Mục lục - 3 điều ▼
Điều 35. ; điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật
số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án có hiệu lực từ
ngày 01/7/2025 thì quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp về thừa kế tài
sản; yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, vụ án thuộc thẩm quyền
của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn và
một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn kháng cáo. Xét kháng cáo
của các đương sự là trong thời hạn quy định của pháp luật, nên Tòa án nhân
dân thành phố Hải Phòng xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên toà người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã K, thành phố Hải
Phòng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Phạm Văn B1 vắng mặt
nhưng có người đại diện theo ủy quyền là Bà Phạm Thị T có mặt. Căn cứ Điều
296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các
đương sự nêu trên.
- Về nội dung:
[3] Xét kháng cáo của ông Phạm Văn B và ông Phạm Văn Đ:
[3.1] Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp: Nguyên đơn bà Phạm Thị T
và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn B1, bà Phạm Thị L
thống nhất trình bày nguồn gốc đất yêu cầu chia thừa kế là của bố mẹ (cụ H, cụ
T1) để lại. Bị đơn là ông Phạm Văn B và những người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan còn lại cho rằng nguồn gốc đất là tài sản chung của dòng họ P1.
[3.2] Theo sổ sách quản lý đất đai tại chính quyền địa phương thể hiện:
Sau ngày 18/12/1980, khi địa phương thực hiện kê khai đăng ký theo Chỉ thị
299/TTg của Thủ tướng Chính phủ, thửa đất này được kê khai đăng ký do hộ
cụ Phạm Văn H quản lý, sử dụng với diện tích đất thổ cư 1.165,0 m2. Theo Sổ
Mục kê do UBND xã quản lý thể hiện diện tích đất thổ cư 769 m2 trong 1.156
m2 đứng tên cụ Phạm Văn H. Cụ H có vợ là cụ Nguyễn Thị T1 sử dụng đất ổn
định không có tranh chấp. Trong quá trình sử dụng đất, vợ chồng cụ H tặng cho
-- 9 of 15 --
vợ chồng ông B1 (con trai) một phần đất trong tổng diện tích đất này, phần diện
tích đất còn lại vợ chồng cụ H tiếp tục quản lý, sử dụng. Năm 1996, vợ chồng
ông B1 chuyển nhượng toàn bộ phần đất đã được vợ chồng cụ H tặng cho cho
ông Hoàng Văn H2 và bà Phạm Thị V. Năm 2006 vợ chồng ông H2 được cấp
GCNQSD đất. Năm 2005, hộ cụ H, vợ là cụ T1 được UBND huyện K cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 778,0 m2 đất ở tại thửa đất số 516-1.
Cũng thời điểm này UBND huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho Nhà thờ họ P1, diện tích 317,0 m2 đất ở tại thửa đất số 516-2. Như vậy, có
đủ cơ sở xác định diện tích đất tranh chấp 778,0 m2 là tài sản hợp pháp của cụ
H và cụ T1. Ông B và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác cho
rằng nguồn gốc đất là của dòng họ P1, song không có tài liệu chứng cứ thể hiện
diện tích đất đứng tên dòng họ P1.
[3.3] Về diện và hàng thừa kế: Toà án cấp sơ thẩm đã xác định diện và
hàng thừa kế đúng theo quy định của pháp luật. Hai cụ có 07 người con, song
ông Phạm Duy H3, bà Phạm Thị S đã mất từ lâu, chưa có vợ, chồng, con. Do
đó những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất củ hai cụ gồm: Ông Phạm Văn B;
ông Phạm Văn B1; bà Phạm Thị L, bà Phạm Thị P và bà Phạm Thị T.
[3.4] Về cách thức phân chia di sản: Tại cấp sơ thẩm, bà P có quan điểm
từ chối nhận di sản. Như vậy, di sản của hai cụ chia đều cho 04 người con là
ông B, ông B1, bà L, bà T. Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét tính công sức cho
ông B và vợ là bà H1 là những người có công sức gìn giữ, tôn tạo, quản lý tài
sản, thờ cúng các cụ, được hưởng chung 01 suất bằng suất của mỗi thừa kế là
phù hợp. Xét thấy, diện tích đất đủ điều kiện phân chia bằng hiện vật và Toà án
cấp sơ thẩm căn cứ vào hiện trạng diện tích đất tranh chấp; công trình, vật kiến
trúc trên đất căn cứ vào việc thực tế ăn ở sinh sống của người thuộc hàng thừa
kế trên diện tích đất; đảm bảo việc sử dụng công trình vật kiến trúc trên đất để
phân chia diện tích đất là phù hợp, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các
đương sự.
[3.5] Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà T về chia di
sản của hai cụ đối với diện tích 769,0 m2 đất ở (đo thực tế) là có căn cứ, nên
không có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Phạm Văn
B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Đ.
[4] Xét nội dung kháng cáo về yêu cầu hủy 02 Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đứng tên hộ cụ Phạm Văn H, vợ Phạm Thị P2 (tên đúng là Nguyễn
Thị P3) và Nhà thờ họ P1: Tại thời điểm làm thủ tục cấp 02 GCNQSDĐ thì cụ
H và cụ T1 còn sống. Việc cấp 02 GCNQSDĐ nêu trên đúng trình tự, đảm bảo
theo quy định của pháp luật. Khi hai cụ chết, không để lại di chúc, chưa thống
nhất phân chia cho ai thì thửa đất cấp cho vợ chồng cụ H mà nay bà T yêu cầu
chia thừa kế thì tài sản đó thuộc quyền sử dụng chung của các con của hai cụ.
Tòa án cấp sơ thẩm không hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà
UBND huyện K đã cấp cho 02 thửa đất là đúng quy định pháp luật. Các đương
sự được phân chia đất có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm
-- 10 of 15 --
quyền để tách thửa đối với phần diện tích đất được phân chia theo quy định của
pháp luật.
[5] Xét kháng cáo của bà Phạm Thị P: Bà P yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm
sửa bản án sơ thẩm theo hướng cho bà được hưởng phần di sản thừa kế của cụ
H, cụ T1 để lại theo quy định pháp luật. Tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm bà P
từ chối nhận di sản, việc bà P từ chối nhận di sản là hoàn toàn tự nguyện, không
bị ai ép buộc. Căn cứ quy định tại Điều 620 của Bộ luật dân sự, Tòa án cấp sơ
thẩm không phân chia di sản cho bà P là đúng theo ý chí của bà. Do đó không
có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của bà Phạm Thị P.
[6] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn
cứ chấp nhận các nội dung kháng cáo của bị đơn là ông Phạm Văn B, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị P và ông Phạm Văn Đ. Căn cứ
khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm
số 19/2025/DS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6
- Hải Phòng.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Văn B, bà Phạm Thị P, ông
Phạm Văn Đ được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận
kháng cáo của bị đơn là ông Phạm Văn B, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan là bà Phạm Thị P và ông Phạm Văn Đ; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm
số 19/2025/DS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6
- Hải Phòng:
Căn cứ khoản 5 Điều 26; Điều 34; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
Điều 147. ; Điều 157; Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi
bổ sung năm 2025;
Căn cứ Điều 610, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 614, Điều 620,
Điều 623. , Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660; điểm d khoản 1 Điều 688
của Bộ luật Dân sự; Điều 131 Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ điểm đ khoản 1, khoản 3 Điều 12; Điều 26; khoản 7 Điều 27 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án,
1.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị T về việc
chia di sản thừa kế của cụ Phạm Văn H và cụ Nguyễn Thị T1 đối với diện tích
đất ở 769,0 m2 (đo thực tế) tại thửa đất số 516-1, tờ bản đồ 03; địa chỉ: Thôn P,
xã Đ, huyện K (nay là thôn P, xã K, thành phố Hải Phòng), đứng tên người sử
dụng là hộ cụ Phạm Văn H và vợ là Phạm Thị T2 (chính thức là Nguyễn Thị
T1), theo GCNQSDĐ số AĐ 777716, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất 00526/KT-05-Q1, ngày 23/12/2005 của UBND huyện K.
-- 11 of 15 --
1.2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn B, bà Phạm Thị P, ông
Phạm Văn Đ, ông Phạm Văn N, ông Phạm Văn Q về việc hủy 02 GCNQSDĐ
là: GCNQSDĐ số AĐ 777716, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất 00526/KT-05-Q1, thửa đất số 516-1, diện tích 778,0 m2 tại thôn P, xã Đ,
huyện K, thành phố Hải Phòng, do UBND huyện K cấp ngày 23/12/2005 cho
người sử dụng là hộ cụ Phạm Văn H, vợ là Phạm Thị T2 và GCNQSDĐ số AĐ
777717, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00527/KT-05-Q1,
thửa số 516-2 diện tích 317,0 m2; địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố
Hải Phòng, do UBND huyện K cấp ngày 23/12/2005 cho người sử dụng là hộ
Nhà thờ họ P1.
1.3. Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bà Phạm Thị T và ông Phạm
Văn B1 về việc ông B1 giao phần của mình được hưởng cho bà T được toàn
quyền quản lý, sử dụng và bà T phải thanh toán trả giá trị quyền sử dụng đất
cho ông B1 theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản. Công nhận sự tự nguyện
thỏa thuận giữa bà Phạm Thị T và bà Phạm Thị L về việc bà T chịu trách nhiệm
thanh toán toàn bộ giá trị tài sản trên diện tích đất mà bà T, bà L được hưởng
cho ông Phạm Văn B và bà Bùi Thị H1 (chủ sỡ hữu) theo giá trị Hội đồng định
giá tài sản kết luận.
1.4. Công nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị T về việc bà T chịu trách
nhiệm thanh toán cho ông Phạm Văn B và bà Bùi Thị H1 đối với tài sản trên
156,5 m2 đất làm lối đi chung là: 01 trụ cổng 02 cánh cồng, trị giá 19.658.724
đồng; 77,9 m2 sân lát gạch đỏ trị giá 7.622.888 đồng; 11,8 m2 sân láng xi măng
trị giá 1.060.427 đồng; 4,0 m2 tường xây gạch chỉ rộng 0,1m trị giá 1.135.000
đồng. Tổng cộng là 29.477.039 đồng.
1.5. Phân chia hiện vật cụ thể như sau:
1.5.1. Diện tích lối đi chung cho các thửa đất là 156,5 m2 đất ở tại thửa
đất số 516-1, tờ bản đồ 03, thôn P, xã Đ, huyện K (nay là thôn P, xã K, thành
phố Hải Phòng), vị trí, kích thước bao gồm các mốc 1, 2, 3, 4, 5, 21, 12, 13, 20,
19,18, 22, 1 (có sơ đồ kèm theo). Trên diện tích đất này có các tài sản là 77,9m2
lát gạch đỏ; 11,8m2 láng xi măng; có 01 trụ cổng, 02 cánh cổng; 4,0 m2 tường
xây gạch chỉ rộng 0,1m, do ông B và bà H1 tạo dựng, cùng sử dụng chung. Bà
Tình tự N1 chịu trách nhiệm thanh toán giá trị các tài sản trên đất cho vợ chồng
ông B như trên. Ngoài ra còn có 29,4 m lưới sắt trên đất (do bà T tạo dựng) và
2,9 m2 chuồng chăn nuôi. Bà T có trách nhiệm tháo dỡ các tài sản này để làm
lối đi chung. Ông B, bà H1 có trách nhiệm tháo dỡ 6,9m tường xây gạch chỉ
rộng 0,15m (do vợ chồng ông B tạo dựng) để làm lối đi chung.
1.5.2. Giao cho bà Phạm Thị T được quyền quản lý, sử dụng 245,0 m2
đất ở tại thửa đất số 516-1, tờ bản đồ 03, thôn P, xã Đ, huyện K (nay là thôn P,
xã K, thành phố Hải Phòng), vị trí, kích thước bao gồm các mốc 16, 17, 18, 19,
20, 16 (có sơ đồ kèm theo) và sở hữu tài sản trên đất do vợ chồng ông B tạo
dựng, gồm: 7,6 m2 chuồng chăn nuôi trị giá 2.173.485 đồng; 01 cây nhãn trị giá
124.000 đồng, 25 cây cau trị giá 1.875.000 đồng, 01 cây bưởi trị giá 87.000
đồng, 03 cây mít trị giá 447.000 đồng, tổng giá trị tài sản là 4.706.485 đồng
-- 12 of 15 --
(Bốn triệu, bảy trăm linh sáu nghìn, bốn trăm tám mươi lăm đồng); 20,8 m lưới
sắt (do bà T tạo dựng). Trong diện tích đất trên có 122,5 m2 bà T được hưởng
trị giá 2.478.420.000 đồng (Hai tỷ bốn trăm bảy mươi tám triệu bốn trăm hai
mươi nghìn đồng); 122,5 m2 do ông B1 giao quyền trị giá 2.478.420.000 đồng
(Hai tỷ, bốn trăm bảy mươi tám triệu, bốn trăm hai mươi nghìn đồng).
Bà Phạm Thị T phải thanh toán trả cho ông Phạm Văn B1 giá trị 122,5
m2 đất thành tiền là 2.478.420.000 đồng (Hai tỷ bốn trăm bảy mươi tám triệu
bốn trăm hai mươi nghìn đồng).
1.5.3. Giao cho ông Phạm Văn B và bà Bùi Thị H1 được quyền quản lý,
sử dụng 245,0 m2 đất ở tại thửa đất số 516-1, tờ bản đồ 03, thôn P, xã Đ, huyện
K (N là thôn P, xã K, thành phố Hải Phòng), vị trí, kích thước bao gồm các mốc
5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 21, 5 (Có sơ đồ kèm theo) và sở hữu tài sản trên đất
thuộc quyền sở hữu của ông B, bà H1, gồm: 16,8 m2 lán tôn, 01 bể nước; 01
nhà kho; 58 m2 sân lát gạch đỏ; 9,7 m tường xây gạch chỉ rộng 0,15 m; 11,7 m
tường xây gạch chỉ rộng 0,1 m; 10 cây bưởi; 15 cây cau. Trong diện tích đất
trên ông B được hưởng 183,5 m2 đất trị giá 3.712.572.000 đồng (Ba tỷ bảy trăm
mười hai triệu năm trăm bảy mươi hai nghìn đồng); bà H1 được hưởng 61,25
m2 đất trị giá 1.239.210.000 đồng (Một tỷ hai trăm ba mươi chín triệu hai trăm
mười nghìn đồng).
1.5.4. Giao cho bà Phạm Thị L được quyền quản lý, sử dụng 122,5 m2
đất ở trị giá 2.478.420.000 đồng (Hai tỷ bốn trăm bảy mươi tám triệu bốn trăm
hai mươi nghìn đồng) tại thửa đất số 516-1, tờ bản đồ 03, thôn P, xã Đ, huyện
K (N là thôn P, xã K, thành phố Hải Phòng), vị trí, kích thước bao gồm các mốc
16, 17, 18, 19, 20, 16 (Có sơ đồ kèm theo) và sở hữu tài sản trên đất do vợ
chồng ông B tạo dựng, gồm; 17,6m tường xây gạch chỉ rộng 0,1m trị giá
4.992.000 đồng; 10 cây cau trị giá 750.000 đồng, 01 cây mít trị giá 149.000
đồng, 01 cây nhãn trị giá 124.000 đồng, 03 cây xoài 372.000 đồng, tổng giá trị
tài sản trên đất là 6.387.000 đồng.
Bà Phạm Thị T phải thanh toán cho ông Phạm Văn B và bà Bùi Thị H1
tổng số tiền là 40.570.524 đồng (bốn mươi triệu năm trăm bảy mươi nghìn năm
trăm hai mươi bốn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà
người phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền nêu trên thì phải trả lãi
suất theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân
sự.
1.6. Các đương sự có trách nhiệm đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
thực hiện thủ tục đính chính, đăng ký biến động đất đai và tài sản gắn liền với
đất theo quy định của pháp luật.
1.7. Về chi phí tố tụng: Bà Phạm Thị T nhận chịu toàn bộ chi phí xem
xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản nhưng bà T đã nộp đủ các chi
phí này.
2. Về án phí:
-- 13 of 15 --
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị T, bà Phạm Thị L, mỗi người
phải nộp 81.568.000 đồng (T3 mươi mốt triệu, năm trăm sáu mươi tám nghìn
đồng) án phí dân sự sơ thẩm, trong đó bà T được trừ đi số tiền tạm ứng án phí
dân sự sơ thẩm đã nộp 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) tại Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Kiến Thụy (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6
- Hải Phòng) theo Biên lai số 0008006 ngày 01/11/2024. Bà Phạm Thị T còn
phải nộp 61.568.000 đồng (Sáu mươi mốt triệu, năm trăm sáu mươi tám nghìn
đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Phạm Văn
B, ông Phạm Văn B1, bà Bùi Thị H1.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Văn B, bà Phạm Thị P, ông
Phạm Văn Đ được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
3. Về quyền thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành
theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án
dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền
yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo
quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSNDTP Hải Phòng;
- TAND khu vực 6-Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 6-Hải Phòng;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Thị Thúy Hà
-- 14 of 15 --
-- 15 of 15 --