CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcngày 15 tháng 04 năm 2026 giữa các đương sự:
Về con chung: Quá trình chung sống chúng tôi có 02 con chung tên: Lý
Hên, sinh ngày 07/01/2005 giới tính nam); Lý Tiểu L, sinh ngày 15/03/2009.
Cháu H đã khôn lớn không yêu cầu Tòa án giải quyết, Đối với cháu Lý Tiểu L
tôi đồng ý để anh N trực tiếp nuôi dưỡng, tôi không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Về nợ: Vợ chồngkhông nợ ai, không ai nợ chúng tôi. Không yêu cầu Tòa
án giải quyết.
Tại Biên bản hòa giải ngày 20/03/2026 bị đơn ông Lý Út N có ý kiến
trình bày:
Tôi thống nhất lời trình bày của vợ tôi bà Danh Thị Út T về quá trình hôn
nhân giữa tôi với bà chúng tôi sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Nay bà T
yêu cầu ly hôn, tôi đồng ý.
Về con chung: Trong quá trình sống chung, chúng tôi có 02 con chung
1/Lý Hên, sinh ngày 07/01/2005 (giới tính 2/Lý T, sinh ngày 15/03/2009 tính
Cháu H đã khôn lớn không yêu cầu Tòa án giải quyết, Đối với cháu Lý Tiểu L
tôi đồng ý nuôi dưỡng, tôi không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Về nợ: Vợ chồng không nợ ai, không ai nợ chúng tôi. Không yêu cầu Tòa
án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Tranh chấp giữa nguyên đơn
bà Danh Thị Út T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn, nuôi con chung với bị đơn ông
Lý Út N. Đây là tranh chấp việc ly hôn, nuôi con chung, được quy định tại
khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 vụ kiện này thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án.
[2] Về tố tụng: Bà T và ông N có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Tòa án xét
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.