Chương II ĐẶC XÁ NHÂN SỰ KIỆN TRỌNG ĐẠI,
Điều 11. Điều kiện của người được đề nghị đặc xá
1. Người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, người bị kết án phạt tù chung
thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn được đề nghị đặc xá phải có đủ các
điều kiện sau đây:
-- 4 of 20 --
30 CÔNG BÁO/Số 1133 + 1134/Ngày 22-12-2018
a) Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù
khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự;
b) Đã chấp hành án phạt tù được một thời gian do Chủ tịch nước quyết định
nhưng ít nhất là một phần ba thời gian đối với trường hợp bị phạt tù có thời hạn,
nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm
không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù; đã chấp hành án phạt tù ít
nhất là 14 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có
thời hạn, nếu sau khi đã được giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm
thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm sau đó không được tính vào
thời gian đã chấp hành án phạt tù.
Người bị kết án về tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội;
tội phá hoại chính sách đoàn kết; tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi
nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; tội trốn
đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; người
bị kết án từ 10 năm tù trở lên về một trong các tội quy định tại Chương các tội xâm
phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người của Bộ luật Hình
sự do cố ý hoặc người bị kết án từ 07 năm tù trở lên về tội cướp tài sản; tội bắt cóc
nhằm chiếm đoạt tài sản; tội sản xuất trái phép chất ma túy; tội mua bán trái phép
chất ma túy; tội chiếm đoạt chất ma túy của Bộ luật Hình sự đã chấp hành án phạt
tù được một thời gian do Chủ tịch nước quyết định nhưng ít nhất là một phần hai
thời gian đối với trường hợp bị kết án phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được
giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào
thời gian đã chấp hành án phạt tù; đã chấp hành án phạt tù ít nhất là 17 năm đối với
trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn, nếu
sau khi đã được giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp
hành án phạt tù thì thời hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã
chấp hành án phạt tù;
c) Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, đã nộp án phí;
d) Đã thi hành xong nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân
sự khác đối với người bị kết án phạt tù về các tội phạm tham nhũng hoặc tội phạm
khác do Chủ tịch nước quyết định trong mỗi lần đặc xá;
đ) Đã thi hành xong hoặc thi hành được một phần nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi
thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác nhưng do lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc
biệt khó khăn thuộc trường hợp chưa có điều kiện thi hành tiếp phần còn lại theo
-- 5 of 20 --
CÔNG BÁO/Số 1133 + 1134/Ngày 22-12-2018 31
quy định của pháp luật về thi hành án dân sự đối với người bị kết án phạt tù không
thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản này.
Trường hợp phải thi hành nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ
dân sự khác đối với tài sản không thuộc sở hữu của Nhà nước thì phải được người
được thi hành án đồng ý hoãn thi hành án hoặc không yêu cầu thi hành án đối với
tài sản này;
e) Khi được đặc xá không làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự;
g) Không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 12 của Luật này.
2. Người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được đề nghị đặc xá
phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù
khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự trong thời gian
chấp hành án phạt tù trước khi có quyết định tạm đình chỉ;
b) Đã có thời gian chấp hành án phạt tù quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;
c) Các điều kiện quy định tại các điểm c, d, đ, e và g khoản 1 Điều này;
d) Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật trong thời gian được tạm đình chỉ chấp
hành án phạt tù.
3. Người có đủ các điều kiện quy định tại các điểm a, c, d, đ, e và g khoản 1,
các điểm a, c và d khoản 2 Điều này được Chủ tịch nước quyết định thời gian đã
chấp hành án phạt tù ngắn hơn so với thời gian quy định tại điểm b khoản 1 Điều
này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đã lập công lớn trong thời gian chấp hành án phạt tù, có xác nhận của trại
giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc cơ quan
có thẩm quyền khác;
b) Người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người
có công với cách mạng; người được tặng thưởng danh hiệu Dũng sĩ trong kháng
chiến chống Mỹ cứu nước; người được tặng thưởng danh hiệu “Anh hùng Lao
động”; người được tặng thưởng một trong các loại Huân chương, Huy chương
Kháng chiến; cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng liệt
sĩ khi còn nhỏ; con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng; cha, mẹ, vợ, chồng, con của
người có công giúp đỡ cách mạng được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công”
hoặc Bằng “Có công với nước”;
-- 6 of 20 --
32 CÔNG BÁO/Số 1133 + 1134/Ngày 22-12-2018
c) Người đang mắc bệnh hiểm nghèo, người đang ốm đau thường xuyên mà
không tự phục vụ bản thân;
d) Khi phạm tội là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp quy định tại khoản 4
Điều này;
đ) Người từ đủ 70 tuổi trở lên;
e) Có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và bản thân là lao động duy nhất
trong gia đình;
g) Phụ nữ có thai hoặc có con dưới 36 tháng tuổi đang ở với mẹ trong trại
giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ;
h) Người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định của pháp
luật về người khuyết tật; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo
quy định của pháp luật về dân sự;
i) Trường hợp khác do Chủ tịch nước quyết định.
4. Người dưới 18 tuổi đang chấp hành án phạt tù có đủ điều kiện quy định tại
điểm a và điểm g khoản 1 Điều này hoặc người dưới 18 tuổi đang được tạm đình
chỉ chấp hành án phạt tù có đủ điều kiện quy định tại điểm g khoản 1, điểm a và
điểm d khoản 2 Điều này được Chủ tịch nước quyết định thời gian đã chấp hành án
phạt tù ngắn hơn so với thời gian quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Chương II ĐẶC XÁ NHÂN SỰ KIỆN TRỌNG ĐẠI,
Điều 15. Trình tự, thủ tục lập hồ sơ, danh sách người đủ điều kiện được
đề nghị đặc xá
1. Ngay sau khi Quyết định về đặc xá được công bố, thông báo trên phương tiện
thông tin đại chúng, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp huyện phải niêm yết, phổ biến cho người đang chấp hành án phạt tù biết.
-- 9 of 20 --
CÔNG BÁO/Số 1133 + 1134/Ngày 22-12-2018 35
Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày Quyết định về đặc xá được niêm yết, phổ
biến, người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhưng đã được
giảm xuống tù có thời hạn căn cứ vào quy định tại Điều 11 và Điều 12 của Luật
này làm đơn đề nghị đặc xá.
2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Quyết định về đặc xá được niêm yết, phổ
biến, việc lập danh sách, hồ sơ của người đủ điều kiện được đề nghị đặc xá thực
hiện như sau:
a) Giám thị trại giam thuộc Bộ Công an lập danh sách, hồ sơ của người đủ điều
kiện được đề nghị đặc xá gửi Tổ thẩm định liên ngành;
b) Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Công an lập danh sách, hồ sơ của người đủ
điều kiện được đề nghị đặc xá, báo cáo Thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp để
gửi Tổ thẩm định liên ngành;
c) Giám thị trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp huyện lập danh sách, hồ sơ của người đủ điều kiện được đề
nghị đặc xá, báo cáo Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để
gửi Tổ thẩm định liên ngành;
d) Người bị kết án phạt tù đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam, cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện bị trích xuất để phục vụ điều tra, truy
tố, xét xử nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác,
nếu đủ điều kiện được đề nghị đặc xá thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm
giam hoặc Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện đang quản
lý hồ sơ gốc của người đó lập hồ sơ đề nghị đặc xá. Giám thị trại tạm giam, Thủ
trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận người bị trích xuất
nhưng không quản lý hồ sơ gốc có trách nhiệm phối hợp với cơ quan đang quản lý
hồ sơ gốc của người đó lập hồ sơ đề nghị đặc xá;
đ) Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng hoặc Thủ
trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập danh sách, hồ sơ của người
đủ điều kiện được đề nghị đặc xá, báo cáo Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án
hình sự Bộ Quốc phòng để gửi Tổ thẩm định liên ngành.
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Quyết định về đặc xá được công bố,
thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, Chánh án Tòa án nhân dân cấp
tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu đã ra quyết định tạm đình chỉ chấp
hành án phạt tù có trách nhiệm thông báo Quyết định về đặc xá cho người đang
-- 10 of 20 --
36 CÔNG BÁO/Số 1133 + 1134/Ngày 22-12-2018
được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, lập danh sách, hồ sơ của người đủ điều
kiện được đề nghị đặc xá gửi Tổ thẩm định liên ngành.
Trường hợp người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cư trú ở địa
phương ngoài phạm vi địa giới hành chính của Tòa án đã ra quyết định tạm đình
chỉ thì Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ thông báo cho Tòa án nhân dân cấp
huyện, Tòa án quân sự khu vực nơi người đang được tạm đình chỉ cư trú lập danh
sách, hồ sơ của người được đề nghị đặc xá, chuyển đến Tòa án đã ra quyết định
tạm đình chỉ để tổng hợp, gửi Tổ thẩm định liên ngành.
4. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Chánh án Tòa
án quân sự cấp quân khu có trách nhiệm thông báo, niêm yết công khai danh sách
người được đề nghị đặc xá.
5. Giám thị trại giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Thủ trưởng cơ quan
quản lý trực tiếp trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Thủ trưởng cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu,
Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu thông
báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền quy định tại Điều 30 của Luật
này về kết quả lập danh sách, hồ sơ của người được đề nghị đặc xá để kiểm sát
trước khi gửi Tổ thẩm định liên ngành.
6. Giám thị trại giam thuộc Bộ Công an, Thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp
trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng, Chánh
án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu căn cứ kết
quả thẩm định của Tổ thẩm định liên ngành lập danh sách, hồ sơ của người đủ điều
kiện được đề nghị đặc xá và danh sách, hồ sơ của người không đủ điều kiện đề
nghị đặc xá gửi Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá.
7. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, hướng dẫn thực hiện
Điều này.