CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcTây Ninh (vắng mặt).
kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị N yêu cầu Tòa án giải
quyết:
Về hôn nhân: Chị N yêu cầu ly hôn với anh P.
Về con chung: Chị N yêu cầu được nuôi con chung là Nguyễn Ngọc Như
Ý, sinh ngày 24/4/2024, không yêu cầu anh P cấp dưỡng.
Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết
Bị đơn anh Nguyễn Văn P đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ
án, các văn bản tố tụng có liên quan đến vụ án mà anh P không có văn bản nêu ý
kiến qua yêu cầu khởi kiện của chị N.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng các đương sự không tiến hành hòa giải
được về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên quyết định đưa vụ án ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Căn cứ vào nơi cư trú của bị đơn và yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên
đơn đối với bị đơn, xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân
dân khu vực 7- Tây Ninh được pháp luật quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a
Khoản 1 của các Điều 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Luật số
85/2025/QH15 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự,
Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và
Luật hòa giải, đối thoại tại tòa án;
Chị N có văn bản xin giải quyết vắng mặt, anh P vắng mặt dù đã được
Tòa án triệu tập hợp lệ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ
luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt chị N, anh P.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 102 ngày 24/10/2023 do Ủy ban
nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Long An cấp thì chị N và anh P là vợ chồng hợp
pháp.
[2.2] Chị Đỗ Thị Huỳnh N và anh Nguyễn Văn P có đăng ký kết hôn. Hôn
nhân dựa trên sự tự nguyện. Nguyên nhân chị N xin ly hôn là do vợ chồng có
nhiều mâu thuẫn trầm trọng, không hợp về tình cảm. Theo chị N trình bày anh P
có công việc không ổn định, thường xuyên gây nợ, không quan tâm gia đình và
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.