Khoản 2 Điều 91, Điều 94, Điều 95, điểm d khoản 3 Điều 98 Luật các tổ
chức tín dụng năm 2010 (Nay là Điều 100, 102, 103, 107 Luật các tổ chức tín
dụng năm 2024);
Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi,
lãi suất, phạt vi phạm;
Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định
về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng;
Thông tư 19/20216/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng N ( được
sửa đổi bổ sung bởi
Thông tư số 22/2020/TT-NHNN ngày 31/12/2020) của Ngân
hàng N quy định về hoạt động thẻ Ngân hàng;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ
Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V.
- Buộc ông Nguyễn Đức T1 phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số tiền
còn nợ tính đến ngày 29/04/2026 là 596.994.855 đồng và tiếp tục chịu lãi phát
sinh theo quy định tại các Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ kể từ ngày
30/04/2026 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
- Trường hợp ông Nguyễn Đức T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ
nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan có thẩm
quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm ông T1 đã thế chấp để thu hồi nợ theo
quy định pháp luật.
- Trường hợp tài sản bảo đảm khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ, Ngân
hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên, phát mại các tài
sản khác của ông Nguyễn Đức T1 để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng
cho đến khi thực tế trả hết các khoản nợ.
- Về án phí: Trả lại Ngân hàng V1 số tiền đã nộp tạm ứng án phí. Ông T1 phải
chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
-- 8 of 15 --
9
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, phát biểu của
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng TMCP V khởi kiện vụ
án dân sự tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với ông Nguyễn Đức T1, sinh năm
1989. Địa chỉ: Thôn N, xã V, tỉnh Hưng Yên. Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35;
điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Hưng Yên.
[1.2]. Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Theo Hợp đồng tín dụng và kết quả
xác minh thông tin nơi cư trú của bị đơn, có đủ cơ sở xác định tại đơn khởi kiện
nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bị đơn. Bị đơn ông
Nguyễn Đức T1 hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành
phố H. Ngày 21/01/2026, Tòa án đã tiến hành làm việc với ông T1. Ông T1 có
đơn xin xét xử vắng mặt; Xét thấy bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt không ảnh
hưởng đến việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều
227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng
mặt bị đơn.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về khoản nợ gốc và lãi:
Hợp đồng cho vay số LN2301038041164 ngày 13/01/2023, Hợp đồng cho
vay số LD2328501988 ngày 12/10/2023, Hợp đồng cho vay số LD2430501132
ngày 31/10/2024 và Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp hạn mức thẻ tín dụng ngày
09/01/2023 được xác lập bởi các chủ thể có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, các
bên tham gia giao kết đều tự nguyện, hình thức, nội dung, mục đích không vi
phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định
của pháp luật; việc ký hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ là đúng quy định hợp
đồng vay tài sản tại Điều 463 Bộ luật dân sự. Do vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên yêu
cầu của Ngân hàng buộc ông Nguyễn Đức T1 có trách nhiệm phải trả số tiền gốc
còn nợ theo Hợp đồng cho vay số LN2301038041164 ngày 13/01/2023 là:
348.968.000 đồng; Hợp đồng cho vay số LD2328501988 ngày 12/10/2023 là:
18.814.913 đồng; Hợp đồng cho vay số LD2430501132 ngày 31/10/2024 là:
83.515.927 đồng; Hợp đồng cấp hạn mức thẻ tín dụng ngày 09/01/2023 là:
32.378.814 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 16 Điều 4, Điều 90, Điều 91,