Mục lục - 8 điều ▼
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
1. Thông tư này quy định về điều kiện, trình tự thủ tục,
thẩm quyền công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước
ngoài cấp để sử dụng tại Việt Nam bao gồm: bằng tốt
nghiệp trung học cơ sở, bằng tốt nghiệp trung học phổ
thông, giấy chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục
phổ thông, bằng cử nhân, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ và văn
bằng trình độ tương đương (sau đây gọi chung là văn
bằng).
2. Thông tư này áp dụng đối với:
a) Cục Quản lý chất lượng thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo;
b) Cơ quan chuyên môn về giáo dục thuộc Ủy ban nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là
Sở Giáo dục và Đào tạo);
c) Các tổ chức và cá nhân có liên quan đến hoạt động công
nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp để sử
dụng tại Việt Nam.
2. Thông tư này không áp dụng đối với giấy chứng nhận
kết quả học tập do cơ sở giáo dục nghề nghiệp nước ngoài
cấp cho người học sau khi hoàn thành một phần trong
chương trình đào tạo.
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
1. Thông tư này quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục,
thẩm quyền công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước
ngoài cấp để sử dụng tại Việt Nam bao gồm: bằng tốt
nghiệp trung học cơ sở, bằng tốt nghiệp trung học phổ
thông, bằng trung học nghề, bằng trung cấp, bằng cao
đẳng, bằng cử nhân, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ, văn bằng
chương trình đào tạo chuyên sâu của một số ngành, lĩnh
vực đặc thù, văn bằng khác trong hệ thống giáo dục quốc
dân của nước cấp bằng, giấy chứng nhận hoàn thành
chương trình giáo dục phổ thông, chứng chỉ sơ cấp I,
chứng chỉ sơ cấp II và chứng chỉ sơ cấp III (sau đây gọi
chung là văn bằng).
2. Thông tư này áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức và
cá nhân có liên quan đến công nhận văn bằng do cơ sở
giáo dục nước ngoài cấp để sử dụng tại Việt Nam
1. Phạm vi điều chỉnh: Bổ sung văn
bằng, chứng chỉ sơ cấp theo các loại
VBCC của hệ thống giáo dục quốc dân
quy định tại khoản 3 Điều 1 Luật Giáo
dục sửa đổi, bổ sung số 123/2025/QH15
và trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ
GDĐT quy định chi tiết điều kiện, trình
tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận văn
bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp
tại khoản 29 Điều 1 Luật số
123/2025/QH15.
2. Đối tượng áp dụng: Quy định theo
hướng ngắn gọn nhưng đầy đủ, không
liệt kê các chủ thể liên quan.
Điều 2. Công nhận văn bằng
Công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp để
sử dụng tại Việt Nam (sau đây gọi là công nhận văn bằng)
là việc công nhận trình độ của người học được ghi trên
văn bằng theo hệ thống giáo dục của nước nơi cơ sở giáo
dục nước ngoài đặt trụ sở chính và xác định mức độ tương
Bãi bỏ Nội dung chuyển vào Điều 4 của dự
thảo Thông tư.
-- 1 of 15 --
2
đương với trình độ đào tạo quy định tại Khung trình độ
quốc gia Việt Nam.
Điều 3. Nguyên tắc công nhận văn bằng
1. Công nhận văn bằng được thực hiện theo nhu cầu của
người có văn bằng, cơ quan quản lý về nhân sự hoặc đơn
vị quản lý lao động khi được sự đồng ý của người có văn
bằng (sau đây gọi chung là người đề nghị công nhận văn
bằng).
2. Văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp được công
nhận khi người học hoàn thành chương trình giáo dục bảo
đảm chất lượng theo quy định của nước nơi cơ sở giáo
dục nước ngoài đặt trụ sở chính và được cơ quan có thẩm
quyền về giáo dục của nước đó công nhận quy định tại
Điều 4. Thông tư này.
3. Văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp được miễn
thực hiện thủ tục công nhận văn bằng khi đáp ứng quy
định tại Điều 5 Thông tư này.
4. Cơ sở giáo dục đại học căn cứ các điều kiện quy định
tại Điều 4 Thông tư này tự đánh giá văn bằng để sử dụng
trong hoạt động đào tạo và tự chịu trách nhiệm trước pháp
luật về kết quả đánh giá văn bằng. Trường hợp cần thiết,
cơ sở giáo dục đại học yêu cầu người có văn bằng thực
hiện thủ tục công nhận văn bằng quy định tại Điều 7
Thông tư này.
Điều 4. Điều kiện công nhận văn bằng
1. Văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp cho người
học được công nhận khi chương trình giáo dục có thời
gian học, nghiên cứu phù hợp với Khung cơ cấu hệ thống
giáo dục quốc dân của Việt Nam và đáp ứng một trong
hai điều kiện sau:
a) Chương trình giáo dục được tổ chức kiểm định chất
lượng giáo dục của nước nơi cơ sở giáo dục nước ngoài
đặt trụ sở chính kiểm định chất lượng tương ứng với hình
thức đào tạo;
b) Cơ sở giáo dục nước ngoài được cơ quan có thẩm
quyền về giáo dục của nước nơi cơ sở giáo dục đặt trụ sở
chính cho phép đào tạo, cấp bằng hoặc đã được tổ chức
kiểm định chất lượng giáo dục của nước nơi cơ sở giáo
dục nước ngoài đặt trụ sở chính kiểm định chất lượng.
Điều 4. Điều kiện công nhận văn bằng
1. Văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp cho người
học được công nhận khi đáp ứng một trong các điều kiện
sau:
a) Cơ sở giáo dục cấp văn bằng được cơ quan có thẩm
quyền về giáo dục của nước nơi cơ sở giáo dục đặt trụ
sở chính cho phép đào tạo và cấp văn bằng đề nghị công
nhận;
b) Cơ sở giáo dục (bao gồm phân hiệu thực hiện đào
tạo) được tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục của
nước nơi cơ sở giáo dục đặt trụ sở chính kiểm định chất
lượng và văn bằng đề nghị công nhận được cơ quan có
thẩm quyền về giáo dục của nước nơi cơ sở giáo dục đặt
trụ sở chính công nhận;
c) Chương trình giáo dục được tổ chức kiểm định chất
lượng giáo dục của nước nơi cơ sở giáo dục nước ngoài
đặt trụ sở chính kiểm định chất lượng tương ứng với
phương thức đào tạo.
- 'Bỏ "chương trình giáo dục có thời
gian học, nghiên cứu phù hợp với
Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc
dân của Việt Nam" với lý do để có thể
xem xét công nhận cho các trường hợp
văn bằng đáp ứng các điều kiện công
nhận nhưng thời gian đào tạo không phù
hợp với quy định của Việt Nam do có
sự khác biệt về hệ thống giáo dục vì hệ
thống một số nước có những đặc thù
riêng.
- Sửa nội dung Điều kiện công nhận văn
bằng, chia thành điều kiện chung
(khoản 1) và các điều kiện theo phương
thức đào tạo cụ thể (khoản 2, 3, 4, 5, 6):
học trực tiếp tại nước ngoài - du học,
liên kết đào tạo tại nước ngoài, liên kết
đào tạo tại Việt Nam, học trực tuyến,
trực tiếp kết hợp trực tuyến, học từ xa,
học qua phát thanh-truyền hình… với lý
do Thông tư hiện hành chưa bao quát
hết các trường hợp văn bằng của nước
ngoài, chưa cụ thể hóa điều kiện công
nhận đối với văn bằng theo từng
phương thức đào tạo và trên cơ sở thực
tế.
- Khoản 1 là điều kiện công nhận chung
cho văn bằng cấp theo tất cả các hình
thức đào tạo:
+ Tách điều kiện về cơ sở đào tạo thành
2 điểm riêng để làm rõ từng nội dung và
bao quát hết các trường hợp văn bằng
mẫu Trường của Pháp, Bỉ, Tây Ban Nha
hoặc tại Maroc…các cơ sở giáo dục
công lập (được công nhận/kiểm định)
có thể cấp các văn bằng theo mẫu của
Trường và các văn bằng này không
được công nhận bởi cơ quan có thẩm
-- 3 of 15 --
4
2. Văn bằng được cấp bởi cơ sở giáo dục nước ngoài đang
hoạt động tại nước khác nơi cơ sở giáo dục đặt trụ sở
chính (bao gồm cả Việt Nam) được công nhận khi cơ sở
giáo dục đó được cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của
hai nước cho phép mở phân hiệu, cho phép đào tạo hoặc
phê duyệt việc hợp tác, liên kết đào tạo; thực hiện hoạt
động đào tạo theo giấy phép đồng thời đáp ứng quy định
tại khoản 1 Điều này.
2. Văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp cho người
học theo phương thức đào tạo trực tiếp tại nước nơi cơ
sở giáo dục đặt trụ sở chính nếu đáp ứng khoản 1 Điều
này.
3. Văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài có hoạt động
đào tạo, liên kết đào tạo hoặc có phân hiệu tại nước khác
nơi đặt trụ sở chính (không bao gồm Việt Nam) được
công nhận nếu đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều này
và một trong các điều kiện sau:
a) Cơ sở giáo dục thực hiện hoạt động đào tạo được tự
chủ thực hiện hợp tác đào tạo, liên kết giáo dục, liên kết
đào tạo và được công nhận chất lượng bởi cơ quan có
thẩm quyền của nước nơi thực hiện hoạt động đào tạo;
b) Cơ sở giáo dục thực hiện hoạt động đào tạo được tự
chủ thực hiện hợp tác đào tạo, liên kết giáo dục, liên kết
đào tạo và được cho phép đào tạo, cấp bằng bởi cơ quan
có thẩm quyền về giáo dục của nước nơi thực hiện hoạt
động đào tạo;
c) Cơ sở giáo dục thực hiện hoạt động đào tạo được tự
chủ thực hiện hợp tác đào tạo, liên kết giáo dục, liên kết
đào tạo và được kiểm định chất lượng bởi cơ quan có
thẩm quyền về kiểm định chất lượng của nước nơi thực
hiện hoạt động đào tạo;
quyền về giáo dục. Trước đây nội dung
này được quy định tại điểm a khoản 1
Điều 109. Luật Giáo dục 2019. Tuy
nhiên, Luật số 123/2025/QH15 không
quy định cụ thể điều kiện công nhận văn
bằng mà giao Bộ trưởng quy định cụ
thể trong Thông tư.
- Điều kiện công nhận văn bằng học
theo phương thức đào tạo trực tiếp;
- Theo quy định đào tạo tiến sĩ tại Việt
Nam tiến sĩ của Việt Nam nghiên cứu
sinh phải thực hiện tối thiểu 80% thời
gian nghiên cứu và 20% môn học nên
yêu cầu tối thiểu đối với chương trình
tiến sĩ phải có thời gian tại nước sở tại.
Thực tế cho thấy nhiều chương trình
tiến sĩ học rất ít ngày tại nước sở tại mặc
dù trường xác nhận là hình thức chính
quy tại trường nên cần có quy định tối
thiểu có học tập, nghiên cứu tại nước sở
tại để tránh việc lạm dụng của các cơ sở
nước ngoài nhưu Philipine, Malaysia
chỉ yêu cầu ngắn ngày tại trường.
- Chia khoản 2 Thông tư hiện hành
thành khoản 3 và 4 dự thảo Thông tư để
tách riêng điều kiện công nhận văn bằng
liên kết, hợp tác đào tạo học ở nước thứ
3 và học tại Việt Nam do điều kiện phê
duyệt liên kết đào tạo, hợp tác đào tạo ở
mỗi nước là khác nhau;
- Khoản 3 dự thảo Thông tư là điều kiện
công nhận văn bằng học tại nước thứ 3;
được chia nhỏ thành 5 điều kiện nhỏ
ứng với từng trường hợp cụ thể của cơ
sở đào tạo và chương trình đào tạo,
nhằm bao quát hết các trường hợp văn
bằng do trường Australia, Hoa Kỳ,
Anh...cấp bằng và học tại các cơ sở giáo
dục tư thục của Singapore hoặc Thụy
Sĩ.
-- 4 of 15 --
5
3. Văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp cho người
học theo hình thức đào tạo trực tuyến, đào tạo trực tiếp
kết hợp trực tuyến được công nhận khi đáp ứng quy định
tại điểm a khoản 1 Điều này và một trong hai điều kiện
sau:
a) Chương trình đào tạo được Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp
phép đào tạo tại Việt Nam khi người học lưu trú và học
tập tại Việt Nam;
b) Chương trình đào tạo được cơ quan có thẩm quyền về
giáo dục của nước nơi tổ chức đào tạo cấp phép khi người
học lưu trú và học tập tại nước đó.
d) Chương trình giáo dục được cấp phép thực hiện bởi
cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của nước nơi thực
hiện hoạt động đào tạo;
e) Chương trình giáo dục được kiểm định chất lượng bởi
cơ quan có thẩm quyền về kiểm định chất lượng của
nước nơi thực hiện hoạt động đào tạo.
4. Văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài có hoạt động
giáo dục, đào tạo, liên kết giáo dục, liên kết đào tạo hoặc
mở phân hiệu tại Việt Nam cấp được công nhận khi cơ
sở giáo dục đó được cơ quan có thẩm quyền về giáo dục
của Việt Nam cho phép hoạt động giáo dục, đào tạo, liên
kết giáo dục, liên kết đào tạo, mở phân hiệu và đáp ứng
khoản 1 Điều này.
5. Văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp cho người
học theo phương thức đào tạo từ xa (thực hiện trực
tuyến; trực tuyến kết hợp trực tiếp hoặc phương thức từ
xa khác như thư tín, phát thanh - truyền hình…) được
công nhận khi đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều này
và một trong hai điều kiện sau:
a) Chương trình đào tạo được cơ quan có thẩm quyền về
giáo dục của Việt Nam cho phép đào tạo khi người học
lưu trú và học tập tại Việt Nam;
b) Chương trình đào tạo được cơ quan có thẩm quyền
về giáo dục của nước nơi tổ chức đào tạo cho phép khi
người học lưu trú và học tập tại nước đó.
6. Văn bằng giáo dục phổ thông, văn bằng giáo dục đại
học do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp được công nhận
khi đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều này và một trong
các điều kiện quy định tại khoản 2, 3, 4, 5 Điều này
tương ứng với các phương thức đào tạo. Văn bằng giáo
dục nghề nghiệp do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp được
công nhận khi đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều này
và một trong các điều kiện quy định tại khoản 2, 3, 4, 5
- Bổ sung khoản 4: Điều kiện công nhận
văn bằng liên kết, hợp tác đào tạo tại
Việt Nam;
- Bỏ yêu cầu phải thực hiện hoạt động
đào tạo theo giấy phép và theo quy định
nhằm nâng cao trách nhiệm và quyền tự
chủ trong hoạt động liên kết đào tạo với
nước ngoài cho các cơ sở giáo dục đại
học. Hơn nữa việc giám sát là việc của
cơ quan quản lý nhà nước, hậu kiểm nếu
phát hiện sai phạm. Việc này cũng giúp
đẩy nhanh quá trình và thời gian xử lý
công nhận văn bằng được cấp trong các
chương trình LKĐT.
Dự thảo Thông tư cơ bản giữ nguyên
điều kiện công nhận văn bằng từ xa/trực
tuyến của Thông tư hiện hành, có bổ
sung thêm hình thức từ xa, liệt kê rõ các
phương thức đào tạo của hình thức này.
Bổ sung khoản 6. Lý do:
- Điều khoản chung về công nhận văn
bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp
yêu cầu thêm "văn bằng phải bảo đảm
tương đương về điều kiện trình độ tuyển
đầu vào, tương thích về thời lượng học
tập tính theo năm học hoặc theo số tín
-- 5 of 15 --
6
4. Việc công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài
cấp cho người học bị ảnh hưởng bởi chiến tranh, thiên tai,
dịch bệnh, hỏa hoạn và các trường hợp bất khả kháng khác
do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định.
Điều này tương ứng với các phương thức đào tạo; đồng
thời bảo đảm tương đương về điều kiện trình độ tuyển
đầu vào, tương thích về thời lượng học tập tính theo năm
học hoặc theo số tín chỉ tích lũy ở cuối khóa học theo
quy định của các bậc trình độ Việt Nam.
7. Bằng tiến sĩ do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp cho
người học theo phương thức đào tạo trực tiếp tại cơ sở
đào tạo nếu phải thực hiện nghiên cứu thực địa tại nước
khác được công nhận nếu đáp ứng quy định tại khoản 1
Điều này và người học phải có thời gian lưu trú, học tập,
nghiên cứu tại cơ sở đào tạo theo quy định của cơ quan
có thẩm quyền về giáo dục của nước nơi thực hiện hoạt
động đào tạo.
Bằng tiến sĩ của chương trình đào tạo theo hình thức
công nhận kết quả nghiên cứu, công trình khoa học đã
có của người học được công nhận khi đáp ứng quy định
tại khoản 1 Điều này và người học được tiếp nhận vào
chương trình đào tạo tiến sĩ, có người hướng dẫn khoa
học hoặc hội đồng học thuật phụ trách, thực hiện bảo vệ
luận án hoặc báo cáo tổng hợp trước hội đồng; các công
trình khoa học sử dụng để xét cấp bằng phải phù hợp
với lĩnh vực đào tạo, được công bố trên các ấn phẩm
khoa học có phản biện và thể hiện rõ vai trò, đóng góp
của người học.
8. Việc công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước
ngoài cấp cho người học bị ảnh hưởng bởi chiến tranh,
thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, các trường hợp bất khả
kháng và các trường hợp đặc thù khác do Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo quyết định.
chỉ tích lũy ở cuối khóa học theo quy
định của các bậc trình độ Việt Nam" vì
yêu cầu đầu vào của các nước có sự
khác biệt so với VN và giáo dục nghề
nghiệp rất đa dạng, nếu không có thêm
điều kiện này rất khó xác định trình độ
(VD: tại Singapore, Australia nhiều
chương trình trung cấp, cao đẳng tiếp
nhận học viên từ lớp 10, lớp 11) và thời
gian đào tạo ngắn hơn (6 - 8 tháng) so
với yêu cầu của các chương trình đào
tạo tương ứng tại VN (01-03 năm).
Bổ sung các trường hợp đặc thù.
Bổ sung khoản 7. Lý do:
Từ thực tiễn thực hiện công nhận văn
bằng tiến sĩ gặp nhiều khó khăn do
chương trình đào tạo tiến sĩ ở một số
quốc gia khá phức tạp (Philipines,
Malaysia...), do đó cần bổ sung quy
định đối với công nhận chương trình
đào tạo tiến sĩ bảo đảm chất lượng theo
hướng: Trường hợp chương trình đào
tạo tiến sĩ theo hình thức công nhận kết
quả nghiên cứu, công trình khoa học đã
có của người học, việc công nhận văn
bằng chỉ được xem xét khi đáp ứng quy
định tại khoản 1 và người học được tiếp
nhận vào chương trình đào tạo tiến sĩ,
có người hướng dẫn khoa học hoặc hội
đồng học thuật phụ trách; người học
thực hiện bảo vệ luận án hoặc báo cáo
tổng hợp trước hội đồng; các công trình
khoa học sử dụng để xét cấp bằng phải
phù hợp với lĩnh vực đào tạo, được
công bố trên các ấn phẩm khoa học có
phản biện và thể hiện rõ vai trò, đóng
góp của người học.
-- 6 of 15 --
7