CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcTHÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Phạm Văn T và Mai Hoàng N là bạn bè và ở chung khu nhà trọ N thuộc
khu phố A, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Khoảng 06 giờ 00 phút, ngày 14/11/2020, T hỏi mượn N xe mô tô hiệu
Suzuki biển số 68G1-598.98 để chiều đi lãnh lương, N đồng ý và nói T chở N đến
công ty rồi lấy xe. Khoảng 07 giờ 00 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô nói
trên chở N đến ty V tại công nghiệp N. Sau đó, T điều khiển xe đi về quán cà
phê (không rõ tên) tại khu phố Ô, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, uống cà
phê cùng bạn. Đến khoảng 09 giờ 30 phút, do cần tiền tiêu xài nên T nảy sinh ý
định đem xe mô tô của N đi cầm để lấy tiền. T điều khiển xe mô tô trên đến tiệm
cầm đồ Anh D - Đ tại phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, cầm được số tiền
15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng), T nói với ông Lê Văn M1 chủ tiệm là xe
mô tô của cô ruột nhờ đem đi cầm nên ông M1 đồng ý nhận cầm và giao tiền cho
T.
Sau đó, T bỏ về quê, tắt máy điện thoại, đến chiều cùng ngày N gọi điện
cho T nhưng không liên lạc được. Ngày 15/11/2020, T nhắn tin báo là đã cầm xe
ở tiệm cầm đồ A - Đại Phước rồi tắt máy. Khi biết T đem xe đi cầm thì ông N đã
đến Công an phường H (nay là phường B) trình báo. Công an phường H lập hồ sơ
và thu giữ vật chứng là xe mô tô biển số 68G1-598.98 tại tiệm C - Đ, rồi chuyển
hồ sơ cùng vật chứng cho Cơ quan sát điều tra Công an thành phố T (nay là Công
an Thành phố H) giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Kết luận định giá tài sản số 105/KL-HĐĐGTS ngày 06/4/2025 của Hội
đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Suzuki,
biển số 68G1-598.98, có trị giá 45.500.000 đồng (bốn mươi lăm triệu năm trăm
nghìn đồng).
Về vật chứng: Xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, biển số 68G1-598.98 thuộc
quyền sở hữu của bà Phan Thị H là mẹ của ông Mai Hoàng N, bà H giao cho ông
N quản lý sử dụng, ngày 22/01/2021, Cơ quan sát điều tra đã trả lại xe cho bà H.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Mai Hoàng N đã nhận lại xe mô tô nhãn hiệu
Suzuki, biển số 68G1-598.98 và không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.