô: Chọn những mẫu rong tiêu biểu và đầy đủ các phần
cơ quan (thân, ngọn, cơ quan sinh sản hoặc cơ quan điển hình), rửa sạch bằng
nước ngọt, làm sạch các chất bám. Tùy theo kích thước của từng mẫu rong, chọn
những cỡ giấy thích hợp để ép rong. Dùng bút chì viết lên tờ giấy ép các thông
tin cơ bản (địa điểm, thời gian thu thập và số hiệu mẫu, giới tính của mẫu hoặc
các đặc điểm cần lưu ý). Chỉnh lý và làm thành mẫu bảo tàng ;
- Làm mẫu rong ngâm tươi: Mẫu rong ngâm tươi thường không để được
lâu dài, chỉ làm mẫu tạm thời để phân loại. Các loài rong lục ( Chlorophyta)
ngâm trong dung dịch nước biển 7% formol nguyên chất và thêm một ít sunphat
đồng (CuSO4). Các loài rong nâu (Phaeophyta) ngâm trong dung dịch nước biển
có 7% formol. Các loài rong đỏ ( Rhodophyta) ngâm trong dung dịch 68% nước
biển, 25% ancol 90%, 7% formol, trước khi ngâm có thể nhuộm ecsina. Đối với
các loại rong đỏ mềm, nhiều keo, dễ nát khi ngâm cho thêm một ít glycerine
hoặc cố định bằng hóa chất khác.
c) Bảo quản và vận chuyển
- Hoá chất bảo quản: Dung dịch ancol, formol, lugol hoặc hóa chất tương
đương;
- Hộp đựng mẫu với đầy đủ nhãn mác, bút chì, bút viết kính (mực chịu
nước), nhật ký khảo sát. Riêng đối với hộp đựng mẫu rong biển thường sử dụng
các loại hộp nhựa hoặc thủy tinh dầy để dễ vận chuyển trong các chuyến khảo sát;
- Sau khi cố định xong các hộp được xếp vào các thùng xốp, thùng nhựa
PP lớn có nắp đậy hoặc dụng cụ tương đương để vận chuyển về phòng thí
nghiệm phân tích.
d) Đăng ký và ghi chép mẫu vật
- Mẫu vật sau khi xử lý phải được tiến hành đăng ký đồng thời trên sổ
nhật ký thực địa và nhãn ;
- Đăng ký trên bảng ghi: Bảng ghi thu mẫu định tính dùng để đăng ký
mẫu định tính. Bảng ghi thu mẫu định lượng dùng để đăng ký mẫu định lượng;
- Đăng ký trên nhãn và thẻ: Nhãn phải làm bằng giấy can hoặc vật liệu
khác mà không bị rách , bị nhòe chữ để bảo quản thời gian dài .
đ) Phân tích mẫu
- Quan sát cấu tạo bên trong của rong sử dụng các loại kính hiển vi;
37
- Đối với những rong đơn bào hay có cấu tạo dạng sợi, chỉ cần để trên lam
kính, đậy la-men rồi cho vào kính quan sát;
- Đối với những rong gồm nhiều sợi tụ lại (Calothrix hoặc loại rong tương
đương) hay dính lại với nhau (Rivularin, Brachytrichia hoặc loại rong tương
đương sau khi đặt mẫu lên lam kính dùng kim nhỏ tách ra hay đậy la -men lại rồi
đè mạnh cho mẫu rời ra mới quan sát được;
- Đối với các loại rong có cấu tạo tế bào phức tạp, muốn quan sát các cấu
tạo bên trong cần phải cắt thành những lát mỏng theo chiều ngang hay dọc tùy
vào bộ phận cần quan sát;
- Các rong có tẩm vôi (một số loài trong họ Corallinaceae hoặc họ rong
tương tự ) trước khi cắt nên khử vôi bằng cách ngâm mẫu rong trong axít acetic
và axít nitric (với rong nhỏ chỉ cần ngâm trong axít acetic) hoặc hóa chất khác
và nhuộm bằng hóa chất.
5. Cỏ biển
a) Công tác thu mẫu
- Xác định diện tích thảm cỏ biển, lựa chọn vị trí đặt mặt cắt với điểm thu
mẫu (điểm thu mẫu có quần xã cỏ cả vùng) và tiện di chuyển;
- Đặt mặt cắt: Số lượng thường là 3 mặt cắt tại mỗi khu vực. Độ dài mỗi
mặt cắt phụ thuộc vào diện tích. Mỗi mặt cắt có thể dài từ 50 - 100 m. Các mặt
cắt đặt song song với nhau và song song hoặc vuông góc với bờ;
- Việc thu mẫu thực hiện bắt đầu từ trạm 0 m của mỗi mặt cắt, với khoảng
cách tiếp theo là 10 m. Cứ như vậy cho đến điểm cuối cùng của mặt cắt;
- Xác định thành phần loài cỏ biển: Xác định loài cỏ biển có trong khung
định lượng;
- Xác định độ phủ: Xác định độ phủ (%) của cỏ biển bên trong khung định
lượng (50 x 50 cm);
- Thu mẫu tính sinh khối: Tại mỗi trạm cách nhau 10 m của mặt cắt, thu ít
nhất 2 - 4 khung định lượng (20 x 20 cm, trường hợp kích thước cỏ lớn) hoặc 2 -
4 ống (0,0035 m2, trường hợp kích thước cỏ nhỏ) để tính mật độ chồi và khối
lượng cỏ biển;
- Khi độ sâu mực nước vượt quá khả năng quan sát và thu mẫu của nhóm
nghiên cứu thì sử dụng công cụ và thiết bị lặn sâu Scuba hoặc các dụng cụ tương
đương để thu mẫu động vật đáy.
b) Xử lý mẫu vật
38
- Thu mẫu ép khô: Lựa chọn mẫu cỏ biển tiêu biểu có chồi, có thân, rễ, lá
còn nguyên vẹn, hoa, quả. Rửa sạch bằng nước ngọt, làm sạch các chất bám.
Tùy theo kích thước của từng mẫu cỏ biển, chọn những vật liệu thích hợp để ép
cỏ biển. Dùng bút chì viết lên tờ giấy ép các thông tin cơ bản (địa điểm, thời
gian thu thập và số hiệu mẫu, giới tính của mẫu hoặc đặc điểm tương tự ). Chỉnh
lý và làm thành mẫu bảo tàng ;
- Làm mẫu cỏ biển ngâm tươi: Mẫu cỏ biển ngâm tươi để làm mẫu tạm
thời để phân loại. Các loài cỏ biển ngâm trong dung dịch nước biển 5 - 7%
formol nguyên chất hoặc sử dụng ancol 70 - 90% hoặc cố định bằng hóa chất khác.
c) Bảo quản và vận chuyển
- Hoá chất bảo quản: Dung dịch ancol, formol, lugol hoặc hóa chất tương
đương;
- Hộp đựng mẫu với đầy đủ nhãn mác, bút chì, bút viết kính (mực chịu
nước), nhật ký khảo sát. Riêng đối với hộp đựng mẫu cỏ biển thường sử dụng
các loại hộp nhựa hoặc thủy tinh dầy để dễ vận chuyển trong các chuyến khảo sát;
- Sau khi cố định xong các hộp được xếp vào các thùng xốp, thùng nhựa
PP lớn có nắp đậy để vận chuyển về phòng thí nghiệm phân tích.
d) Đăng ký và ghi chép mẫu vật
- Mẫu vật sau khi xử lý phải được tiến hành đăng ký đồng thời trên sổ
nhật ký thực địa và nhãn ;
- Đăng ký trên bảng ghi: Bảng ghi thu mẫu định tính dùng để đăng ký
mẫu định tính. Bảng ghi thu mẫu định lượng dùng để đăng ký mẫu định lượng;
- Đăng ký trên nhãn và thẻ: Nhãn phải làm bằng giấy can hoặc vật liệu
khác mà không bị rách , bị nhòe chữ để bảo quản thời gian dài .
đ) Phân tích mẫu
- Ép khô mẫu: Tập hợp tất cả mẫu cỏ biển thu được ở 2 - 4 khung định
lượng (ống định lượng) tại mỗi trạm thu mẫu dọc mặt cắt. Rửa sạch lá cỏ, loại
bỏ trầm tích và vật bám trên lá cỏ để tránh sai số khi cân khối lượng. Tách riêng
từng loài cỏ biển sau đó đếm cẩn thận từng chồi lá, chồi hoa;
- Đo các thông số sinh học của cỏ biển: Dùng thước đo chiều dài của bẹ
lá, chiều dài, chiều rộng phiến lá. Để đạt được độ chính xác, phải đo ít nhất 20
chồi lá;
- Tách riêng từng phần cỏ biển: Phần trên mặt đất (chồi lá và chồi hoa) và
phần dưới mặt đất (thân và rễ). Sấy khô ở nhiệt độ 60 oC trong vòng 24 giờ, sau
đó cân trên cân điện tử với độ chính xác 0,01 mg.
39
6. San hô
a) Khảo sát biến động về số lượng loài san hô
- Thu thập mẫu vật: Sử dụng thiết và công cụ bị lặn sâu AquaLung , Scuba
hoặc các dụng cụ tương đương để thu mẫu san hô trên rạn từ đới có san hô đến
chân rạn (độ sâu 30 - 40 m). Đối với các loài san hô dạng khối phải sử dụng vật
liệu đục để lấy mẫu. Mẫu được lấy tẩy hết phần thịt (có thể ngâm trong nước
khoảng 5 - 7 ngày sau đó dùng vòi nước mạnh xịt vào sẽ sạch hết phần thịt hoặc
dùng hoá chất để tẩy);
- Quay phim, chụp ảnh: Sử dụng máy quay phim, máy ảnh cho việc điều
tra mức độ phong phú về thành phần loài. Tất cả các loài bắt gặp tại hiện trường
đều được chụp cận cảnh sao cho có thể nhận biết được các đặc điểm phân loại
một cách rõ ràng nhất;
- Phân tích mẫu vật: Mẫu thu được sẽ được phân loại dựa vào hình thái và
cấu trúc bộ xương theo hệ thống phân loại của Veron và Pichon (1976, 1978,
1980, 1982, 1986). Đối với phân loại trên hình ảnh, xác định thành phần loài
dựa vào màu sắc và hình thái theo hệ thống và tài liệu phân loại san hô sống của
Veron 2000 hoặc các hệ thống phân loại khác.
b) Khảo sát sự biến động của độ phủ
- Phương pháp đánh giá nhanh rạn san hô: Phương pháp Manta tow dùng
để đánh giá nhanh hiện trạng một rạn san hô trên một diện tích rộng bao gồm độ
phủ san hô cứng, san hô mềm, mật độ động vật không xương sống đáy cỡ lớn.
Phương pháp này chỉ thực hiện được ở những vùng nước trong (tầm nhìn tối
thiểu là 6 m, độ sâu tối thiểu là 3 m). Một người điều khiển tàu và chịu trách
nhiệm an toàn cho đội khảo sát. Một người quan sát và ghi chép dưới nước. Một
người ngồi trên tàu định vị, bấm giờ và phụ trách chung đảm bảo cho kỹ thuật
được thực hiện theo đúng phương pháp đồng thời có thể thay ca cho người quan
sát dưới nước trường hợp tiến hành khảo sát trên một vùng rộng lớn;
- Trước khi tiến hành kéo manta, một người ghi chép các thông số về thời
tiết (mưa/nắng, gió, nhiệt độ), tình trạng mặt biển, mô tả sơ bộ về khu vực khảo
sát, khoảng cách đến khu vực bị ảnh hưởng (dầu tràn, hóa chất độc hại hoặc ảnh
hưởng khác );
- Khi người quan sát ở dưới nước ra ký hiệu xuất phát thì người điều
khiển trên tàu bắt đầu cho tàu chạy. Một người trên tàu ghi thời gian và toạ độ
của điểm xuất phát. Tốc độ tàu chạy duy trì ở 3 - 5 km/h hoặc tốc độ tương đương;
- Sau 2 phút kể từ lúc xuất phát thì người điều khiển cho tàu dừng lại để
người dưới nước ghi nhận số liệu (phần trăm độ phủ san hô sống, san hô chết và
40
san hô mềm) rồi ghi vào bảng biểu, đồng thời người trên tàu cũng ghi lại tọa độ
của điểm dừng;
- Người quan sát cần phải chú ý thêm về sự phá hủy của sóng, tác động
ngoại cảnh (sao biển gai, trai tai tượng) và ước chừng số lượng trong mỗi lần kéo;
- Yêu cầu tối thiểu là phải ghi nhận được 3 thông số là san hô cứng, san
hô mềm và san hô chết theo quy ước về bậc độ phủ hoặc chỉ số khác;
- Phân tích số liệu: Sau khi thu thập xong ngoài hiện trường, số liệu sẽ
được nhập vào máy dưới dạng file excel, số liệu sẽ được biểu diễn dưới dạng
biểu đồ hoặc bản đồ.
Hình số 05. Sơ đồ khảo sát theo phương pháp Manta tow
c) Phương pháp Reefcheck
- Khả năng á p dụng: Phương pháp này có thể á p dụng được trên tất cả các
rạn san hô có chiều dài 100 m trở lên, có tầm nhìn hạn chế mà phương pháp
Manta tow không tiến hành được;
- Lựa chọn vị trí khảo sát: Lựa chọn địa điểm gần những nơi chịu ảnh
hưởng mạnh của các sự cố (dầu tràn, hóa chất độc hại hoặc sự cố khác), đặc biệt
cần lưu ý tránh những rạn có độ dốc thẳng đứng, hang hốc. Nên chọn vùng rạn
có chiều dài ít nhất là 100 m và độ dốc vừa phải để đặt mặt cắt. Mô tả địa điểm
chọn lựa và ghi chép các thông số cần thiết như kinh vĩ độ, khoảng cách từ bờ,
41
khoảng cách đến cửa sông, khoảng cách đến vùng bị ảnh hưởng (dầu tràn, hóa
chất độc hại, ...);
- Cách tiến hành: Trải dây mặt cắt 100 m song song với đường đẳng sâu ở
độ sâu 2 - 6 m và một dây khác ở độ sâu 6 - 12 m. Ở những rạn hẹp và nông chỉ
cần trải một dây mặt cắt ở độ sâu 2 - 6 m. Dây mặt cắt 100 m được chia làm 4
đoạn nhỏ, mỗi đoạn có chiều dài 19,5 m (tức là chỉ khảo sát trong các đoạn từ 0
- 19,5 m, 25 - 44,5 m, 50 - 69,5 m, 75 - 94,5 m), khoảng cách của mỗi đoạn là 5
m để đảm bảo độ tin cậy trong quá trình tính toán số liệu của phương pháp. Các
hợp phần đáy dưới dây mặt cắt ghi tại từng điểm chạm cách nhau một khoảng
0,5 m. Bắt đầu ghi từ điểm 0 m, 0,5 m, 1,0 m, 1,5 m… cho đến 19,5 m. Khi đã
xong điểm chạm 19,5 m tức là đã hoàn thành xong đoạn đầu tiên trong 4 đoạn
của dây mặt cắt 100 m, bỏ qua các khoảng 20 - 24,5 m. Quá trình được thực
hiện tương tự từ 25 - 44,5 m, 50 - 69,5 m, 75 - 94,5 m, bỏ qua các khoảng 20 -
24,5 m, 45 - 49,5 m, 70 - 74,5 m, 95 - 100 m. Việc ghi chép các hợp phần đáy
vào bảng số liệu dưới dạng ký hiệu theo chỉ dẫn trên bảng ghi hợp phần đáy.
Mười thành phần hợp phần đáy cần ghi nhận bao gồm: San hô cứng (HC), san
hô mềm (SC), san hô chết (DC), đá (RC), vụn san hô (RB), cát (SD), bùn (SI),
rong lớn (FS), hải miên (SP), các sinh vật khác (OT).
7. Cá biển
a) Thu mẫu trên rạn san hô
- Phương pháp đánh giá nhanh nguồn lợi cá rạn san hô bằng thống kê
quan sát trực tiếp kết hợp với máy quay phim và chụp ảnh dưới nước:
+ Lựa chọn địa điểm khảo sát: Khảo sát tổng quan về sườn rạn (kiểu rạn,
phân bố, ...), lựa chọn điểm khảo sát phải mang tính chất đại diện cho toàn rạn.
Tất cả các địa điểm phải tương tự nhau về các đặc điểm vật lý, độ dốc và độ phủ
san hô. Trong trường hợp nước trong có thể sử dụng ván kéo (manta tow) để
khảo sát tổng quan, trái lại nên á p dụng phương pháp lặn điểm đối với vùng rạn
có độ đục cao. Lựa chọn ít nhất 2 điểm (lặp lại) về phía sườn hướng gió để tính
toán giữa sự thay đổi vị trí trong một habitat. Từng địa điểm trong habitat (sườn
hướng gió) phải tương tự với các điểm hướng gió khác. Trường hợp có các
habitat hướng gió và khuất gió rõ ràng thì chọn ít nhất 1 hoặc 2 địa điểm trong
mỗi vùng. Trong các khu vực nơi ngược với gió mùa thịnh hành, chọn các điểm
trong các vùng rạn hướng tới các gió mùa khác nhau. Các địa điểm trong các
habitat phải cách nhau một khoảng cách thích hợp (từ 100 - 200 m);
+ Thao tác chung: Các loài phải chiếm ưu thế về số lượng, không có tập
tính sống ẩn. Chúng phải được định loại một cách dễ dàng ở dưới nước. Chúng
phải có liên quan mật thiết đến các habitat sườn rạn;
+ Đặt mặt cắt: Ở mỗi một địa điểm trên rạn, đặt ít nhất 2 dây mặt cắt dài
50 m ở mỗi độ sâu 3 - 5 m và 8 - 10 m. Các dây mặt cắt phải dùng cho cả việc
42
khảo sát dạng sống ở đáy (LIT). Nên tiến hành khảo sát cả cá và các dạng sống
ở đáy trên cùng một rạn;
+ Kỹ thuật điều tra: Thời gian khảo sát được tiến hành trong khoảng từ 8
giờ 30 - 15 giờ 30 để đảm bảo độ chiếu sáng của mặt trời trên rạn và tránh thống
kê cả nhóm cá sống ẩn (đêm mới ra kiếm mồi). Sau khi rải dây mặt cắt, đợi
khoảng 5 đến 15 phút, giữ yên tĩnh để cá lấy lại được tập tính bình thường rồi
mới đếm. Mỗi một mặt cắt được điều tra thành một đai 50 x 5 m. Người quan sát
(sử dụng thiết bị lặn) bơi chậm dọc theo mặt cắt, ghi chép tất cả các loài cá bắt
gặp trong khoảng 2,5 m (mật độ, chiều dài toàn thân ước tính và định loại đến
cấp độ loài) về cả hai phía và 5 m ở phía trên của mặt cắt. Luôn luôn kiểm tra
khả năng của thợ lặn để xác định khoảng cách 5 m trước khi bắt đầu kiểm tra.
Trường hợp tầm nhìn kém, có thể giảm chiều rộng của đai mặt cắt xuống còn
2,5 m và phía trên 2,5 m.
- Phương pháp quan trắc lặp đánh giá biến động của nguồn lợi cá trên rạn
Reef Check
+ Lựa chọn địa điểm khảo sát: Tùy theo mục đích giám sát mà chúng ta
lựa chọn các điểm rạn san hô khác nhau. Chọn vùng rạn san hô có chiều dài ít
nhất là 100 m để đặt mặt cắt. Mô tả địa điểm chọn lựa với các thông số cần thiết
như kinh vĩ độ, khoảng cách từ bờ, khoảng cách đến cửa sông, khoảng cách đến
vùng dân cư gần nhất, mức độ ô nhiễm, lý do chọn lựa địa điểm này;
+ Bố trí dây mặt cắt: Số dây mặt cắt được đặt thường là 2 và song song
với đường đẳng sâu, một trên mặt bằng rạn ở độ sâu 3 - 6 m và một trên sườn
dốc rạn san hô ở độ sâu 6 - 12 m. Kiểm tra lại để tránh tình trạng dây mặt cắt bị
nổi trên mặt nước. Dùng 2 phao thả nổi trên mặt nước buộc vào mỗi đầu của dây
mặt cắt để làm mốc xác định vị trí. Chiều dài một mặt cắt là 100 m (mặt cắt là
loại thước cuộn có chia khoảng cách tối thiểu là 0,5 m) được chia làm 4 đoạn
nhỏ (0 - 20 m, 25 - 45 m, 50 - 70 m và 75 - 95 m), mỗi đoạn dài 20 m để đảm
bảo độ tin cậy trong quá trình tính toán số liệu của phương pháp;
+ Kỹ thuật điều tra: Khoảng 10 - 15 phút sau khi rải mặt cắt (chờ nước
yên tĩnh trở lại) người quan sát cá sẽ tiến hành quan trắc, người quan sát bơi thật
chậm và bắt đầu đếm số lượng các chỉ tiêu cần quan tâm (được liệt kê trong
phương pháp) dọc theo mặt cắt trong phạm vi tầm nhìn 2,5 m về phía mỗi bên
của dây mặt cắt, 5 m phía trước và 5 m phía trên từ điểm đầu (tức là điểm 0 m)
cho đến điểm 5 m. Dừng lại ở điểm 5 m trong vòng 3 phút để chờ cho các loài
cá di chuyển ra khỏi hang rồi mới bắt đầu đếm tiếp trong khoảng 5 - 10 m. Dừng
lại 3 phút rồi đếm khoảng 10 - 15 m và tiếp theo đếm ở khoảng 15 - 20 m. Quá
trình cứ tiếp tục tương tự như vậy đối với các đoạn còn lại (25 - 45 m, 50 - 70 m
và 75 - 95 m) không cần đếm trong các khoảng 20 - 25 m, 45 - 50 m, 70 - 75 m
và 95 - 100 m.
- Các chỉ tiêu ghi nhận đối với cá rạn san hô bao gồm: Cá Mú - Groupers,
43
cá Hồng - Snappers, cá Kẽm - Seetlips, cá Hè - Emperors, cá Bướm -
Butterflyfishes, cá Mú gù - Barramundi cod, cá Mó gù - Bumphead parrotfish,
cá Bàng chài gù - Humpheadfish, các loài cá Chình - Morray eels.
b) Phương pháp thu mẫu cá vùng nước ven bờ
- Lựa chọn địa điểm khảo sát: L ự a chọn địa điểm thu mẫu mang tính đại
diện cho khu vực và đảm bảo tính đối chứng;
- Kỹ thuật thu mẫu: Sử dụng nhiều loại lưới cùng một lúc để thu mẫu. Lựa
chọn loại lưới thu mẫu phụ thuộc vào đối tượng cần thu và habitat phù hợp cho
việc vận hành loại lưới đó. Dọc khu vực bao vùng chuyển tiếp giữa các habitat
ví dụ rừng ngập mặn/cỏ biển/san hô nên sử dụng thêm lưới bén chắn ngang để
thu mẫu của các nhóm cá di chuyển giữa các habitat. Ghi chép đầy đủ các chi
tiết về mẫu vật thu được (vị trí thu mẫu (tọa độ GPS), loại lưới thu mẫu, số lần
kéo lưới, thời gian kéo);
- Mẫu vật được cố định trong hộp nhựa, thùng nhựa PP lớn có nắp đậy, túi
nhựa PVC hoặc dụng cụ tương đương. Các mẫu cá nhỏ thường được bảo quản
trong dung dịch formalin 10%, cá thể có kích thước lớn sẽ được bảo quản trong
dung dịch formalin 20%. Số mẫu thu được cần được phân loại thành các taxon
và định loại sơ bộ trước khi mang về phòng thí nghiệm.
8. Thực vật ngập mặn
a) Công tác thu mẫu:
- Lựa chọn khu vực đặt mặt cắt. Ít nhất 2 mặt cắt được thiết lập tại vùng
nghiên cứu. Mặt cắt phải phản á nh được các đặc điểm về cấu trúc của quần xã
trong vùng. Tại mỗi trạm nghiên cứu thiết lập ít nhất 3 mặt cắt chạy vuông góc
với đường bờ và cắt ngang qua thảm thực vật ngập mặn;
- Chia mặt cắt thành các vùng: Thấp triều, trung triều và cao triều để
nghiên cứu cấu trúc của quần xã thực vật ngập mặn;
- Tuỳ theo cấu trúc thành phần loài thực vật ngập mặn mà lại chia thành
các kiểu rừng điển hình;
- Đặt 3 khung định lượng cùng kích cỡ một cách ngẫu nhiên dọc theo dây
mặt cắt. Thu mẫu định tính (thu lá, hoa, quả, ... để xác định tên khoa học của
loài). Thu mẫu định lượng (khung định lượng dùng để xác định mật độ và các
chỉ số sinh thái của thực vật ngập mặn thường là 10 m x 10 m hoặc lớn hơn);
- Trong một số trường hợp (giới hạn thời gian, điều kiện tự nhiên hoặc
điều kiện khác ) có thể đặt khung định lượng có kích thước nhỏ hơn nhưng số
liệu vẫn phải đảm bảo tính thống kê (khung định lượng có ít nhất từ 40 - 100 cá
thể/khung định lượng);
- Đếm số cây trong khung định lượng (cả những cây có thân nằm trong
khung định lượng), đo chiều dài, đường kính của cây, xác định thành phần loài
44
trong khung và tính tỷ lệ, mật độ loài trong khung định lượng.
b) Bảo quản và vận chuyển mẫu:
- Mẫu sau khi thu được nhúng qua qua ancol, sau đó được ép mẫu bằng
khung ép trong báo và đóng vào thùng xốp, hòm gỗ hoặc thùng nhựa PP lớn có
nắp đậy ghi rõ nhãn mác để chuyển về phòng thí nghiệm;
- Phương pháp xử lý tiêu bản: Mẫu thu về và được sấy khô (có tẩm lưu
huỳnh) ở nhiệt độ từ 40 oC - 105oC sau 24 giờ.
c) Phân tích mẫu: Định loại đến bậc loài và phân loài.