CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc129/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
2
ngày 17/9/2025 chị trở về Việt Nam sinh sống và làm việc còn anh D thì ở lại
Hàn Quốc làm việc. Từ khi chị về Việt Nam chị và anh D có liên lạc với nhau
nhưng tình cảm vợ chồng không còn, không thể cải thiện được với nhau. Nay
xét tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị
yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Tiến D.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, đơn đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt ngày 20 tháng 3
năm 2026, bị đơn là anh Lê Tiến D trình bày:
- Về tình cảm: Anh và chị Nguyễn Ngọc A kết hôn với nhau trên tinh thần
tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Đ tại Hàn Quốc vào ngày 08/01/2025. Sau khi
kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian ngắn thì
phát sinh nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân. Nguyên nhân mâu thuân
là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân, việc
của ai người đó làm, không quan tâm đến nhau. Tháng 10/2025 chị A trở về Việt
Nam sinh sống và làm việc còn anh vẫn ở lại Hàn Quốc làm việc. Đến ngày
17/03/2026 anh hết hạn lao động và trở về Việt Nam. Hiện anh được biết chị
Nguyễn Ngọc A đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh tại Tòa án
nhân dân khu vực 3 – Nghệ An. Nhận thấy, tình cảm giữa hai vợ chồng không
còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy anh cũng đồng ý ly hôn với chị
Nguyễn Ngọc A.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
- Về tài sản chung và các vấn đề liên quan đến tài sản: Anh không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
Do điều kiện đang ở xa, đi lại khó khăn. Tình trạng hôn nhân vợ chồng đã
trầm trọng nên anh đề nghị Toà án xét xử vắng mặt anh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.