CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcHNGĐ, ngày 21 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
Dương (nay là Ủy ban nhân dân xã N, thành phố Hải Phòng) vào ngày
11/10/2005. Việc chúng tôi kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện, trước khi
kết hôn thì chúng tôi đã có sự tìm hiểu, yêu thương nhau và được sự đồng ý của
gia đình hai bên và có tổ chức đám cưới theo phong tục. Sau khi kết hôn chúng
tôi chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn (khoảng 01 năm) thì bắt đầu
phát sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân là do tính tình mỗi người bắt đầu đổi khác,
thường xuyên bất đồng với nhau về nhiều vấn đề trong cuộc sống. Mỗi lần vợ
2
chồng cãi nhau thì anh T1 đều chửi bới, xúc phạm tôi rất nặng nề, nhiều lần anh
T1 đánh tôi đến mức phải nhập viện điều trị. Chúng tôi tuy vẫn sống chung một
nhà nhưng thực tế thì vợ chồng đã ăn riêng, ngủ riêng, không còn quan tâm,
chăm sóc gì cho nhau kể từ sau khi tôi sinh cháu thứ hai. Vì lo cho con cái nên
tôi cũng cố gắng chịu đựng và cũng đã nhiều lần khuyên nhủ, hòa giải để hàn
gắn tình cảm vợ chồng nhưng tình hình vẫn không có gì thay đổi, chúng tôi vẫn
thường xuyên xung đột, cãi vã. Nay tôi thấy giữa tôi và anh Vũ Văn T1 đã thật
sự không còn tình cảm gì với nhau, hạnh phúc gia đình không có nên tôi đề nghị
Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh T1.
Về con chung: Quá trình chung sống, tôi với anh Vũ Văn T1 có 03 con
chung là cháu Vũ Thị D, sinh ngày 01/02/2007, cháu Vũ Thị T2, sinh ngày
06/10/2008 và cháu Vũ Văn D1, sinh ngày 03/7/2016. Hiện nay, cháu D đã
trưởng thành và tự lập được nên tôi không yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng
cháu khi ly hôn. Riêng cháu T2 và cháu D1 còn nhỏ và đang sống phụ thuộc vào
cha mẹ nên khi ly hôn, tôi có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T2 và
giao cháu D1 cho anh T1 nuôi dưỡng cho đến khi các cháu trưởng thành và tự
lập được. Tôi cũng đề nghị là tôi và anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con cho
nhau.
Về tài sản chung và nợ chung: Trước mắt, tôi và anh Vũ Văn T1 sẽ tự
thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Toà án giải quyết. Nếu sau này có tranh
chấp tôi sẽ yêu cầu giải quyết bằng một vụ kiện khác.
*Bị đơn, ông Vũ Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ
án ông T1 có lời khai như sau: Tôi với cô Nguyễn Thị T kết hôn với nhau năm
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.