51; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
+ Xử phạt: Nguyễn Thị Trang 24 (Hai bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ
ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày
09/11/2024 đến ngày 09/01/2025. Phạt bổ sung bằng tiền đối với Nguyễn Thị
Trang 30.000.000 đồng.
+ Xử phạt: Nguyễn Thị Len 18 (Mười tám) tháng tù; Nguyễn Thị Cát 18
(Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù của các bị cáo tính từ ngày các bị cáo chấp hành
án. Phạt bổ sung bằng tiền đối với Nguyễn Thị Len 25.000.000 đồng, Nguyễn Thị
Cát 25.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 38; điểm e khoản 2 Điều 32;
khoản 2 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS
xử phạt Lê Thị Thu 21 (Hai mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp
hành án. Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Lê Thị Thu 20.000.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định về tội danh và hình phạt đối với
các bị cáo Phạm Hữu Công, Trần Thị Thảo, Trần Thị Hạnh, Lê Thị Hoa, Đặng
Đình Hoàng, Đặng Thị Hồng Thái, quyết định về biện pháp tư pháp, quyết định
về xử lý vật chứng, biện án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp
luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/6/2025 bị cáo Trần Thị Nga có đơn kháng
cáo giảm hình phạt;
-- 11 of 18 --
12
Ngày 26/6/2025, các bị cáo Nguyễn Thị Len, Lê Thị Thu có đơn kháng cáo
xin hưởng án treo.
Ngày 01/7/2025, các bị cáo Nguyễn Thị Trang, Nguyễn Thị Cát có đơn
kháng cáo giảm hình phạt và hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Các bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án
sơ thẩm quy kết. Các bị cáo trình bày xem xét hoàn cảnh gia đình khó khăn, con
nhỏ, lao động chính và đề nghị giảm nhẹ hình phạt. Ngoài ra, các bị cáo Trần Thị
Nga, Nguyễn Thị Trang, Lê Thị Thu giữ nguyên nội dung đã kháng cáo; Bị cáo
Nguyễn Thị Len và bị cáo Nguyễn Thị Cát thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị
hình phạt chính là phạt tiền.
Luật sư bào chữa cho các bị cáo Trang, Len và Cát trình bày: Xem xét điều
kiện hoàn cảnh gia đình, nhân thân, vai trò của các bị cáo, đề nghị xử cho bị cáo
Nguyễn Thị Trang được cải tạo tại địa phương, bị cáo Nguyễn Thị Len và bị cáo
Nguyễn Thị Cát chuyển sang hình phạt chính là phạt tiền.
Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia
phiên tòa có quan điểm: Tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ kết quả điều tra, lời khai
nhận của các bị cáo, các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để xác
định Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Thị Nga về tội “Tổ chức đánh bạc”
theo điểm d khoản 2 Điều 322; Nguyễn Thị Trang, Nguyễn Thị Len, Nguyễn Thị
Cát về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 322; bị cáo Lê Thị
Thu phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là
đúng pháp luật. Sau khi phân tích, đánh giá hành vi phạm tội của các bị cáo có
kháng cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết
giảm nhẹ mới tại phiên tòa phúc thẩm, đề nghị: áp dụng Điều 355, 357 Bộ luật Tố
tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, cụ thể: Giảm cho bị cáo Nga
và bị cáo Trang mỗi bị cáo từ 03 tháng đến 06 tháng tù; Bị cáo Len và bị cáo Cát
chuyển hình phạt chính sang hình phạt chính là tiền, phạt mỗi bị cáo từ 100 triệu
đồng đến 200 triệu đồng; Bị cáo Thu giữ nguyên hình phạt nhưng cho hưởng án
treo, ấn định thời gian thử thách theo pháp luật.
Căn cứ các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết
quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, quan điểm đề
nghị của Kiểm sát viên, trình bày các bị cáo, ý kiến của Luật sư.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, cấp sơ
thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo có đơn kháng cáo trong hạn luật định
-- 12 of 18 --
13
theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên kháng
cáo của bị cáo là hợp pháp, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận toàn
bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm quy kết. Lời khai nhận của các
bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ, do đó
đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 27/10/2024 đến ngày 07/11/2024, tại địa bàn thành
phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, các bị cáo Trần Thị Nga, Nguyễn Thị Trang, Nguyễn
Thị Len, Nguyễn Thị Cát, Lê Thị Thu đã thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc, đánh
bạc được thua bằng tiền bằng hình thức đánh số lô, đề, cụ thể: Trần Thị Nga đã
04 lần nhận bảng số lô, đề của Nguyễn Thị Trang, Nguyễn Thị Len (thư ký) với
tổng số tiền đánh bạc là 164.570.000 đồng (trong đó có 03 lần trên 20.000.000
đồng với tổng số tiền 143.450.000 đồng), thu lợi 20.819.000 đồng. Nguyễn Thị
Trang đã 01 lần làm chủ đề nhận bảng số lô, đề của Lê Thị Hoa, Trần Thị Thảo
(thư ký) để đánh bạc với người chơi và trực tiếp 02 lần ghi số lô, đề của người
chơi qua đường (không rõ thông tin, địa chỉ) rồi chuyển cho Nguyễn Thị Cát, Trần
Thị Nga với tổng số tiền đánh bạc là 176.070.000 đồng, thu lợi 5.141.500 đồng.
Nguyễn Thị Len có 04 lần nhận ghi số lô, đề của Lê Thị Thu (người chơi) rồi
chuyển cho Trần Thị Nga với tổng số tiền đánh bạc là 103.740.000 đồng (có 03
lần trên 20.000.000 đồng với tổng số tiền 82.584.000 đồng), thu lợi 257.000 đồng.
Nguyễn Thị Cát đã 02 lần nhận bảng số lô, đề của Nguyễn Thị Trang (thư ký) và
nhận ghi lô, đề của người qua đường (không rõ thông tin, địa chỉ) rồi chuyển cho
người có tài khoản Telegram tên “A” (không rõ thông tin, địa chỉ) với tổng số tiền
đánh bạc là 89.390.000 đồng, thu lợi 522.000 đồng. Lê Thị Thu đánh bạc 04 lần
với tổng số tiền là 122.602.000 đồng (không có lần nào từ 50.000.000 đồng trở
lên), thu lợi 40.000 đồng. Bởi hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị
cáo Trần Thị Nga về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm d khoản 2 Điều 322;
Nguyễn Thị Trang, Nguyễn Thị Len, Nguyễn Thị Cát về tội “Tổ chức đánh bạc”
theo quy định tại khoản 1 Điều 322; bị cáo Lê Thị Thu phạm tội “Đánh bạc” theo
quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
[3.1] Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn, khi quyết định hình phạt Tòa án
cấp sơ thẩm căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, theo
đó: bị cáo Trần Thị Nga giữ vai trò chính (là chủ đề) trong việc thực hiện hành vi
tổ chức đánh bạc với người chơi, thông qua các thư ký đề của mình; bị cáo Nguyễn
Thị Trang vừa thực hiện vai trò chính (chủ đề) trong hành vi tổ chức đánh bạc,
vừa đồng phạm tổ chức đánh bạc với Trần Thị Nga, Nguyễn Thị Cát; bị cáo
Nguyễn Thị Cát, bị cáo Nguyễn Thị Len là người đồng phạm tổ chức đánh bạc
(thư ký đề); bị cáo Lê Thị Thu là người thực hiện hành vi đánh bạc độc lập, nên
-- 13 of 18 --
14
phải chịu trách nhiệm đối với số tiền tham gia đánh bạc. Các bị cáo “Phạm tội 02
lần trở lên”, nên phải chịu tình tiết tăng nặng tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật
Hình sự. Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân,
tình tiết tăng nặng, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét quá trình điều tra, truy tố và
xét xử, các bị cáo tự nguyện ra “đầu thú" và khai nhận hanh vi phạm tội, tự nguyện
nộp khoản thu lợi bất chính, bị cáo Trang và bị cáo Len gia đình có công với cách
mạng, nên được hưởng tình tiết tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình
sự, giảm nhẹ một phần và xử phạt các bị cáo là có căn cứ.
[3.2] Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo thành khẩn và ăn năn hối cải, trình bày
điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, các bị cáo đều là lao động chính, con nhỏ
đang trong độ tuổi đi học rất cần được sự chăm sóc của người mẹ, bố mẹ già yếu
cần được chăm sóc...Ngoài ra, bị cáo Lê Thị Thu xuất trình đơn xác nhận hoàn
cảnh gia đình khó khăn, phụ nữ đơn thân, nuôi dưỡng con nhỏ sinh năm 2020 bị
bệnh tự kỷ, chậm phát triển thường xuyên phải điều trị; ông bà nội ngoại có công
với cách mạng được tặng Huân chương, Kỷ Niệm chương; Biên lai thu thể hiện
đã nộp toàn bộ tiền phạt bổ sung, tiền truy thu. Bị cáo Trần Thị Nga hiện có 04
con nhỏ cần được chăm sóc, bố mẹ đẻ đều đã chết, chồng không có việc làm. Bị
cáo Nguyễn Thị Trang có con lớn bị trầm cảm khi biết bị cáo phạm tội và cần điều
trị, con nhỏ sinh năm 2014 cần được chăm sóc, Biên lai thu thể hiện nộp tiền phạt
30 triệu đồng của bản án sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Thị Len có 02 con nhỏ (con lớn
sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2022), bố đẻ được tặng nhiều Huân, Huy
chương và Bằng khen. Bị cáo Nguyễn Thị Cát có 03 con (con lớn sinh năm 2017,
con nhỏ sinh năm 2021), bố mẹ đẻ đều đã chết, chồng không có việc làm...đây là
những tình tiết giảm nhẹ mới theo Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cấp phúc
thẩm áp dụng cho các bị cáo.
[3.3] Xét thấy, trong vụ án này, bị cáo Trần Thị Nga giữ vai trò chính là
chủ đề thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc với người chơi thông qua các thư ký
đề, có nhân thân xấu, bị áp dụng tình tiết tăng nặng định khung tái phạm nguy
hiểm, việc cấp sơ thẩm xử phạt tù là cần thiết. Tuy nhiên, do bị cáo được hưởng
thêm tình tiết giảm nhẹ mới, nên có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt đối với
bị cáo. Đối với bị cáo Nguyễn Thị Trang tham gia với vai trò là chủ đề nhận bảng
số lô, đề của Trần Thị Thảo và Lê Thị Hoa để đánh bạc với người chơi, đồng
phạm tổ chức đánh bạc với các bị cáo khác, xét tính chất hành vi và vai trò, nên
việc cấp sơ thẩm xử phạt tù là cần thiết. Tuy nhiên, xét số tiền hưởng lợi không
lớn đã được bị cáo tích cực nộp lại trước khi xét xử sơ thẩm, nộp toàn bộ tiền phạt
bổ sung theo quyết định của bản án sơ thẩm, thể hiện sự ăn năn hối cải và ý thức
chấp hành pháp luật, hoàn cảnh gia đình khó khăn, được hưởng tình tiết giảm nhẹ
mới tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có căn cứ giảm một phần hình phạt cho
bị cáo. Đối với các bị cáo Nguyễn Thị Len, Nguyễn Thị Cát tham gia vụ án với
-- 14 of 18 --
15
vai trò đồng phạm giúp sức; Lê Thị Thu tham gia đánh bạc nhiều lần nhưng đều
thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Số tiền hưởng lợi không đáng kể, bị cáo Len,
Cát được hưởng lợi từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng, bị cáo Thu hưởng lợi
40.000 đồng; Bị cáo Nguyễn Thị Len có nhân thân tốt; Các bị cáo là phụ nữ có
hoàn cảnh gia đình khó khăn và là lao động chính, phải nuôi con nhỏ đang tuổi đi
học, bị cáo Lê Thị Thu là mẹ đơn thân có con sinh năm 2020 bị mắc bệnh tự kỷ,
rất cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ; Các bị cáo Nguyễn Thị Len, Lê Thị
Thu sinh ra trong gia đình có công...đều được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ mới
quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, trên cơ sở tính chất hành
vi, vai trò phạm tội trong vụ án, có căn cứ áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật
Hình sự cho bị cáo Lê Thị Thu được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương dưới
sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương; các bị cáo Nguyễn
Thị Len, Nguyễn Thị Cát được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự, đồng phạm giúp sức, tội phạm mà các bị cáo thực hiện bị xét xử theo Khoản
1 Điều 322 Bộ luật Hình sự quy định hình phạt chính đối với tội này là phạt tiền
hoặc phạt tù, các bị cáo xuất trình thẻ tiết kiệm có số dư 100 triệu đồng và 150
triệu đồng, đủ điều kiện để chấp hành hình phạt chính là phạt tiền, có cơ sở chấp
nhận kháng cáo và sửa quyết định về hình phạt, áp dụng hình phạt chính là phạt
tiền đối với các bị cáo Nguyễn Thị Len, Nguyễn Thị Cát tạo điều kiện cho bị cáo
sửa chữa lỗi lầm, tiếp tục được làm việc có ích cho xã hội, thể hiện sự khoan hồng
và nhân đạo của pháp luật. Do bị cáo Nguyễn Thị Len, Nguyễn Thị Cát được áp
dụng hình phạt chính là phạt tiền, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt
tiền đối với hai bị cáo.
[4] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện công tố và xét xử phúc thẩm tại
Hà Nội có căn cứ, được chấp nhận.
[5] Về án phí: Các bị cáo Trần Thị Nga, Nguyễn Thị Trang, Nguyễn Thị
Len, Nguyễn Thị Cát, Lê Thị Thu kháng cáo được chấp nhận, nên không phải
chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a, c, đ, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật
Tố tụng hình sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ
ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Thị Nga, bị cáo Nguyễn Thị
Len, bị cáo Nguyễn Thị Cát và bị cáo Lê Thị Thu. Chấp nhận một phần kháng cáo
của bị cáo Nguyễn Thị Trang.
-- 15 of 18 --
16
2. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2025/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm
2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, cụ thể như sau:
2.1. Áp dụng điểm d khoản 2, khoản 3 Điều 322; Điều 38; điểm e khoản 2