Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 5. Nguyên tắc khen thưởng
1. Dân chủ, chính xác, công khai, công bằng, kịp thời.
2. Một hình thức khen thưởng có thể tặng nhiều lần cho một đối tượng; không
tặng nhiều hình thức khen thưởng cho một thành tích đạt được.
3. Trong một năm, không trình hai hình thức khen thưởng cấp Nhà nước cho
một đối tượng (đối với cá nhân chỉ đề nghị một hình thức khen thưởng cấp Nhà
nước hoặc danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc”); trừ trường hợp đạt thành tích
đặc biệt xuất sắc đột xuất, khen thưởng quá trình cống hiến, khen thưởng theo niên
hạn trong lực lượng vũ trang (nếu có).
4. Bảo đảm thống nhất giữa tính chất, hình thức và đối tượng khen thưởng.
5. Kết hợp chặt chẽ động viên tinh thần với khuyến khích bằng lợi ích vật chất.
6. Khen thưởng phải căn cứ vào thành tích đạt được. Thành tích đạt được
trong điều kiện khó khăn và có phạm vi ảnh hưởng lớn được khen thưởng mức
cao hơn. Chỉ lấy kết quả khen thưởng về thành tích cuối năm để làm căn cứ xét
khen thưởng hoặc đề nghị khen thưởng (kết quả khen thưởng phong trào thi đua
theo đợt hoặc chuyên đề được ghi nhận và ưu tiên khi xét khen thưởng hoặc đề
nghị cấp trên khen thưởng). Không cộng dồn thành tích đã khen của lần trước để
đề nghị nâng mức khen thưởng lần sau. Chú trọng khen thưởng tập thể nhỏ, cá
nhân là người trực tiếp lao động, công tác, chiến đấu và có nhiều sáng tạo trong
lao động, công tác.
7. Khi xét khen thưởng đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải căn cứ
vào thành tích của tập thể do cá nhân đó lãnh đạo.
8. Chưa khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng tập thể, cá nhân đang
trong thời gian cơ quan có thẩm quyền đang xem xét thi hành kỷ luật hoặc đang
điều tra, thanh tra, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm hoặc có đơn thư khiếu nại, tố
cáo đang được xác minh làm rõ.
9. Tập thể, cá nhân không được xét khen thưởng vì có bản án, quyết định bị
hủy, sửa, nhưng sau đó Hội đồng xét xử giám đốc thẩm kết luận việc hủy, sửa đó
là chưa chính xác thì được xem xét, đề nghị khen thưởng bổ sung.
10. Không xét khen thưởng đối với tập thể có cán bộ, công chức, viên chức,
người lao động bị kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên hoặc đang bị khởi tố hình
sự. Các tập thể có cán bộ, công chức, viên chức, người lao động bị xử lý kỷ luật
-- 3 of 48 --
10 CÔNG BÁO/Số 603 + 604/Ngày 21-5-2018
khiển trách vẫn có thể được xét đề nghị khen thưởng, nhưng danh hiệu thi đua và
hình thức khen thưởng của tập thể đó phải thấp hơn một bậc so với các tập thể
khác có cùng thành tích.
11. Đối với nữ là cán bộ lãnh đạo, quản lý, thời gian giữ chức vụ để xét khen
thưởng quá trình cống hiến được giảm 1/3 thời gian so với quy định chung (trường
hợp quy định tuổi nghỉ hưu cao hơn thì thời gian giữ chức vụ để xét khen thưởng
quá trình cống hiến được thực hiện theo quy định chung).
Khi có nhiều cá nhân, tập thể cùng đủ điều kiện, tiêu chuẩn của một hình thức
khen thưởng thì ưu tiên khen thưởng cá nhân nữ, tập thể có tỷ lệ nữ cao hơn.
12. Thời gian đề nghị khen thưởng cho lần tiếp theo được tính theo thời gian
lập được thành tích ghi trong quyết định khen thưởng lần trước. Đối với quyết định
khen thưởng không ghi thời gian lập được thành tích thì thời gian đề nghị khen
thưởng lần sau được tính theo thời gian ban hành quyết định khen thưởng lần trước.
13. Trường hợp tính số người, số tập thể kết quả là số thập phân thì được làm
tròn số: Dưới 0,5 được tính là 0, từ 0,5 trở lên được tính là 1.
14. Cấp nào chủ trì phát động thi đua theo đợt hoặc theo chuyên đề, khi tổng
kết lựa chọn các điển hình, thì cấp đó khen thưởng hoặc trình cấp trên khen
thưởng (đối với trường hợp thành tích xuất sắc, tiêu biểu, phạm vi ảnh hưởng
rộng hơn cấp đó).
Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
1. Các Cụm thi đua của Tòa án nhân dân, gồm:
a) Cụm thi đua số I, Tòa án nhân dân hai cấp thuộc 14 tỉnh (thành phố) khu
vực đồng bằng và trung du Bắc bộ: Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hải
Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình,
Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh;
b) Cụm thi đua số II, Tòa án nhân dân hai cấp thuộc 14 tỉnh miền núi phía Bắc:
Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Hòa Bình, Lai Châu, Điện Biên,
Sơn La, Lạng Sơn, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Giang, Phú Thọ;
c) Cụm thi đua số III, Tòa án nhân dân hai cấp thuộc 12 tỉnh (thành phố) khu
vực duyên hải miền Trung và Tây Nguyên: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế,
Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk,
Phú Yên, Khánh Hòa;
-- 4 of 48 --
CÔNG BÁO/Số 603 + 604/Ngày 21-5-2018 11
d) Cụm thi đua số IV, Tòa án nhân dân hai cấp thuộc 10 tỉnh (thành phố) khu
vực miền Đông Nam bộ: Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình
Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Đắk Nông, Lâm Đồng, thành phố Hồ
Chí Minh;
đ) Cụm thi đua số V, Tòa án nhân dân hai cấp thuộc 13 tỉnh (thành phố) khu
vực miền Tây Nam bộ: Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, An Giang, Bến Tre, Vĩnh
Long, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, Hậu Giang, Cần Thơ;
e) Cụm thi đua số VI, gồm 12 đơn vị (thuộc Tòa án nhân dân tối cao, Học viện
Tòa án): Văn phòng, Cục Kế hoạch - Tài chính, Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học,
Ban Thanh tra, Vụ Tổ chức - Cán bộ, Vụ Tổng hợp, Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Thi
đua - Khen thưởng, Vụ Công tác phía Nam, Báo Công lý, Tạp chí Tòa án nhân
dân, Học viện Tòa án;
g) Cụm thi đua số VII, gồm 06 đơn vị: các Tòa án nhân dân cấp cao tại (Hà
Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh) và các Vụ Giám đốc kiểm tra (I, II, III)
thuộc Tòa án nhân dân tối cao;
h) Cụm thi đua số VIII, gồm: Tòa án quân sự các cấp.
2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cụm thi đua được thực hiện theo Quy
chế hoạt động của các Cụm thi đua trong Tòa án nhân dân do Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao ban hành.
3. Trưởng Cụm và Phó Trưởng Cụm thi đua hàng năm do Cụm thi đua bầu và
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Thi
đua - Khen thưởng Tòa án nhân dân tối cao.
Trưởng Cụm thi đua tổ chức, chỉ đạo hoạt động của Cụm thi đua và chịu trách
nhiệm trước Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về mọi hoạt động của Cụm thi đua.
Chương II
TỔ CHỨC THI ĐUA, DANH HIỆU
VÀ TIÊU CHUẨN DANH HIỆU THI ĐUA