Điều 58. và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017
và năm 2025),
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H3 03 (ba) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày người bị kết án Huỳnh Văn H3 vào cơ sở giam
giữ chấp hành án phạt tù, được trừ đi thời gian đã bị tạm giam từ ngày 05/3/2025
đến ngày 28/3/2025.
3. Biện pháp ngăn chặn:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 113; khoản 4 Điều 123 và khoản 3 Điều 124
của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh theo
quyết định của Hội đồng xét xử đối với các bị cáo Đỗ Ngọc M và Huỳnh Văn
H3 để bảo đảm cho việc thi hành án.
4. Về dân sự và Thi hành án dân sự:
Áp dụng Điều 579 và Điều 580 của Bộ luật Dân sự,
Số tiền thiệt hại còn lại là 125.341.387.809 đồng (một trăm hai mươi lăm
tỷ, ba trăm bốn mươi mốt triệu, ba trăm tám mươi bảy nghìn, tám trăm lẻ chín
đồng); số tiền bị cáo Đỗ Ngọc M đã nộp 100.000.000 đồng (một trăm triệu
đồng) (Biên lai thu tiền số 0000393 ngày 10/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh
Đồng Nai) được cấn trừ vào số tiền này; còn lại 125.241.387.809 đồng (một
trăm hai mươi lăm tỷ, hai trăm bốn mươi mốt triệu, ba trăm tám mươi bảy nghìn,
tám trăm lẻ chín đồng). Công ty Cổ phần T10 có trách nhiệm phải hoàn trả cho
Tỉnh ủy Đ3 số tiền 125.241.387.809 đồng (một trăm hai mươi lăm tỷ, hai trăm
bốn mươi mốt triệu, ba trăm tám mươi bảy nghìn, tám trăm lẻ chín đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, các biện pháp tư pháp và
quyền kháng cáo của các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Ngày 23/01/2026, bị cáo Huỳnh Văn H3 kháng cáo xin được hưởng án
treo.
Ngày 29/01/2026, bị cáo Đỗ Ngọc M kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
-- 17 of 28 --
18
Ngày 30/01/2026, bị cáo Quách Văn Đ2 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
hoặc xin miễn trách nhiệm hình sự.
Ngày 11/02/2026, Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc
thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số
07/QĐ-VPT3-HS, kháng nghị một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Toà án cấp
phúc thẩm xét xử vụ án theo hướng:
- Áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật
Hình sự đối với các bị cáo Quách Văn Đ2, Đỗ Ngọc M, Huỳnh Văn H3 và tăng
hình phạt đối với bị cáo Quách Văn Đ2;
- Buộc các bị cáo Quách Văn Đ2, Đỗ Ngọc M, Huỳnh Văn H3 liên đới bồi
thường thiệt hại cho Tỉnh ủy Đ3 125.341.387.809 đồng;
- Buộc Công ty Cổ phần T10 phải nộp lại số tiền 125.341.387.809 đồng
sung công quỹ Nhà nước;
- Tiếp tục duy trì các Lệnh kê biên tài sản và các Lệnh phong toả tài khoản
mà Cơ quan điều tra đã ban hành để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của các bị cáo
Quách Văn Đ2, Đỗ Ngọc M, Huỳnh Văn H3.
Diễn biến tại phiên toà phúc thẩm: Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo Đỗ
Ngọc M, Quách Văn Đ2, Huỳnh Văn H3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội
giống như bản án sơ thẩm đã xét xử và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo ban đầu.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ
Chí Minh tham gia phiên tòa rút toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số
07/QĐ-VPT3-HS.
Bị cáo M trình bày: Bị cáo xác định bản án sơ thẩm xử bị cáo về tội “Vi
phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” là
không oan. Tuy nhiên, theo bị cáo thì bản án sơ thẩm xác định bị cáo giữ vai trò
chính trong vụ án là không đúng. Vì mặc dù bị cáo được phân công làm Trưởng
Ban chỉ đạo, nhưng nhiệm vụ của bị cáo chỉ đơn thuần là quản lý hành chính, bị
cáo không có chuyên môn trong việc quản lý doanh nghiệp, không có kiến thức
trong việc xác định giá trị doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hoá; việc xác
định giá đất là thuộc trách nhiệm của Tổ giúp việc và việc thống nhất giá đất này
là do tập thể quyết định; bị cáo đã làm hết sức mình; hiện bị cáo đã ngoài 60
tuổi, đang nuôi mẹ già 90 tuổi; mặt khác, tại cấp sơ thẩm bị cáo đã nộp
100.000.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả của vụ án, nhưng bản án sơ
thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51
Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án
treo.
Bị cáo Đ2 trình bày: Bị cáo xác định bản án xét xử bị cáo về tội “Vi phạm
quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” là không
oan sai. Hiện bị cáo bị bệnh suy thận mức độ IV, cùng nhiều bệnh lý nghiêm
trọng khác, hiện nay phải nằm điều trị tại bệnh viện và phải ngồi xe lăn. Bị cáo
-- 18 of 28 --
19
xin miễn trách nhiệm hình sự, hoặc miễn hình phạt, hoặc xin giảm nhẹ hình
phạt.
Bị cáo H3 trình bày: Bị cáo xác định bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội
“Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng
phí” là đúng, không oan sai. Việc xác định giá trị nhóm 04 tài sản (02 trạm
dừng, nhà máy gạch, xí nghiệp X1) thì đã được Tỉnh uỷ đồng ý là xác định theo
sổ sách, nếu sau này bán được giá cao hơn thì số tiền chênh lệch này phải được
nộp về cho Tỉnh uỷ. Việc bị cáo chủ trì cuộc họp ngày 28/10/2015 là do đã quá
thời hạn theo chỉ đạo của Tỉnh uỷ 02 tháng và cuộc họp có sự thống nhất của 8/8
thành viên, không phải ý kiến cá nhân của bị cáo. Hiện nay hậu quả của vụ án đã
được khắc phục toàn bộ; bị cáo đã ngoài 70 tuổi và đặc biệt là vợ bị cáo đang bị
ung thư giai đoạn cuối, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án
treo để có điều kiện chăm sóc vợ.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ
Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:
1. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo
Quách Văn Đ2, Đỗ Ngọc M, Huỳnh Văn H3 làm trong hạn luật định nên đề nghị
Hội đồng xét xử chấp nhận về mặt hình thức.
2. Về yêu cầu kháng cáo của các bị cáo:
- Về tội danh: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời thừa
nhận của các bị cáo tại phiên toà thì trong quá trình thực hiện cổ phần hoá Tổng
Công ty T10, các bị cáo M, Đ2 và H3 đã không thực hiện đúng các quy định của
pháp luật trong việc xác định giá trị các tài sản của doanh nghiệp gồm 49.189m2
đất, Trạm dừng X, Trạm dừng T, Xí nghiệp xây dựng, Nhà máy gạch, gây thất
thoát tài sản Nhà nước tổng cộng 125.341.387.809 đồng. Do đó, bản án sơ thẩm
xét xử các bị cáo M, Đ2 và H3 về tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài
sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” theo quy định tại khoản 3 Điều 219 Bộ
luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Về hình phạt: Trong vụ án này bị cáo M là Trưởng Ban Chỉ đạo nên giữ
vai trò chính, bị cáo Đ2 là Tổng Giám đốc Tổng Công ty T10 là Phó Ban Chỉ
đạo giữ vai trò sau bị cáo M, bị cáo H3 là Phó Giám đốc Sở T và là thành viên
Ban Chỉ đạo nên có vai trò thấp hơn bị cáo M và bị cáo Đ2. Bản án sơ thẩm đã
áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, xem xét đầy đủ vai trò và nhân thân của
từng bị cáo và mức án mà bản án sơ thẩm đã tuyên đối với mỗi bị cáo là phù
hợp. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, Tổng Công ty T10 đã chuyển toàn bộ số
tiền thất thoát vào tài khoản của Tỉnh ủy Đ3 và hậu quả của vụ án đã được khắc
phục toàn bộ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại
điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho cả 03 bị cáo; đồng thời căn cứ điểm
b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự sửa bản án sơ thẩm theo hướng
giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo M, Đ2 và H3.
Các Luật sư bào chữa cho bị cáo Đỗ Ngọc M phát biểu: Trong vụ án này,
mọi vấn đề liên quan đến cổ phần hoá Tổng Công ty T10 đều có ý kiến chỉ đạo
-- 19 of 28 --
20
từ Thường trực Tỉnh ủy Đ3; các bị cáo chỉ làm công tác tham mưu, mỗi bị cáo
làm một công việc khác nhau, nên không phải là vụ án phạm tội có tổ chức và
xác định bị cáo M giữ vai trò chính là không đúng. Bị cáo M không có chuyên
môn trong lĩnh vực quản lý doanh nghiệp, thẩm định giá trị tài sản; công việc
của bị cáo đơn thuần chỉ là quản lý hành chính; các Tờ trình của bị cáo M rất đầy
đủ, trung thực, thể hiện ý kiến của tập thể Ban Chỉ đạo; bị cáo đã quá tin tưởng
vào cấp dưới. Hiện nay hậu quả của vụ án đã được khắc phục toàn bộ, như vậy
bị cáo M có các tình tiết giảm nhẹ tại các điểm b, s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật
Hình sự; mặt khác, Tỉnh uỷ Đồng Nai tiếp tục có văn bản xin giảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo; đồng thời bị cáo M đã ngoài 60 tuổi, đang phải chăm sóc mẹ già. Do
đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo M, sửa bản án sơ
thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo, hoặc miễn
hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Đỗ Ngọc M phát biểu: Bị cáo thống nhất với ý kiến và yêu cầu của
các Luật sư.
Các Luật sư bào chữa cho bị cáo Quách Văn Đ2 phát biểu:
Đây không phải là vụ án phạm tội có tổ chức. Bị cáo Đ2 là Phó Ban Chỉ
đạo giữ vai trò thứ yếu, chỉ làm công tác tham mưu, mọi quyết định đều thuộc về
Tỉnh ủy Đ3; bị cáo Đ2 và các thành viên Ban Chỉ đạo đã thực hiện đầy đủ chức
trách của mình, báo cáo trung thực quá trình thực hiện nhiệm vụ cho Tỉnh uỷ,
UBND tỉnh và các Sở ngành. Thời điểm năm 2014-2015, Tổng Công ty T11
hàng đầu của tỉnh Đồng Nai, có rất nhiều tài sản, bị cáo Đ2 mặc dù là Tổng
Giám đốc nhưng không có chuyên môn về việc xác định giá trị doanh nghiệp mà
quá tin tưởng vào kết quả thẩm định của Công ty G mà việc lựa chọn công ty
này là có sự đồng ý bằng văn bản của Tỉnh ủy Đ3, do đó việc tách hành vi sai
phạm của Công ty G để xử lý sau làm ảnh hưởng đến các bị cáo trong vụ án này,
trong đó có bị cáo Đ2.
Đối với các tài sản là Trạm dừng T, Trạm dừng X, Nhà máy gạch, Xí
nghiệp xây dựng là những tài sản kinh doanh không hiệu quả, được Tỉnh ủy Đ3
cho phép bán, nhưng người mua trả giá thấp, chưa bán được nên việc xác định
giá trị các tài sản này theo sổ sách là có căn cứ.
Cổ phần hoá doanh nghiệp không phải là bán doanh nghiệp mà là tái cấu
trúc lại doanh nghiệp theo chủ trương của Đảng và Nhà nước. Sau khi cổ phần
hóa, giá trị Tổng Công ty T10 tăng gấp đôi (hơn 12.000 tỷ đồng), dẫn đến giá trị
vốn góp của Tỉnh ủy Đ3 cũng tăng theo, đây là thành công của Tổng Công ty
T10 nên cũng cần xem xét lại vấn đề thiệt hại trong vụ án.
Bị cáo Đ2 có các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s, v khoản 1