Mục lục - 3 điều ▼
Điều 32. Luật Tố tụng hành chính; Điều 73 Luật Đất đai năm 1993; điểm d khoản 2
Điều 106. Luật Đất đai năm 2013; Điều 133; điểm d khoản 2, khoản 3 Điều 152 của
Luật Đất đai năm 2024; Điều 634; Điều 650; Điều 652; Điều 653; Điều 656; Điều
667 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 628; Điều 630; Điều 634; Điều 649; Điều 650;
Điều 651. Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 12; Điều 26 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về án phí, lệ phí Tòa án; xử:
1. Đình chỉ yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Bạch Ngọc Đ đối với quyền
sử dụng thửa đất 621, tờ bản đồ số 31, diện tích 384m2 đã được Ủy ban nhân dân
huyện Y, tỉnh Bắc Giang cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q389827
-- 9 of 16 --
10
ngày 08/11/1999 cho cụ Phạm Thị L4 nằm trong tổng diện tích đất 567.6m2 do bà
Bạch Thị L đang quản lý sử dụng và quyền sử dụng thửa đất 110, tờ bản đồ số 27,
diện tích 1.201m2 (có diện tích theo đo đạc thực tế là 1.093,4m2) đều có địa chỉ tại
thôn T, xã Y, tỉnh Bắc Ninh.
2. Đình chỉ yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Bạch Thị L đối với thửa đất
số 104, tờ bản đồ 27, diện tích đất 161m2 do UBND huyện Y, tỉnh Bắc Giang cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định số 1375 ngày 24/11/2011 cho
ông Bạch Ngọc Đ.
3. Tuyên bố bản di chúc đề ngày 01/8/2014 của cụ Phạm Thị L4 vô hiệu.
4. Hủy một phần Quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
399/QĐ-UB ngày 20/12/2001 của Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang cấp
cho bà Bạch Thị L đối với thửa đất 110, tờ bản đồ số 27, diện tích 1.201m2 (có
diện tích theo đo đạc thực tế là 1.093,4m2) có địa chỉ tại tổ dân phố T, thị trấn P,
huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn T, xã Y, tỉnh Bắc Ninh).
5. Việc đăng ký biến động quyền sử dụng đất từ bà Bạch Thị L sang ông
Bạch Quang H1 được UBND huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
BG 246175 ngày 30/11/2011 cho ông Bạch Quang H1 đối với thửa đất số 110, tờ
bản đồ số 27, diện tích 1.201m2 (có diện tích theo đo đạc thực tế là 1093,4m2) có
địa chỉ tại tổ dân phố T, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, nay là thôn T, xã Y,
tỉnh Bắc Ninh cần bị huỷ.
6. Xác định thửa đất 621, tờ bản đồ số 31, diện tích 384m2 đất nông nghiệp
đã được Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số Q389827 ngày 08/11/1999 cho cụ Phạm Thị L4 nằm trong tổng diện
tích đất 567.6m2 do bà L đang quản lý sử dụng và thửa đất 110, tờ bản đồ số 27,
diện tích 1.201m2 (có diện tích theo đo đạc thực tế là 1.093,4m2) đều có địa chỉ tại
thôn T, xã Y, tỉnh Bắc Ninh là di sản thừa kế do cụ Phạm Thị L4 để lại (có sơ đồ
hiện trạng kèm theo bản án).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, thông báo quyền kháng cáo theo quy định của
pháp luật.
Ngày 17/9/2025, bị đơn bà Bạch Thị L kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số
32/2025/DS-ST, ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng:
- Xác định thửa đất số 621, tờ Bản đồ 31, diện tích 567,6m2, trong đó có định
suất (3 suất) của gia đình bà L (bà L, anh H7, anh M2) là 283,8m2 (là ½).
- Xác định thửa đất số 110, tờ Bản đồ 27, diện tích 1.201m2 (Đo thực tế
1.093,4m2) không phải di sản của bà Phạm Thị L4, mà của bà L khai phá. Bà L đã
-- 10 of 16 --
11
sang tên cho Bạch Quang H1 và ông H1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất hợp pháp.
- Công nhận di chúc của bà Phạm Thị L4 ngày 01/8/2014 hợp pháp.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Bị đơn bà Bạch Thị L có ý kiến: Rút kháng cáo đối với thửa đất số 621, tờ
Bản đồ 31, diện tích 567,6m2. Giữ nguyên kháng cáo đối với thửa đất số 110, tờ
Bản đồ 27, diện tích 1.201m2 (Đo thực tế 1.093,4m2) không phải di sản của bà
Phạm Thị L4, mà của bà L khai phá. Bà L đã sang tên cho ông Bạch Quang H1 và
ông H1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp.
Công nhận di chúc của bà Phạm Thị L4 ngày 01/8/2014 hợp pháp.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nguyên đơn không đồng ý yêu cầu kháng cáo của Bị đơn.
Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho Bị đơn có ý kiến: Bà L4 đã cho
bà L thửa đất số 110, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho
bà L. Trong hộ gia đình khi đó có 05 khẩu. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất bà L có Đơn kê khai, không phải như bản án sơ thẩm nhận định. Di chúc
năm 1996 có nội dung đề cập đến hai thửa đất đang tranh chấp. Di chúc năm 2014
có đề cập đến hai thửa đất mà cụ L4 không đề cập đến thửa đất 110 nữa. Đề nghị
sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Xác định
thửa đất 110 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà L và Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cấp cho ông H1 là đúng quy định. Di chúc năm 2014 là hợp pháp.
Bà L đồng ý với ý kiến Luật sư.
Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn có ý kiến: Bị đơn
rút một phần kháng cáo đối với thửa đất số 621 đề nghị đình chỉ giải quyết phúc
thẩm.
Đối với thửa đất số 110 Bản án sơ thẩm đã đánh giá đầy đủ, có căn cứ. Thửa
đất có nguồn gốc đứng tên cụ L4. Di chúc ngày 01/8/2014 vô hiệu như Bản án sơ
thẩm xác định là đúng. Đề nghị bác đơn kháng cáo của Bị đơn, giữ nguyên bản án
sơ thẩm.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội trình bày
quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên toà,
Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đảm bảo đúng theo quy định của Bộ
luật Tố tụng dân sự;
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật
Tố tụng dân sự; chấp nhận một phần kháng cáo của bà L, hủy bản án sơ thẩm để
giải quyết lại vụ án.
-- 11 of 16 --
12
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua các tài liệu của vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả
tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
[1] Đơn kháng cáo của bị đơn Bạch Thị L ngày 17/9/2025 (bà L vắng mặt tại
phiên tòa sơ thẩm, nhận Bản án sơ thẩm ngày 12/9/2025) đảm bảo thời hạn, hình
thức, nội dung và đã nộp tạm ứng án phí theo quy định. Do vậy, kháng cáo hợp lệ
được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm đã được triệu
tập hợp lệ lần thứ hai, có đương sự vắng mặt không có lý do và không có kháng
cáo, có đương sự đã đề nghị xét xử vắng mặt hoặc đã có mặt người đại diện theo
ủy quyền có mặt. Do vậy, căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng
xét xử xét xử vắng mặt họ.
* Về nội dung:
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn bà Bạch Thị L rút một phần kháng cáo
liên quan đến thửa đất số 621, không yêu cầu xác định thửa đất số 621, tờ Bản đồ
31, diện tích 567,6m2, trong đó có định suất (3 suất) của gia đình bà L (bà L, anh
H7, anh M2) là 283,8m2 (bằng ½) nữa, nhưng vẫn yêu cầu công nhận di chúc của
bà Phạm Thị L4 ngày 01/8/2014 hợp pháp, thực chất là thay đổi nội dung kháng
cáo;
[4] Bà Bạch Thị L giữ nguyên kháng cáo yêu cầu xác định thửa đất số 110,
tờ Bản đồ 27, diện tích 1.201m2 (Đo thực tế 1.093,4m2) không phải di sản của bà
Phạm Thị L4, mà thửa đất này là của bà L khai phá. Bà L đã sang tên cho ông
Bạch Quang H1 và ông H1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp
pháp.
[5] Xét nội dung kháng cáo của bà Bạch Thị L, Hội đồng xét xử xét thấy:
[6] Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng: Qua xem xét
hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng các
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, cụ thể:
[7] Vi phạm nguyên tắc xét xử kịp thời và thời hạn tạm ngừng phiên tòa: Tòa
án cấp sơ thẩm đã nhiều lần hoãn phiên tòa (02 lần) và ngừng phiên tòa (04 lần) để
thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ, công khai tài liệu nhưng việc thu thập thiếu cẩn
trọng, làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án, vi phạm Điều 15 Bộ luật Tố tụng dân
sự. Đặc biệt, có lần ngừng phiên tòa quá 30 ngày (Phiên tòa ngừng ngày 21/4/2025
đến ngày 04/7/2025 mở lại) nhưng không ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ
án là vi phạm Điều 259 Bộ luật Tố tụng dân sự.
-- 12 of 16 --
13
[8] Vi phạm về thành phần Hội đồng xét xử: Trong quá trình sau khi có
quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm liên tục thay đổi Hội thẩm
nhân dân trong quá trình ngừng phiên tòa và việc thay đổi hội thẩm nhân dân mà
không có quyết định thay đổi bằng văn bản, những Hội thẩm mới thay đổi không
được dự phiên tòa từ đầu là vi phạm khoản 2 Điều 56 và Điều 226 Bộ luật Tố tụng
dân sự, cụ thể:
[9] Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử, phiên tòa được mở ngày
21/01/2025 (Hoãn). Mở lại ngày 21/02/2025, tiếp tục hoãn, lý do Bị đơn và những
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Hội thẩm nhân dân tham gia là bà
Nguyễn Thị P và ông Trần Đức K2.
[10] Phiên tòa mở lại ngày 21/3/2023, Hội thẩm nhân dân là ông Nguyễn
Văn T11 và bà Nguyễn Thị P (Ngừng phiên tòa để định giá tài sản, đưa thêm
người tham gi tố tụng). Mở lại phiên tòa ngày 21/4/2025, Hội thẩm nhân dân là
ông Nguyễn Văn T11 và bà Nguyễn Thị P.
[11] Tại phiên tòa mở lại ngày 04/7/2025, thay đổi Hội thẩm nhân dân là
ông Nguyễn Văn T12 thay cho bà Nguyễn Thị P (Phiên tòa ngày 04/7/2025 lại tiếp
tục ngừng). Phiên tòa mở lại ngày 28/7/2025, Hội thẩm nhân dân là ông Nguyễn
Văn T12 và ông Nguyễn Văn T11 (Ngừng phiên tòa để thu thập tài liệu, chứng
cứ), lại có sự thay đổi Hội thẩm nhân dân.
[12] Ngoài ra, việc thay đổi Thư ký nhiều lần trong quá trình ngừng phiên
tòa mà không có quyết định thay đổi cũng là vi phạm tố tụng.
[13] Sai lệch thông tin người tiến hành tố tụng: Nghiêm trọng hơn, Phiên tòa
mở lại ngày 21, 22/8/2025, Hội thẩm nhân dân theo Biên bản phiên tòa là ông
Nguyễn Văn T12 và ông Nguyễn Hồng P1. Theo Biên bản nghị án và Bản án là
ông Hoàng Văn T13 và ông Nguyễn Văn T12. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương
sự không xác định được hội thẩm nhân dân là ông Nguyễn Hồng P1 hay ông
Nguyễn Văn T14 tiến hành tố tụng. Như vậy, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố
tụng, không phản ánh chính xác người tiến hành tố tụng được ghi nhận tại Biên
bản phiên tòa theo Điều 236 của Bộ luật Tố tụng dân sự, ảnh hưởng trực tiếp đến
quyết định của bản án.
[14] Về nội dung, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ để
giải quyết vụ án, cụ thể: Nguyên đơn yêu cầu xác định di sản thừa kế là thửa đất số
621 có diện tích 384m2, nằm chung trong tổng diện tích đo đạc thực tế là 567,6m2.
Theo hồ sơ thể hiện 567,6m2 là bao gồm hai thửa (Thửa 621 có diện tích 384m2
được cấp GCNQS đất cho cụ bà Bạch Thị L6, Thửa 622 diện tích 161m2 được cấp
GCN cho ông Ngô Văn L3 (chồng bà Bạch Thị L). Tổng diện tích theo giấy chứng
nhận được cấp là 545m2, ít hơn diện tích đo thực tế. Tuy nhiên, hồ sơ không thể
hiện vị trí, diện tích hai thửa đất và Quyết định của Bản án sơ thẩm không xác định
-- 13 of 16 --
14
vị trí thửa 621 có diện tích 384m2 là di sản thừa kế của cụ L6, do vậy, dẫn đến khó
khăn khi thi hành án.
[15] Tòa án cấp sơ thẩm chưa đánh giá toàn diện chứng cứ: Đối với thửa
đất số 110, tờ bản đồ 27, diện tích 1.201m2. Bản án nhận định thửa đất có nguồn
gốc của cụ L6 nhưng có Bản di chúc ngày 09/8/1996 có xác nhận của UBND xã,
cán bộ địa chính xã và trưởng thôn, có nội dung cụ L6 giao thửa đất số 110 cho bà
Bạch Thị N nhưng chưa được Bản án sơ thẩm xem xét, đánh giá về tính hợp pháp
của bản di chúc này. Trong khi bị đơn yêu cầu xác định thửa đất do Bị đơn khai
phá, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển nhượng cho ông
Bạch Quang H1 và ông H1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do
vậy, khi giải quyết đối với thửa đất số 110 cũng cần xem xét Bản di chúc ngày
09/8/1996.
[16] Từ các căn cứ và nhận định nêu trên, xét thấy Bản án sơ thẩm có vi
phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, tài liệu chứng cứ chưa đảm bảo giải quyết vụ
án. Do vậy, đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm đề nghị căn cứ
khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại
vụ án là có căn cứ. Xét thấy có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn
bà Bạch Thị L.
[17] Án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác được xác định lại khi Tòa án
cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
[18] Án phí phúc thẩm: Bà Bạch thị L không phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm, được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: Khoản 3 Điều 308; khoản 3 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Bạch Thị L; Hủy Bản án
dân sự thẩm số 32/2025/DS-ST, ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân
tỉnh Bắc Ninh; Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh giải quyết lại
sơ thẩm theo thủ sơ thẩm.
2. Án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác được xác định lại khi
giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
3. Án phí phúc thẩm: Bà Bạch Thị L không phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm, được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000đ (Ba trăm
-- 14 of 16 --
15
nghìn đồng) theo Biên lai số 0001859 ngày 16/10/2025 của Thi hành án dân sự
tỉnh Bắc Ninh.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSNDCC tại Hà Nội;
- TAND tỉnh Bắc Ninh (Kèm theo hồ sơ
vụ án);
- VKSND tỉnh Bắc Ninh;
- THADS tỉnh Bắc Ninh;
- Các đương sự (theo địa chỉ).
- Lưu HS, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Ngọc Hoa
-- 15 of 16 --
16
-- 16 of 16 --