CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcQuyết định hoãn phiên tòa số 67/2026/QĐST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2026, giữa
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
gia đình. Ông T cùng với bà N có làm “Giấy mượn tiền” đề ngày 25/02/2024, bà
N ký tên, ghi họ tên dưới phần “Người mượn”. Sau 02 tháng kể từ thời điểm giao
đủ số tiền 73.000.000 đồng, bà N không thanh toán cho ông T đúng như thỏa
thuận mặc dù ông T nhiều lần nhắc nhở yêu cầu thanh toán.
Nay ông T yêu cầu Tòa án buộc bà N có trách nhiệm trả cho ông số tiền vay
còn nợ là 73.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi với mức lãi suất 0,83%/tháng, kể từ
ngày 25/3/2024 đến ngày 25/4/2026 là 25 tháng. Ngoài ra, ông T không có yêu
cầu gì thêm.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 06/02/2026, bị đơn bà Phạm Thị N trình bày:
Trước đây, bà không nhớ rõ thời gian có vay của ông Nguyễn Thanh T số
tiền 30.000.000 đồng, mục đích vay tiền để lo việc gia đình, vay không thời hạn,
lãi suất thỏa thuận 01%/tháng. Thời gian sau bà vay thêm của ông T 02 lần, mỗi
lần vay 10.000.000 đồng, tổng cộng số tiền bà đã vay của ông T là 50.000.000
đồng, không có làm giấy tờ. Bà có đóng lãi cho ông T mỗi tháng 300.000 đồng,
đóng được 05 hay 06 tháng thì ngưng và chưa trả được vốn gốc. Ông T yêu cầu bà
làm “Giấy mượn tiền” đề ngày 25/02/2024 thì bà đồng ý và ký tên vào giấy mà
ông T đã cung cấp cho Tòa án khi khởi kiện. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông T
thì bà đồng ý trả số tiền vay còn nợ là 73.000.000 đồng nhưng bà đã lớn tuổi nên
yêu cầu ông T bớt phần tiền lãi và Tòa án xem xét miễn án phí cho bà.
Theo biên bản về việc ghi nhận ý kiến ngày 25/3/2026, tại phiên tòa, người
làm chứng ông Trần Văn A trình bày:
Ông có quen biết với ông Nguyễn Thanh T, bà Phạm Thị N, không có mối
quan hệ bà con, không có mâu thuẫn. Theo ông được biết, giữa ông T với bà N có
thỏa thuận vay số tiền gốc 73.000.000 đồng, vay có lãi suất, mục đích bà N vay
tiền để có vốn làm ăn nhưng thỏa thuận lãi suất bao nhiêu, thời hạn vay thì ông
không biết. Ông có chứng kiến bà N ký, ghi họ tên vào “Giấy mượn tiền” đề ngày
25/02/2024 do ông T cung cấp kèm theo đơn khởi kiện và ông cũng có ký tên, ghi
họ tên phía dưới dòng “Người làm chứng”.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long đã tống đạt
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.