CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcđưa vụ án ra xét xử số 127/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2026 giữa
2
anh và chị H có 01 người con chung tên Nguyễn Anh T1, sinh ngày 26/3/2022,
hiện cháu T1 đang sống cùng chị H. Về tài sản chung và nợ chung thì không có.
Anh T xác nhận vợ chồng chung sống thời gian đầu hạnh phúc, nhưng thời
gian sau vợ chồng thường xuyên bất hòa, đỉnh điểm là chị H nghe theo lời bên nhà
vợ nên vợ chồng thường xuyên cự cãi với nhau, anh H đã nói muốn lý hôn và chị
H đồng ý nhưng chị H cố tình không giao giấy chứng nhận kết hôn cho anh T để
nộp lên Tòa án, cố tình gây khó dễ và không cho anh T gặp con, vợ chồng đã ly
thân từ ngày 23/11/2023 cho đến nay, thời gian ly thân chị H đang quen người đàn
ông khác.
Nay anh T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân
không đạt được nên anh yêu cầu Toà án giải quyết như sau:
Về hôn nhân: Xin được ly hôn cùng chị H.
Về việc nuôi con chung: Anh T đồng ý giao con cho chị H trực tiếp nuôi
dưỡng và chăm sóc cho đến khi trưởng thành, anh T không đồng ý cấp dưỡng nuôi
con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Theo bản tự khai ngày 09/4/2025, bị đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị
H và anh T tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn do Ủy ban nhân
dân phường V, tỉnh Kiên Giang (cũ) vào ngày 28/4/2022. Chị H xác định không
còn tình cảm với anh T, mặc dù hai bên đã cố khắc phục nhưng không thành, hai
vợ chồng thường xuyên cự cãi, không có tiếng nói chung, cũng không còn quan
tâm, chăm sóc nhau nữa, không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng,
chị H và anh T ly thân khoảng 03 năm nay.
Nay thấy không thể tiếp tục chung sống hạnh phúc, đời sống chung không
thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung: chị và anh T có 01 người con chung tên Nguyễn Anh T1, sinh ngày
26/3/2022, chị H yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu T1 đến khi
trưởng thành và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ
chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa anh T và chị H vắng mặt.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.