Mục lục - 3 điều ▼
Điều 11. của Hợp đồng tín dụng số 61110003676452000 mà hai bên đã thỏa thuận và
ký kết ngày 14/01/2023. Chính vì những lẽ trên, JIVF khởi kiện Lê Văn H yêu cầu
Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đà Nẵng giải quyết buộc Lê Văn H phải thanh toán
một lần toàn bộ khoản nợ cho JIVF, số tiền tạm tính đến ngày 05/5/2026 là
70.185.979 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 38.746.427 đồng; nợ lãi: 19.567.851 đồng; lãi
quá hạn là: 11.715.701 đồng; Phí quản lý khoản vay là: 156.000 đồng. Buộc Lê Văn
H phải tiếp tục thanh toán cho JIVF tiền lãi phát sinh, lãi quá hạn và phí từ sau ngày
05/5/2026 cho đến khi hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số
61110003676452000 ngày 14/01/2023.
* Bị đơn là ông Lê Văn H mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần
nhưng không giao nộp các tài liệu chứng cứ và không có ý kiến trình bày đối với yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa
và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về pháp luật áp dụng: Căn cứ vào “Giấy đề nghị vay kiêm phương án sử
dụng vốn ngày 01/01/2023 của ông Lê Văn H và Hợp đồng tín dụng số: CIF:
000379186; số Hợp đồng: 61110003676452000 ngày 14/01/2023” giữa ông Lê Văn
H với Công ty T1 (JIVF). Các bên có tranh chấp, Công ty T1 (JIVF) khởi kiện, yêu
cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Văn H phải trả số tiền còn nợ. Vì vậy Tòa án xem
xét áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Các Tổ chức tín dụng có hiệu lực pháp
luật tại thời điểm các bên giao kết hợp đồng và pháp luật có liên quan để giải quyết
vụ án.
[2] Về thẩm quyền: Bị đơn là ông Lê Văn H có địa chỉ tại thôn L, xã H, thành
phố Đà Nẵng. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26; Điều 35 và điểm a khoản 1
Điều 39. của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 nên vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Đà Nẵng.
[3] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được Tòa án triệu tập
hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bị đơn là ông Lê Văn H vẫn vắng mặt không lý do. Vì
vậy, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa
đổi, bổ sung năm 2025, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[4] Về nội dung: Vào ngày 14/01/2023, ông Lê Văn H đã ký “Hợp đồng tín
dụng” với Công ty T1 (JIVF) để vay tiền mua hàng hoá là xe máy: SH125i- phanh
CBS; Biển kiểm soát: 43K1- 62394; Mã số xe số: 0201197; số khung:
RLHJF9502NY186195; số máy: JF95E -0201197. Công ty T1 đã giải ngân để ông H
thanh toán tiền mua hàng. Theo đại diện nguyên đơn trình bày thì ông H đã vi phạm
nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết. Tại phiên tòa hôm nay,
-- 2 of 4 --
3
đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bà ông Lê Văn H phải
trả số tiền tính đến hết ngày 05/5/2026 là 70.185.979 đồng. Bị đơn là ông Lê Văn H
vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
[5] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Trong quá trình thực hiện
hợp đồng tín dụng thì ông H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán như đã cam kết trong
Hợp đồng tín dụng, bị đơn là bên có lỗi trong việc thực hiện các thỏa thuận đã ký
kết, do vậy yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả số tiền nợ gốc, nợ lãi và phí
tính đến 05/5/2026 là 70.185.979 đồng là có căn cứ, phù hợp với “Hợp đồng tín dụng
số: CIF: 000379186; số Hợp đồng: 61110003676452000 ngày 14/01/2023” mà các
bên đã ký kết; phù hợp với Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 91 của Luật
Các Tổ chức tín dụng năm 2010 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc, nợ lãi
và các khoản phí chưa thanh toán và tiền lãi, phí phát sinh kể từ ngày sau ngày xét
xử theo như hợp đồng tín dụng mà ông Lê Văn H đã ký kết cho đến khi tất toán xong
khoản vay.
[6] Bị đơn là ông Lê Văn H không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.
[7] Án phí dân sự sơ thẩm, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp
nhận nên cần buộc bị đơn là ông Lê Văn H phải chịu án phí dân sự theo giá ngạch là
70.185.979 đồng x 5% = 3.509.298 đồng.
[8] Hoàn trả cho Công ty T1 JACCS số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147;
Điều 271. và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2025.
- Căn cứ vào các Điều 117, 119, 274, 275, 280, 351, 463 và 466 của Bộ luật
Dân sự.
- Căn cứ vào Điều 91 và Điều 98 Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa
đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ vào Điều 7 Nghị Quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của
Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định
của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty T1 JACCS về việc:
“Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn là ông Lê Văn H.
1. Buộc ông Lê Văn H phải trả cho Công ty T1 JACCS số tiền tính đến ngày
05/5/2026 là 70.185.979 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 38.746.427 đồng; nợ lãi:
-- 3 of 4 --
4
19.567.851 đồng; lãi quá hạn là: 11.715.701 đồng; Phí quản lý khoản vay là:
156.000 đồng).
Buộc ông Lê Văn H phải tiếp tục trả cho Công ty T1 JACCS số tiền lãi và phí
phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số: CIF: 000379186; số Hợp đồng:
61110003676452000 ngày 14/01/2023 kể từ ngày 06/5/2026 cho đến khi tất toán
xong khoản vay.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
+ Buộc ông Lê Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.509.298đ (ba triệu,
năm trăm lẻ chín nghìn, hai trăm chín mươi tám đồng).
+ Hoàn trả cho Công ty T1 JACCS số tiền tạm ứng án phí 1.575.441đ (một
triệu, năm trăm bảy mươi lăm nghìn, bốn trăm bốn mươi mốt đồng) đã nộp theo biên
lai thu số 0000056 ngày 05 tháng 01 năm 2026 của Thi hành án dân sự thành phố Đà
Nẵng.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng
cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa
được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc kể từ ngày niêm
yết trích sao bản án
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật
Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND Khu vực 4 – Đà Nẵng;
- Thi hành án dân sự TP Đà Nẵng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Trịnh Đức Thiện
-- 4 of 4 --