CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcDo Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2026/DS-ST ngày 28 tháng 01 năm 2026
3. Địa chỉ: khu phố T, phường L, tỉnh Tây Ninh. (bà T1 có mặt).
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thùy T2, sinh năm:
1976.
Địa chỉ: khu phố C, phường L, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Quách Thị Tuyết H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Quách
Thị Tuyết H, do bà Nguyễn Thị Ngọc T đại diện theo ủy quyền, trình bày:
Theo Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án số
44/2024/QĐCNHGT-DS ngày 07/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tây
Ninh, bà Phan Mai T1 và ông Đặng Thế P có nghĩa vụ trả cho bà Hằng số tiền
411.500.000 đồng và 02 chỉ vàng 24K. Sau khi yêu cầu thi hành án, bà H phát hiện
bà T1, ông P đã chuyển nhượng quyền sử dụng đấ t thửa số 912, tờ bản đồ số 6, diện
tích 2.356m², tọa lạc tại ấ p C, xã C, tỉnh Tây Ninh cho bà Nguyễn Thị Thùy T2 theo
hợp đồng công chứng số 4905 ngày 22/5/2024, sau đó được thay thế bằng hợp đồng
công chứng số 9816 ngày 21/9/2024 tại Văn phòng C. Bà H cho rằng việc chuyển
nhượng này nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án nên yêu cầu Tòa
án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đấ t nêu trên vô hiệu.
Bị đơn bà Phan Mai T1 và ông Đặng Thế P, do bà T1 đại diện, trình bày: Vợ
chồng bà thừa nhận còn nghĩa vụ trả tiền, vàng cho bà H và hiện chưa thi hành được
do làm ăn khó khăn. Tuy nhiên, việc chuyển nhượng thửa đấ t số 912 cho bà T2 là
giao dịch mua bán thật, không phải hợp đồng giả cách để vay tiền và cũng không
nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Bà T1 cho rằng hiện vợ chồng bà vẫn còn tài
sản là thửa đấ t số 553, 579, tờ bản đồ số 8, diện tích 3.109,6m², tọa lạc tại ấ p C, xã
C, tỉnh Tây Ninh, đang bị cơ quan thi hành án kê biên để thi hành nghĩa vụ cho bà
H. Do đó, bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà H, đề nghị công nhận hiệu
lực hợp đồng chuyển nhượng giữa vợ chồng bà với bà T2. Trường hợp hợp đồng bị
tuyên vô hiệu thì vợ chồng bà đồng ý hoàn trả cho bà T2 tổng cộng 650.000.000
đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là bà Nguyễn Thị
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.