Mục lục - 3 điều ▼
Điều 1. Ban hành kèm theo Nghị quyết này Chương trình hành động của
Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07 tháng 01 năm 2026 của
Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Điều 2. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
Điều 3. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan,
tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị quyết này./.
TM. CHÍNH PHỦ
KT. THỦ TƯỚNG
PHÓ THỦ TƯỚNG
[daky]
Mai Văn Chính
-- 1 of 52 --
CÔNG BÁO/Số 142/Ngày 11-03-2026 46
CHÍNH PHỦ
___________
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_______________________________________
CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ
Thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07 tháng 01 năm 2026
của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam
(kèm theo Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2026 của Chính phủ)
___________
I. MỤC TIÊU
1. Tổ chức thể chế hóa và thực hiện đầy đủ các quan điểm, mục tiêu,
nhiệm vụ và giải pháp đã đề ra trong Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07 tháng
01 năm 2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (sau đây gọi tắt
là Nghị quyết số 80-NQ/TW).
2. Xác định nhiệm vụ cụ thể để các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế
hoạch hành động, tổ chức triển khai đồng bộ, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc
thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW để phát triển văn hóa thực sự trở thành nền
tảng vững chắc và sức mạnh nội sinh của dân tộc, vừa góp phần phát triển
nhanh, bền vững, hướng đến mục tiêu 100 năm thành lập Đảng và 100 năm
thành lập nước, vừa hình thành nền văn hóa xứng tầm một quốc gia phát triển,
định hướng xã hội chủ nghĩa, có truyền thống văn hóa, văn hiến rực rỡ ngàn
đời, đóng góp xứng đáng vào dòng chảy văn minh nhân loại.
II. NHIỆM VỤ CỤ THỂ
Bám sát quan điểm chỉ đạo của Bộ Chính trị, để thực hiện thắng lợi các
mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp Nghị quyết số 80-NQ/TW đề ra, bên cạnh các
nhiệm vụ thường xuyên, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố cần cụ thể hóa và tổ chức triển khai thực
hiện các nhiệm vụ sau đây:
1. Đổi mới mạnh mẽ tư duy, thống nhất cao về nhận thức và hành
động nhằm phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới
- Quán triệt, nhận thức đầy đủ, sâu sắc và toàn diện về vai trò nền tảng,
sức mạnh nội sinh và động lực đột phá của văn hóa trong phát triển đất nước;
về quan điểm phát triển văn hóa ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội, gắn
với xây dựng thế trận an ninh văn hóa, an ninh con người, chủ quyền văn hóa
số. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, lãnh đạo quản
lý các cấp trong thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa. Đề cao vai trò con
người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển. Tạo điều kiện
thuận lợi, huy động nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa.
-- 2 of 52 --
CÔNG BÁO/Số 142/Ngày 11-03-2026 47
- Chú trọng yếu tố văn hóa trong từng ý tưởng, từng giai đoạn hoạch
định, đánh giá tác động, ban hành và thực thi chính sách phát triển từ Trung
ương tới cấp tỉnh, cấp xã. Nội hàm văn hóa phải được xác định đồng thời cùng
các nội hàm về chính trị, kinh tế, xã hội để thấm sâu vào các chiến lược, quy
hoạch, đề án, dự án phát triển của các bộ, ngành, địa phương; bảo đảm đồng
bộ, tương hỗ với các chính sách, giải pháp đột phá về kinh tế, giáo dục, khoa
học, công nghệ, chuyển đổi số.
- Tuyên truyền thường xuyên, liên tục, hiệu quả chủ trương, đường lối
của Đảng về vai trò, vị trí của văn hóa đối với sự phát triển nhanh và bền vững
đất nước, mục tiêu, các chính sách, giải pháp đột phá của Nhà nước về phát
triển văn hóa, trong đó báo chí cách mạng đóng vai trò nòng cốt, ưu tiên sử
dụng các hình thức truyền thông hiện đại, tầm bao phủ rộng, đặc biệt là truyền
thông số.
- Tìm kiếm, phát hiện và nhân rộng các gương người tốt, việc tốt, coi
trọng giáo dục các hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị gia đình,
chuẩn mực con người Việt Nam.
- Xây dựng môi trường thông tin trong sạch, định hướng thị hiếu lành
mạnh, tiến bộ, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc ra thế giới, đồng thời tiếp thu
tinh hoa văn hóa nhân loại, trong đó văn nghệ sĩ, trí thức, người làm công tác
văn hóa, doanh nhân, nghệ nhân dân gian, người có uy tín, có tầm ảnh hưởng,
chức sắc tôn giáo giữ vai trò quan trọng, gương mẫu đi đầu, là hạt nhân lan tỏa.
2. Hoàn thiện thể chế tạo đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực
phát triển văn hóa
- Xây dựng Nghị quyết của Quốc hội khóa XVI về một số giải pháp phát
triển văn hóa Việt Nam: (i) nhóm quy định về mô hình hợp tác công - tư đối
với thiết chế văn hóa, thể thao (đầu tư công - quản trị tư, đầu tư tư - sử dụng
công,…); xây dựng Quỹ văn hóa, nghệ thuật theo mô hình công - tư; (ii) nhóm
quy định về tài chính ưu tiên cho 03 lĩnh vực đột phá: đào tạo và đãi ngộ nhân
tài trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển
đổi số trong lĩnh vực văn hóa; đặt hàng sáng tạo các tác phẩm, công trình nghệ
thuật có giá trị tư tưởng cao; (iii) nhóm quy định về phát hiện, đào tạo, bồi
dưỡng, trọng dụng và phát huy tài năng văn hóa, nghệ thuật, thể thao; chính
sách đãi ngộ xứng đáng với nghệ nhân, nghệ sĩ dân gian; (iv) quy định “Ngày
Văn hóa Việt Nam” người lao động được nghỉ làm hưởng nguyên lương, sửa
đổi, bổ sung khoản 1 Điều 112 Bộ Luật lao động.
- Đề xuất, xây dựng các luật về: hoạt động nghệ thuật, văn học, bản quyền
tác giả, công nghiệp văn hóa. Tập trung hoàn thiện, trình Quốc hội ban hành
các Luật: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản, Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Thể dục, thể thao, Luật Du lịch, Luật Thư viện,
Luật Điện ảnh, Luật Di sản văn hóa.
-- 3 of 52 --
CÔNG BÁO/Số 142/Ngày 11-03-2026 48
- Tiếp tục rà soát, nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn để đề xuất hoàn
thiện khung khổ pháp lý, nhất là đối với những vấn đề thuộc lĩnh vực văn hóa
đang được điều chỉnh bởi văn bản dưới luật (mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm),
những vấn đề bất cập với thực tiễn, những khoảng trống mới do thực tiễn đặt
ra và những vấn đề chưa được thể chế hoá (văn hoá dân tộc, văn hoá quần
chúng, tuyên truyền cổ động, quản lý văn hóa trên môi trường số…).
- Rà soát, nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật liên quan
về chính sách ưu đãi đầu tư, chính sách hỗ trợ về thuế, đất đai, đấu thầu, dữ
liệu, cơ chế tài chính, cơ chế khuyến khích sáng tạo trong các luật chuyên ngành
để tạo điều kiện huy động tối đa nguồn lực cho phát triển văn hoá.
- Xây dựng Nghị định về đặt hàng sáng tạo và phổ biến công trình, tác
phẩm văn hóa, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng, nội dung và nghệ thuật
xứng tầm với nền văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Xây dựng Nghị định về hạ tầng văn hóa số, các nền tảng dữ liệu dùng
chung nền tảng dữ liệu chuyên ngành, số hóa, dữ liệu và quản lý không gian
văn hóa số.
- Xây dựng, ban hành Bộ chỉ số văn hóa quốc gia (V-Culture Index).
- Xây dựng, ban hành Bộ chỉ số thống kê về đóng góp của các ngành
công nghiệp văn hóa đối với phát triển kinh tế.
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến
năm 2030.
- Xây dựng Đề án đưa các tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, di sản văn hóa
của Việt Nam đáp ứng được tiêu chí bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm có giá
trị đang ở nước ngoài về nước.
- Xây dựng và triển khai Chiến lược phát triển lĩnh vực thông tin cơ sở giai
đoạn 2026-2030 và định hướng đến năm 2045.
3. Chú trọng xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, xây
dựng môi trường văn hóa nhân văn, văn minh
- Ban hành Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị quốc
gia, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam.
- Phát huy sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình - nhà trường - xã hội trong
hình thành và hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam thông qua các Chương
trình phối hợp hành động hàng năm hoặc theo giai đoạn giữa các ban, bộ,
ngành, cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội liên quan.
- Xây dựng môi trường văn hóa trong không gian phát triển của từng
vùng, từng địa phương, phát huy không gian văn hóa đô thị, nông thôn, văn hóa
biển và miền núi trong các Chiến lược, quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch
vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành.
-- 4 of 52 --
CÔNG BÁO/Số 142/Ngày 11-03-2026 49
- Ban hành Bộ Quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường số.
- Tích hợp vào Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hóa” nội dung “Xây dựng cộng đồng văn hóa cơ sở giàu bản sắc, sáng - xanh -
sạch - đẹp”, lấy khu dân cư làm hạt nhân, địa bàn phường, xã, đặc khu làm
trung tâm của phong trào.
- Xây dựng Chương trình thi đua “Mỗi xã, phường, đặc khu có một mô
hình hay, cách làm hiệu quả phát huy hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ
sở” gắn với tổ chức các giao lưu, liên hoan để tôn vinh, phát huy các mô hình.
- Xây dựng Đề án văn hóa trong tuân thủ luật pháp.
- Xây dựng và triển khai Đề án “Bảo tồn và phát huy các giá trị truyền
thống, bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với du lịch và phát
triển kinh tế trong kỷ nguyên mới”.
- Rà soát, điều chỉnh, bổ sung “Danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử
dụng ngân sách nhà nước cơ bản và thiết yếu trong lĩnh vực văn hóa”.
- Xây dựng, ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam-
24/11” giai đoạn 2026 - 2030”.
- Trong quá trình xây dựng chính sách bảo đảm đầy đủ quyền hưởng thụ
và sáng tạo văn hóa, tiếp cận bình đẳng văn hóa của Nhân dân..
- Xây dựng, triển khai Chương trình “Xây dựng thế trận văn hoá gắn với
quốc phòng, an ninh, củng cố phòng tuyến văn hoá tư tưởng”.
- Triển khai chương trình giáo dục đạo đức và văn hóa trong các cơ sở
giáo dục từ bậc mầm non đến bậc đại học. Tăng cường các nguồn lực triển khai
hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống,
văn hóa học đường trong các nhà trường; đầu tư xây dựng các mô hình giáo dục
đạo đức, lối sống, giáo dục nghệ thuật, văn hóa trong các cơ sở giáo dục.
- Triển khai các chương trình, hoạt động phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội
cụ Hồ” thời kỳ mới, 6 điều Bác Hồ dạy Công an Nhân dân, mẫu hình “công
bộc của dân” gắn với văn hóa nêu gương nơi công sở trong toàn lực lượng
Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân và công chức, viên chức trong toàn hệ
thống hành chính.
- Tiếp tục triển khai thực hiện Quyết định số 1847/QĐ-TTg
ngày 27/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án Văn hóa công
vụ; nâng cao văn hóa công vụ, góp phần hình thành phong cách ứng xử, lề lối
làm việc chuẩn mực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; bảo đảm tính
chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả trong thực thi
nhiệm vụ, công vụ; đáp ứng yêu cầu phục vụ Nhân dân và xã hội.
-- 5 of 52 --
CÔNG BÁO/Số 142/Ngày 11-03-2026 50
- Tiếp tục triển khai, phát huy các phong trào, hoạt động thiết thực xây
dựng đội ngũ doanh nhân gắn với chuẩn mực đạo đức và văn hóa kinh doanh
mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa kinh doanh quốc tế.
- Xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại,
nêu cao tinh thần thượng tôn pháp luật từ gia đình, đến nhà trường, tới mọi lĩnh
vực của xã hội trên cơ sở đạo đức, luật pháp, chuẩn mực và giá trị truyền thống;
nâng cao trách nhiệm công dân trên không gian mạng, làm trong sạch môi
trường văn hóa số.
- Tiếp tục triển khai hiệu quả, thực chất việc xây dựng và thực hiện hương
ước, quy ước của cộng đồng dân cư, trọng tâm khuyến khích phát huy tính tự
quản của cộng đồng, truyền thống gia đình, dòng họ.
- Rà soát tiếp tục hoàn thiện quy hoạch và đầu tư phát triển hệ thống thiết
chế văn hóa, thể thao đồng bộ, hiện đại.
- Tổ chức hoạt động thường xuyên, hiệu quả thiết chế văn hóa cơ sở.
- Xây dựng Chương trình văn hóa đọc trong cộng đồng, triển khai xây
dựng tủ sách cộng đồng số và các mô hình thư viện mở, không gian đọc linh
hoạt tại khu vực đô thị và nông thôn, nhằm xây dựng thói quen kỹ năng đọc
sách, bảo đảm quyền tiếp cận tri thức của người dân.
- Tiếp tục phát huy nhân tố tích cực của văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng
trong xây dựng đời sống văn hóa, môi trường văn hóa, trọng tâm triển khai tại
các làng, xã truyền thống.
- Kiên trì và có giải pháp quyết liệt chấn chỉnh, hạn chế, đẩy lùi những
biểu hiện tiêu cực, suy thoái về văn hoá, đạo đức, lối sống, các biểu hiện thực
dụng, “lợi ích nhóm” trong hoạt động văn hoá; đấu tranh với diễn biến hoà bình
trên lĩnh vực văn hoá tư tưởng; chống sự xâm nhập của văn hoá phẩm độc hại,
những hành vi phi văn hoá, lai căng, phản cảm; kiên quyết xử lý thông tin xấu,
độc, phản văn hoá, tin giả trên mạng xã hội và phương tiện thông tin khác.
- Phát huy vai trò nền tảng của văn hóa trong việc hình thành bản lĩnh,
“sức đề kháng” trước các tác động phức tạp và lệch chuẩn của văn hóa ngoại
lai; giữ gìn thuần phong mỹ tục, vun đắp niềm tự hào và khát vọng cống hiến
vì sự phát triển của đất nước.
- Triển khai các chương trình, hoạt động, dịch vụ sự nghiệp văn hóa công
và trợ giúp pháp lý bảo đảm bình đẳng trong thụ hưởng các giá trị văn hóa đối
với các nhóm yếu thế như người khuyết tật, người nghèo, trẻ em, đồng bào dân
tộc thiểu số.
- Xây dựng và vận hành Nền tảng văn hóa số toàn dân (trọng tâm là dịch
vụ thư viện số, bảo tàng số, nghệ thuật biểu diễn trực tuyến, lớp học nghệ thuật
trực tuyến…).
-- 6 of 52 --
CÔNG BÁO/Số 142/Ngày 11-03-2026 51
4. Đổi mới phương thức quản lý văn hóa theo hướng kiến tạo, phục
vụ; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số tạo động lực bứt phá cho phát triển văn hóa
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung, xây dựng các quy trình, quy định quản lý,
quản trị văn hóa hiện đại gắn với sự hiệu quả, tính minh bạch, trách nhiệm giải
trình, chuyển đổi số; chuyển từ tiền kiểm, sang hậu kiểm đồng bộ với hệ thống
tiêu chuẩn, quy chuẩn về văn hóa; hợp tác quốc tế, nâng cao năng lực về sở hữu
trí tuệ trong môi trường số.
- Xây dựng mô hình quản trị văn hóa điện tử (e-Culture Governance),
gắn với cơ chế phản ứng nhanh (Fast-track) trong việc tiếp nhận, xử lý vi phạm
trên môi trường số, kết nối từ trung ương đến địa phương, tích hợp các hệ thống
dữ liệu, giám sát, cấp phép, đánh giá hoạt động văn hóa trực tuyến, đánh giá
hiệu quả chính sách và đầu tư văn hóa trên phạm vi quốc gia.
- Xây dựng, vận hành và khai thác hiệu quả hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc
gia, nền tảng số dùng chung bảo đảm kết nối đồng bộ với các cơ sở dữ liệu
quốc gia.
- Xây dựng, ban hành các tiêu chuẩn đối với sản phẩm văn hóa số, môi
trường văn hóa số.
- Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn dùng chung, bản đồ số văn hóa, phát
triển nền tảng phân phối nội dung số, công cụ bảo vệ bản quyền, ứng dụng phân
tích dữ liệu, công nghệ số trong một số lĩnh vực của văn hóa, nhất là công
nghiệp văn hóa.
- Phát triển nền tảng phân phối nội dung số Việt Nam; tăng tỷ lệ phân
phối nội dung Việt Nam trên nền tảng trong nước; định hình hệ thống hạ tầng
văn hóa số Việt Nam, thúc đẩy hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, sáng tạo, giải
trí và du lịch Việt Nam phát triển bền vững.
- Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển dòng văn hoá đại chúng gắn với
nguyên tắc “dân tộc hóa”, “khoa học hóa”, tăng cường vai trò chủ lưu của dòng
văn hoá bác học.
- Chuẩn hóa và số hóa toàn diện di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, tác
phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao, chữ viết, ngôn ngữ của các dân tộc
thiểu số.
- Quản trị dữ liệu bảo đảm an ninh và chủ quyền văn hóa số, bảo vệ
quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệu sáng tạo, an ninh văn hóa trên môi trường
mạng.
- Triển khai rà quét phát hiện thông tin xấu độc bảo vệ văn hóa trên môi
trường mạng.
-- 7 of 52 --
CÔNG BÁO/Số 142/Ngày 11-03-2026 52
- Phát triển hạ tầng số, tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn,
công nghệ thực tế ảo (AI, Big Data, Blockchain…) trong sản xuất, phân phối,
tiêu dùng văn hóa và quản lý văn hóa; phân tích, dự báo, đánh giá hiệu quả
chính sách và đầu tư cho lĩnh vực văn hóa.
- Thực hiện cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) trong đổi mới tổ
chức và quản lý hoạt động văn hóa (sáng tạo, phân phối, biểu diễn,...).
- Phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên nền tảng số; phát
động và duy trì chiến dịch truyền thông quốc gia về xây dựng môi trường văn
hóa số an toàn, nhân văn; triển khai xây dựng và phát triển nền tảng truyền
thông tri thức xã hội số quốc gia trên thiết bị di động, gắn với chuỗi chương
trình nội dung trọng điểm có định hướng tạo thành dòng chủ lưu định hình
chuẩn mực hành vi, ứng xử văn hóa, góp phần hình thành môi trường văn hóa
lành mạnh, văn minh, an toàn trên không gian số.
- Rà soát chức năng, nhiệm vụ, tổ chức lại hệ thống các đơn vị sự nghiệp
công lập văn hóa theo hướng tinh gọn, tự chủ, gắn với chuẩn đầu ra dịch vụ
công văn hóa.
5. Xây dựng hệ sinh thái văn hóa, thúc đẩy sáng tạo, trong đó doanh
nghiệp là động lực, người dân vừa là chủ thể vừa là trung tâm, nhận diện
và ứng xử thích hợp với tài nguyên văn hóa
- Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực văn hoá mang
bản sắc Việt Nam, gắn kết hoạt động nghiên cứu, sáng tác, sản xuất và kinh
doanh sản phẩm, dịch vụ văn hoá với khởi nghiệp sáng tạo và ứng dụng công
nghệ mới; tổ chức các chương trình, cuộc thi và liên hoan sáng tạo văn hoá -
công nghệ cấp quốc gia. Hình thành tầng lớp công chúng văn hóa hiện đại, gắn
với môi trường số và đổi mới sáng tạo.
- Xây dựng các Trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa - sáng tạo nội dung
số, trung tâm khởi nghiệp sáng tạo. Định hướng xây dựng thị trường sản phẩm
sáng tạo liên khu vực, trong đó có mục tiêu hình thành các “trung tâm sáng tạo
vùng” gắn với đô thị lớn, khu du lịch trọng điểm và cộng đồng sáng tạo nhằm
góp phần nâng cao khả năng kết nối chuỗi giá trị sáng tạo trong nước và quốc tế.
- Nhà nước hỗ trợ, dẫn dắt hình thành các nền tảng văn hóa số, không
gian sáng tạo nội dung số, môi trường sáng tạo cho cộng đồng các doanh nghiệp
và tổ chức sản xuất cung ứng sản phẩm, dịch vụ văn hóa thông qua các hoạt
động kết nối, trao đổi. Huy động sự tham gia của các doanh nghiệp để thúc đẩy
đổi mới sáng tạo văn hóa, đặc biệt là doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp
văn hóa, công nghiệp giải trí.
-- 8 of 52 --
CÔNG BÁO/Số 142/Ngày 11-03-2026 53
- Lấy di sản văn hóa là trung tâm và tài nguyên văn hóa số là thế mạnh,
hướng đến việc bảo tồn, phát huy, phát triển bền vững các giá trị văn hóa vì thế
hệ mai sau. Phát triển mô hình “Mỗi di sản - Một câu chuyện - Một sản phẩm
số - Sức sống từ truyền thống đến hiện đại”. Xây dựng thiết chế “văn hóa số”,
“bảo tàng mở”, “nhà hát di động”, “thư viện số” thân thiện với mọi lứa tuổi,
duy trì sự hiện diện thường xuyên của các giá trị văn hóa trong cộng đồng, bảo
đảm di sản được lưu giữ và phát triển trong đời sống đương đại.
- Hình thành một số đô thị di sản, phát triển kinh tế di sản, góp phần hoàn
thiện hệ sinh thái văn hóa. Xây dựng, phát triển mô hình “Di sản dẫn dắt phát
triển kinh tế” tại các khu di sản thế giới và một số đô thị di sản: Hà Nội, Quảng
Ninh, Ninh Bình, Huế...
- Thúc đẩy phát triển các sản phẩm văn hóa, thủ công mỹ nghệ, sản phẩm
công nghiệp nông thôn tiêu biểu mang bản sắc văn hóa Việt Nam, có khả năng
thương mại hóa, mở rộng thị trường; gắn bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa
truyền thống với đổi mới công nghệ, thiết kế, mẫu mã sản phẩm.
- Nghiên cứu, xây dựng và phát triển hệ thống công viên địa chất; thúc
đẩy d