Bước đầu nghiên cứu các đặc trưng của vi nhựa trong trầm tích mặt tại một số điểm thuộc vùng biển Nam Trung Bộ, Việt Nam
👁 2 lượt xem↓ 0 lượt tải qua VietLexVietLex bảo vệ quyền riêng tư của bạn — không tracking, không chia sẻ thông tin tải về cho bên thứ ba.
📑 Trích dẫn đầy đủ (citation)
APA-like:
Phạm, Thu Huyền (2025). Bước đầu nghiên cứu các đặc trưng của vi nhựa trong trầm tích mặt tại một số điểm thuộc vùng biển Nam Trung Bộ, Việt Nam. Thesis, ĐHQG Hà Nội. http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/171950
Việt Nam (chuẩn TCVN 5453:1991):
Phạm, Thu Huyền. Bước đầu nghiên cứu các đặc trưng của vi nhựa trong trầm tích mặt tại một số điểm thuộc vùng biển Nam Trung Bộ, Việt Nam. Thesis, 2025. ĐHQG Hà Nội. Truy cập từ http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/171950.
Tóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện tại 16 vị trí trên vùng biển Duyên hải Nam Trung Bộ, nhằm đánh giá đặc trưng của vi nhựa tại khu vực nghiên cứu. Hạt vi nhựa được phát hiện trong tất cả các mẫu trầm tích ở Duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam với sự khác biệt đáng kể về nồng độ (p<0,05). Mức độ phong phú của vi nhựa dao động từ 199-1988 MPs/kg, trung bình là 210±70 MP/kg. Hạt vi nhựa được phát hiện trong các mẫu trầm tích trong nghiên cứu này có kích thước chiều dài khá đa dạng, dao động từ 20,6–2016,4 μm. Hạt vi nhựa có kích thước 50–150 µm chiếm tỷ lệ nhiều nhất (33,7%), theo sau là các các hạt có kích thước 150–300 µm (25,7%). Các hạt có kích thước > 500 µm chiếm tỷ lệ thấp nhất (6,3%), đối với các hạt nhỏ hơn 20 µm rất khó để xác định vi nhựa vì nó có thể làm sai lệch kết quả phân tích. Về đặc điểm hình dạng, hạt vi nhựa trong các mẫu trầm tích đáy biển từ nghiên cứu này có hình dạng chủ yếu là dạng mảnh, chiếm 67% tổng lượng hạt vi nhựa được phát hiện. Còn lại là các sợi và hạt nhựa với tỷ lệ lần lượt là 29,5% và 3,5%. Các dạng hạt vi nhựa khác như dạng phim; bọt không được phát hiện. Theo kết quả nhận dạng, so sánh kết quả phân tích với các phổ IR của các loại nhựa nhận thấy thành phần hóa học của các loại hạt vi nhựa trong môi trường trầm tích tầng mặt khu vực vùng biển Duyên hải Nam Trung Bộ tương đối đa dạng với 12 loại vi nhựa bao gồm Polyethylene Teraphalate (PET); Vinyl ester; Nylon; Melamine-urea-formaldehyde resin (MUF); EVOH EVAL film; Melamine-formaldehyde cond (MF); Polyethylene (PE); High-density Polyethylene (HDPE); Fluoropolymer; Cellophane (CP); Low density polyethylene (LDPE); Polyethylene và 5 loại nhựa khác (Teflon, Polyethylene Marlex catalyst, polyester, polypropylene, polyvinyl fluoride). Trong đó PET, Vinyl ester, Nylon và MUF là các thành phần phổ biến nhất trong các hạt vi nhựa được tìm thấy tại khu vực nghiên cứu. Nghiên cứu tiến hành khảo sát mức độ nhận thức của ba nhóm đối tượng (Hộ gia đình, ngư dân, khách du lịch) về các vấn đề liên quan đến nhựa và vi nhựa. Kết quả cho thấy nhận thức của người tham gia khảo sát về nhựa khá cao trong khi đó thuật ngữ chuyên sâu như vi nhựa còn hạn chế. Từ đó, tác giả đã tiến hành đề xuất được các giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm rác thải nhựa phát sinh trên địa bàn giúp bảo vệ môi trường biển và hải đảo.