CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcquyết định hoãn phiên tòa số 58/2026/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2026
sống ly hôn, anh chị cũng không có tới lui để tạo cơ hội hàn gắn, nay anh nhận
2
thấy tình cảm vợ chồng không còn với chị T, đời sống chung không thể kéo dài,
mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu ly hôn với chị Đỗ Thị Mỹ T.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, anh và chị T có 03 con chung
tên là Nguyễn Thị Trúc P, sinh ngày 20/7/2006; Nguyễn Phương H1, sinh ngày
02/10/2009; Nguyễn Trí Đ, sinh ngày 07/5/2021. Hiện nay cháu P đã trưởng thành
nên anh không yêu cầu giải quyết. Hiện nay cháu H1, cháu Đ đều đang do chị T
trực tiếp nuôi dưỡng nhưng anh yêu cầu nuôi cháu H1 và xin để cháu Đ cho chị T
trực tiếp nuôi. Anh không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con và anh cũng không tự
nguyện cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: không có.
* Trong suốt quá trình tố tụng và phiên tòa sơ thẩm, chị Đỗ Thị Mỹ T đều
vắng mặt, không gửi bản tự khai, văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu xin ly
hôn của anh Nguyễn Văn H.
uan đi m của đại diện Viện ki m sát:
- Về thủ tục tố tụng: ét thấy trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa,
Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng đúng quy định
tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư,
khách quan, độc lập khi xét xử. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ
của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp
hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Do đó, vụ án đưa ra xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 81, 82 Luật hôn nhân và gia
đình đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh
Nguyễn Văn H đối với chị Đỗ Thị Mỹ T. Về con chung: Đối với cháu Nguyễn Thị
Trúc P, sinh ngày 20/7/2006 đã trưởng thành nên đề nghị Hội đồng xét xử không
xem xét. Đề nghị Hội đồng xét xử để cháu H1, cháu Đ cho chị T tiếp tục trực tiếp
nuôi dưỡng. Chị T không có ý kiến hay yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên đề
nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.