CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc99/2026/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2026 về việc “Tranh chấp ly hôn”,
cầu ly hôn với bà Võ Hồng D.
Về con chung: Quá trình chung sống chúng tôi có 02 con chung tên: 1/
Lâm Thị Mỹ K, sinh ngày 14/6/2005; 2/ Lâm Thị Kiều T, sinh ngày 18/05/2007
hiện các con đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Về nợ: Vợ chồng không nợ ai, không ai nợ chúng tôi. Không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản hòa giải ngày 01/04/2026 bị đơn bà Võ Hồng D có ý kiến
trình bày:
Tôi thống nhất lời trình bày của ông Đ về quá trình hôn nhân giữa tôi với
ông Đ, chúng tôi sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Nay ông Đ yêu cầu ly
hôn, tôi đồng ý.
Về con chung: Trong quá trình sống chung, chúng tôi có 02 con chung 1/
Lâm Thị Mỹ K, sinh ngày 14/6/2005; 2/Lâm Thị Kiều Tiên, sinh ngày
18/05/2007 hiện các con đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Tranh chấp giữa nguyên đơn
ông Lâm Văn Đ khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với bị đơn bà Võ Hồng D. Đây là
tranh chấp việc ly hôn, được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân
sự 2015 vụ kiện này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[2]. Về hôn nhân: Ông Lâm Văn Đ và bà Võ Hồng D tự tìm hiểu yêu
thương nhau, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán của
địa phương và chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2002, nhưng không
có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên về mặt pháp lý ông Đ và bà D
không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Căn cứ khoản 2 Điều 53 Luật hôn
nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.