Chương II TRÌNH TỰ, THỦ TỤC VÀ VIỆC PHỐI HỢP
Điều 4. Trường hợp, điều kiện ban hành bản kết luận điều tra đề nghị
truy tố, bản cáo trạng và xét xử vắng mặt bị can, bị cáo
1. Cơ quan điều tra áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 233, Viện kiểm sát áp
dụng quy định tại khoản 2 Điều 243, Tòa án áp dụng quy định tại điểm a và điểm b
khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự để điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt
bị can, bị cáo trong các trường hợp sau:
a) Bị can, bị cáo trốn hoặc không biết bị can, bị cáo ở đâu và việc truy nã
không có kết quả.
-- 2 of 7 --
CÔNG BÁO/Số 979 + 980/Ngày 25-7-2025 77
Bị can, bị cáo trốn là trường hợp bị can, bị cáo cố ý trốn tránh, vắng mặt, cơ
quan tiến hành tố tụng không giao được giấy triệu tập cho bị can, bị cáo hoặc đã
giao giấy triệu tập nhưng bị can, bị cáo không chấp hành, trình diện theo giấy triệu
tập mà không vì lý do bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc che giấu tung tích,
nơi cư trú, nơi làm việc, nơi học tập nhằm không chấp hành quyết định, yêu cầu
của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Không biết bị can, bị cáo ở đâu là trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng đã tiến hành các hoạt động xác minh theo quy định pháp luật
nhưng không xác định được bị can, bị cáo ở đâu.
Việc truy nã không có kết quả là trường hợp Cơ quan điều tra đã ra quyết định
truy nã bị can, bị cáo, áp dụng các biện pháp xác minh, truy bắt bị can, bị cáo
nhưng đến khi hết thời hạn điều tra, hết thời hạn truy tố, hết thời hạn chuẩn bị xét
xử hoặc hết thời hạn theo quy định tại khoản 3 Điều 7 của Thông tư liên tịch này
mà bị can, bị cáo không đầu thú hoặc không bắt được bị can, bị cáo.
b) Bị can, bị cáo đang ở nước ngoài mà không thể triệu tập để phục vụ hoạt
động điều tra, truy tố, xét xử.
Bị can, bị cáo đang ở nước ngoài mà không thể triệu tập để phục vụ hoạt động
điều tra, truy tố, xét xử là trường hợp có căn cứ xác định bị can, bị cáo đã xuất
cảnh nhưng chưa có thông tin nhập cảnh và không xác định được nơi đang sinh
sống, làm việc, học tập của bị can, bị cáo ở nước ngoài, không triệu tập, dẫn độ
được bị can, bị cáo để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hoặc trường hợp
cơ quan tiến hành tố tụng có căn cứ xác định nơi đang sinh sống, làm việc, học tập
của bị can, bị cáo ở nước ngoài, đã triệu tập, đã yêu cầu dẫn độ nhưng không thể đưa
được bị can, bị cáo trở về Việt Nam để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.
2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể ban hành bản kết luận điều
tra đề nghị truy tố, bản cáo trạng, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo trong các trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều này khi có đủ các điều kiện sau:
a) Đã thu thập đủ chứng cứ, tài liệu để làm rõ các vấn đề phải chứng minh
trong vụ án theo quy định tại Điều 85 của Bộ luật Tố tụng hình sự và đủ căn cứ xác
định bị can, bị cáo đã thực hiện tội phạm bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử;
b) Bảo đảm quyền bào chữa cho bị can, bị cáo vắng mặt theo quy định tại các
điều 16, 291, 351 và Chương V của Bộ luật Tố tụng hình sự. Cơ quan tiến hành tố
tụng đang thụ lý, giải quyết vụ án phải thông báo về quyền nhờ người bào chữa
cho người đại diện hoặc người thân thích của bị can, bị cáo để họ nhờ người bào
-- 3 of 7 --
78 CÔNG BÁO/Số 979 + 980/Ngày 25-7-2025
chữa. Trường hợp người đại diện hoặc người thân thích của bị can, bị cáo không
nhờ người bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho
bị can, bị cáo vắng mặt theo quy định tại Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự.