Mục lục - 6 điều ▼
Chương I QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Thông tư này quy định về thành lập, nhiệm vụ, quyền hạn, nguyên tắc hoạt
động, chế độ làm việc, cơ chế phối hợp của Tổ Thẩm phán giải quyết đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản, Tổ Thẩm phán giải quyết đề nghị xem xét lại, kháng nghị
quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản, Tổ Thẩm phán giải quyết đơn đề
nghị, kháng nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản.
Chương I QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 2. Thành lập Tổ Thẩm phán giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản
1. Tổ Thẩm phán giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản quy định tại
khoản 1 Điều 31 của Luật phá sản được thành lập ở Tòa án nhân dân huyện, quận,
thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện), Tòa án
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Tòa án nhân
dân cấp tỉnh) để giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
2. Trong thời hạn giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, thẩm quyền
thành lập Tổ Thẩm phán được xác định như sau:
-- 1 of 15 --
CÔNG BÁO/Số 1063 + 1064/Ngày 26-10-2015 75
a) Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện căn cứ vào tính chất của vụ việc phá
sản thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật phá sản
quyết định thành lập Tổ Thẩm phán giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;
b) Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào tính chất của vụ việc phá
sản thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều 8
của Luật phá sản quyết định thành lập Tổ Thẩm phán giải quyết đơn yêu cầu mở
thủ tục phá sản.
Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh phải thành lập Tổ Thẩm phán giải quyết đơn
khi thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 8 của Luật phá sản.
3. Chánh án hoặc Phó Chánh án được Chánh án ủy nhiệm của Tòa án nhân dân
đang giải quyết vụ việc phá sản phải ban hành quyết định thành lập Tổ Thẩm phán
gồm 03 Thẩm phán và giao cho một Thẩm phán làm Tổ trưởng.
4. Việc thay đổi, bổ sung Thẩm phán để thành lập Tổ Thẩm phán giải quyết
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được thực hiện khi thuộc một trong các trường
hợp sau đây:
a) Trong quá trình giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà Thẩm phán
không tiếp tục thực hiện được nhiệm vụ của mình vì lý do sức khỏe, nghỉ hưu,
chuyển công tác, chưa được bổ nhiệm lại khi hết nhiệm kỳ, sự kiện bất khả kháng
hoặc trở ngại khách quan khác hoặc thuộc trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi
quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật phá sản, thì việc thay đổi Thẩm phán thực
hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật phá sản;
b) Trường hợp Thẩm phán đang giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
nhận thấy vụ việc phá sản thuộc trường hợp phải thành lập Tổ Thẩm phán được
hướng dẫn tại khoản 2 Điều này thì báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân phân công
bổ sung hai Thẩm phán để thành lập Tổ Thẩm phán;
c) Trường hợp Tổ Thẩm phán đang giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
mà Tổ trưởng Tổ Thẩm phán nhận thấy vụ việc phá sản không thuộc trường hợp
phải thành lập Tổ Thẩm phán được hướng dẫn tại khoản 2 Điều này mà chỉ cần
một Thẩm phán giải quyết thì Tổ trưởng Tổ Thẩm phán báo cáo Chánh án Tòa án
nhân dân để xem xét, quyết định việc phân công một Thẩm phán giải quyết thay
cho Tổ Thẩm phán.
5. Việc thay đổi, bổ sung Thẩm phán phải được xem xét, quyết định trong thời
hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu, đề nghị và phải được gửi
ngay cho người tiến hành thủ tục phá sản, người tham gia thủ tục phá sản.
Chương I QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 3. Thành lập Tổ Thẩm phán giải quyết đề nghị xem xét lại, kháng
nghị quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản và Tổ Thẩm phán giải
quyết đơn đề nghị, kháng nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã
phá sản
-- 2 of 15 --
76 CÔNG BÁO/Số 1063 + 1064/Ngày 26-10-2015
1. Tổ Thẩm phán giải quyết đề nghị xem xét lại, kháng nghị quyết định mở
hoặc không mở thủ tục phá sản của Tòa án nhân dân cấp huyện được thành lập ở
Tòa án nhân dân cấp tỉnh; Tổ Thẩm phán giải quyết đề nghị xem xét lại, kháng
nghị quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
được thành lập ở Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền theo lãnh thổ quy định
tại khoản 3 Điều 44 của Luật phá sản.
2. Tổ Thẩm phán giải quyết đơn đề nghị, kháng nghị quyết định tuyên bố
doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản của Tòa án nhân dân cấp huyện được thành lập ở
Tòa án nhân dân cấp tỉnh; Tổ Thẩm phán giải quyết đơn đề nghị, kháng nghị quyết
định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản của Tòa án nhân dân cấp tỉnh được
thành lập ở Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền theo lãnh thổ quy định tại
khoản 1 Điều 112 của Luật phá sản.
3. Chánh án Tòa án nhân dân có thẩm quyền quy định tại khoản 1 và khoản 2
Điều này phải ban hành quyết định thành lập Tổ Thẩm phán gồm 03 Thẩm phán và
giao cho một Thẩm phán làm Tổ trưởng.
4. Việc thay đổi Thẩm phán để thành lập Tổ Thẩm phán giải quyết đề nghị
xem xét lại, kháng nghị quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản; Tổ Thẩm
phán giải quyết đơn đề nghị, kháng nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp
tác xã phá sản được thực hiện như sau:
a) Trong quá trình giải quyết mà Thẩm phán không tiếp tục thực hiện được
nhiệm vụ của mình vì lý do sức khỏe, nghỉ hưu, chuyển công tác, chưa được bổ
nhiệm lại khi hết nhiệm kỳ, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác
hoặc thuộc trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi quy định tại khoản 1 Điều 10
của Luật phá sản, thì việc thay đổi Thẩm phán thực hiện theo quy định tại khoản 2
Chương I QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 10. của Luật phá sản;
b) Việc quyết định thay đổi Thẩm phán phải được xem xét, quyết định trong
thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu, đề nghị và phải được gửi
cho người tiến hành thủ tục phá sản, người tham gia thủ tục phá sản.
Chương I QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 44. của Luật phá sản, các quy định khác của pháp luật phá sản và quy định tại
-- 3 of 15 --
CÔNG BÁO/Số 1063 + 1064/Ngày 26-10-2015 77
Thông tư này. Tổ Thẩm phán bắt đầu thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn kể từ khi có
quyết định thành lập của Chánh án theo quy định tại khoản 3 Điều 3 của Thông tư
này và chấm dứt việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau khi đã giải quyết xong đề
nghị xem xét lại, kháng nghị quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản quy
định tại Điều 44 của Luật phá sản.
3. Tổ Thẩm phán giải quyết đơn đề nghị, kháng nghị quyết định tuyên bố
doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại
Chương I QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 112. của Luật phá sản, các quy định khác của pháp luật phá sản và quy định
tại Thông tư này. Tổ Thẩm phán bắt đầu thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn kể từ khi
có quyết định thành lập của Chánh án theo quy định tại khoản 3 Điều 3 của Thông
tư này và chấm dứt việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau khi đã giải quyết xong
đơn đề nghị, kháng nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản quy
định tại Điều 112 của Luật phá sản.