Mục lục - 3 điều ▼
Điều 35. , điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266,
Điều 273. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phùng Thị
Thúy L đối với yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc P tiếp tục
thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập vào ngày
09/5/2013 giữa ông Phùng Phú P1, bà Nguyễn Thị Ngọc P và bà Phùng Thị
Thúy L.
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập vào ngày
09/5/2013 giữa ông Phùng Phú P1, bà Nguyễn Thị Ngọc P và bà Phùng Thị
Thúy L bị vô hiệu.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phùng Thị
Thúy L đối với yêu cầu khởi kiện huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
BT164943 do Uy ban nhân dân huyện B cấp ngày 06/5/2014 cho bà Nguyễn Thị
Ngọc P.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ
thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 18/12/2025, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Nguyễn
Ngọc T nộp đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ
thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật: Kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử phúc
thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng các quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn giữ nguyên bản án sơ
-- 4 of 8 --
5
thẩm số 38/2025/DSST ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu
vực 13 – Đồng Nai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa; căn
cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Đồng Nai.
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Phùng Thị Thúy L làm
trong thời hạn luật định, có hình thức, nội dung và phạm vi kháng cáo phù hợp với
quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên đủ
điều kiện được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Phùng Thị Thúy L, Hội đồng xét xử
thấy rằng:
[2.1] Về hình thức hợp đồng: Hợp đồng chuyển nhượng được lập thành
văn bản có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã P (nơi có đất) được thực hiện
đúng theo quy định tại Điều 119, 502 của Bộ luật dân sự và Điều 167 của Luật
đất đai năm 2013.
[2.2] Về nội dung hợp đồng:
Nguyên đơn bà L cho rằng việc xác lập hợp đồng chuyển nhượng giữa hai
bên là sự tự nguyện giao kết, bà P cho rằng vợ chồng bà tự nguyện ký hợp đồng
chuyển nhượng với mục đích do bà L nhờ ký hợp đồng chuyển nhượng bổ sung
hồ sơ vay tiền ngân hàng nên bà P chủ động nhờ người quen là bà Nguyễn Thị
T1 – Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P hợp đồng chuyển nhượng, bà P cho rằng
đây là hợp đồng giả cách thực tế không có việc chuyển nhượng, không có việc
giao nhận tiền, đồng thời hợp đồng chuyển nhượng được xác lập tại Ủy ban
nhân dân xã P chỉ có bà P, ông P1 đến và ký vào hợp đồng chuyển nhượng, bà L
không đến và không ký. Xét thấy, lời khai trình bày của bà P phù hợp với lời
trình bày của ông Nguyễn Thanh B - Cán bộ địa chính xã P, lời trình bày của bà
Nguyễn Thị T1 và phù hợp với tài liệu lưu trữ của Ủy ban nhân dân xã P cung
cấp, thể hiện hợp đồng chuyển nhượng chỉ có chữ ký của bà P, ông P1 phía bên
A (bên chuyển nhượng), không có chữ ký của bà L phía bên B (bên nhận chuyển
nhượng), như vậy văn bản được chứng thực không hợp pháp khi một bên tham
gia hợp đồng không đến và không ký, nguyên đơn không chứng minh được sự
tự nguyện giao kết hợp đồng và việc UBND xã P hợp đồng đã vi phạm trình tự,
thủ tục khi chứng thực quy định tại Điều 36 Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày
16/02/2015.
Mặc khác, từ năm 2013 cho đến nay bà P vẫn là người trực tiếp quản lý sử
dụng đất trồng cây cao su trên đất (là loại cây trồng lâu năm) và thu hoạch thành
-- 5 of 8 --
6
quả trên đất nhưng bà L không có ý kiến ngăn cản hoặc trình báo các cơ quan có
thẩm quyền xử lý hoặc tranh chấp khởi kiện đối với diện tích đất đã nhận
chuyển nhượng. Ngay sau khi xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất, bà L cho rằng tự nguyện để lại đất cho bà P thu hoạch hoa lợi trên đất để có
nguồn thu nhập nhưng bà L không thực hiện thủ tục sang tên cũng như không
yêu cầu bà P cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc lưu giữ mà
lại do bà P là người trực tiếp quản lý, giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho đến nay. Đến ngày 06/5/2014, bà P đăng ký biến động đứng tên một mình
trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT164943 trên cơ sở những người
thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Phùng Phú P1 thoả thuận phân chia di sản,
trong đó bố của ông P1 và bà L là ông Phùng Phú T2 từ chối nhận tài sản thừa
kế của ông P1 để giao quyền sử dụng đất cho bà P, nhưng bà L lại không có ý
kiến gì tranh chấp liên quan về vấn đề này.
Bà L cho rằng nhận chuyển nhượng thửa đất trên với số tiền chuyển
nhượng 2,7 tỷ đồng, ngoài việc trên hợp đồng chuyển nhượng thể hiện đã thanh
toán xong phía bà L không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác thể hiện
việc giao nhận tiền thanh toán chuyển nhượng cho ông P1, bà P, trong khi lời
trình bày của bà L cũng không được bà P thừa nhận.
Ngoài ra, bà L còn cho rằng sau khi ông P1 mất, do thương bà P và các
cháu nên bà L tự nguyện để đất cho bà P tiếp tục sử dụng đất, nhưng vấn đề này
không được bà P thừa nhận. Trong khi đó căn cứ vào các văn bản thỏa thuận
phân chia tài sản thừa kế ngày 20/02/2014 và văn bản từ chối nhận tài sản thừa
kế ngày 17/02/2014 của ông Phùng Phú T2 – cha ruột của ông P1 vào thời điểm
ông P1 chết. Các văn bản trên thể hiện ông P1, bà P còn nhiều tài sản khác gồm
09 thửa đất, 02 xe ô tô, 01 doanh nghiệp, 02 tài khoản ngân hàng nên việc bà L
cho rằng bà P khó khăn không có tài sản để nuôi con là không phù hợp.
Do quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm phía bà L không yêu cầu xem xét
giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến hợp đồng
chuyển nhượng nói trên nên cần tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi các bên
có yêu cầu.
Đối với chứng cứ là giấy vay tiền thể hiện ngày 20/5/2013 do người đại
diện theo uỷ quyền của nguyên đơn cung cấp tại phiên toà phúc thẩm và cho
rằng chứng cứ này nhằm chứng minh khẳng định về tài chính của phía bị đơn
thời điểm giao dịch chuyển nhượng đang gặp khó khăn, đây là số tiền vay mượn
không phải tiền chuyển nhượng hợp đồng và không yêu cầu Hội đồng xét xử
xem xét giải quyết số tiền trên trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-- 6 of 8 --
7
Từ những phân tích và nhận định nêu trên Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên xử
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phùng Thị Thúy
L là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Phía nguyên đơn kháng cáo nhưng
không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào mới chứng minh cho yêu cầu kháng
cáo của mình là có căn cứ nên kháng cáo của bà L không được Hội đồng xét xử
chấp nhận. Cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 38/2025/DSST ngày 11
tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đồng Nai.
[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn bà L phải chịu theo quy định.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Nai
tại phiên tòa được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người đại diện theo uỷ quyền của
nguyên đơn bà Phùng Thị Thúy L.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2025/DSST ngày 11 tháng 12
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đồng Nai:
Căn cứ các Điều 117, 119, 122, 123, 124, 401, 407, 500, 501, 502, 503 Bộ
luật dân sự năm 2015; Điều 166, 167, 168, 179, 188 Luật đất đai 2013; Điều 36
Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015; Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1
Điều 273. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phùng Thị
Thúy L đối với yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc P tiếp tục
thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập vào ngày
09/5/2013 giữa ông Phùng Phú P1, bà Nguyễn Thị Ngọc P và bà Phùng Thị
Thúy L.
2. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập ngày
09/5/2013 giữa ông Phùng Phú P1, bà Nguyễn Thị Ngọc P và bà Phùng Thị
Thúy L vô hiệu.
Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến hợp đồng
chuyển nhượng nói trên sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi các bên có yêu
cầu.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phùng Thị
Thúy L đối với yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành
-- 7 of 8 --
8
BT164943 do Uy ban nhân dân huyện B cấp ngày 06/5/2014 cho bà Nguyễn Thị
Ngọc P.
4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 (Ba triệu) đồng bà L
phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng chi phí tố tụng bà L đã nộp.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Phùng Thị Thúy L phải chịu
300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba
trăm ngàn) đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006266 ngày 05/7/2022 của
Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước, nay là Phòng
Thi hành án dân sự khu vực 13 - Đồng Nai.
6. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phùng Thị Thúy L phải chịu số tiền
300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo
Biên lai thu tiền số 0001907 ngày 21/01/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đồng
Nai.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP Đồng Nai;
- TAND KV 13 - Đồng Nai;
- VKSNDKV13 - Đồng Nai;
- PTHADS KV13 - Đồng Nai;
- Các đương sự;
- Lưu: HSVA, Tổ HCTP, Tòa DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký và đóng dấu)
Nguyễn Thị Nga
-- 8 of 8 --