Quyết định323/QĐ-CABan hành: 14/10/2022Còn hiệu lực
Quyết định Về việc công bố án lệ
Mục lục - 5 điều ▼
Điều 1. Công bố 04 (bốn) án lệ đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao thông qua (có án lệ kèm theo).
Điều 2. Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự có trách nhiệm nghiên cứu, áp
dụng các án lệ trong xét xử kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2022.
Việc áp dụng án lệ được thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 8 Nghị quyết
số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18 tháng 6 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký./.
CHÁNH ÁN
Nguyễn Hòa Bình
-- 1 of 35 --
CÔNG BÁO/Số 809 + 810/Ngày 06-11-2022 79
ÁN LỆ SỐ 53/2022/AL 1
Về việc hủy kết hôn trái pháp luật
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 07 tháng 9
năm 2022 và được công bố theo Quyết định số 323/QĐ-CA ngày 14 tháng 10
năm 2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số 04/2021/HNGĐ-GĐT ngày 07/7/2021 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc dân sự “Yêu cầu hủy việc kết hôn
trái pháp luật”; người yêu cầu là bà Nguyễn Thị S, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan gồm 03 người.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 2, 3, 4, 8, 9, 10 và 11 phần “Nhận định của Tòa án”.
Khái quát nội dung của án lệ:
- Tình huống án lệ:
Nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 (ngày Luật
Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực), không đăng ký kết hôn, có tổ chức lễ
cưới và có thời gian chung sống tại Việt Nam. Sau đó, hai bên ra nước ngoài sinh
sống và phát sinh mâu thuẫn. Khi chưa giải quyết ly hôn thì một bên đăng ký kết
hôn với người khác tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Tòa án phải xác định quan hệ hôn nhân đầu tiên là hôn nhân
thực tế. Khi chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân thực tế mà một bên đăng ký kết hôn
với người khác tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì việc kết hôn
này là trái pháp luật. Tòa án chấp nhận yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
- Điểm c khoản 2 Điều 5, điểm a khoản 2 Điều 10, khoản 1 Điều 11, khoản 1
Điều 122. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
1 Án lệ này do Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao đề xuất.
-- 2 of 35 --
80 CÔNG BÁO/Số 809 + 810/Ngày 06-11-2022
- Khoản 1 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc
hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
- Điểm d Mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BTP
ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày
09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
- Điểm b khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-
VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2014.
Từ khóa của án lệ:
“Hôn nhân thực tế”; “Hủy việc kết hôn trái pháp luật”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn đề nghị hủy việc kết hôn trái pháp luật đề ngày 28/6/2017 và lời khai
trong quá trình tham gia tố tụng của bà Nguyễn Thị S và người đại diện theo ủy
quyền của bà S là chị Lương Thị T trình bày:
Bà S và ông Phạm Bá H chung sống, có tổ chức đám cưới theo phong tục của
địa phương và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) P, thành
phố U, tỉnh Quảng Ninh ngày 23/11/1980. Tháng 4/1981, vợ chồng bà S, ông H
sang Hồng Kông và sau đó được nhập cư tại Canada. Đến năm 2008, vợ chồng bà S,
ông H trở về Việt Nam sinh sống tại nhà số 24, Tổ 14, Khu 03 phường T, thành
phố U, tỉnh Quảng Ninh (sổ hộ khẩu số 500296496 ngày 03/11/2014, họ và tên chủ
hộ: Phạm Bá H; quan hệ với chủ hộ: vợ Nguyễn Thị S). Quá trình chung sống, ông
bà sinh được 03 người con chung là anh Phạm Hồng K, sinh năm 1981 chị Phạm
Thị Thu H1, sinh năm 1984 và chị Phạm Thị Thu H2, sinh năm 1991. Hiện tại các
con của bà S và ông H đều đang định cư tại Canada.
Từ năm 2011, khi ông H có quan hệ ngoại tình với bà Nguyễn Thị L thì vợ
chồng bà S và ông H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất hòa. Bà S bị ông H đánh
đập, đuổi ra khỏi nhà, nên bà S đã sang Canada chơi với các con cho khuây khỏa.
Mấy tháng sau, khi bà S trở về thì ông H đã đón bà L cùng con chung của hai
người về nhà bà S, ông H ở và không cho bà S vào nhà mặc dù bà S đã báo với
-- 3 of 35 --
CÔNG BÁO/Số 809 + 810/Ngày 06-11-2022 81
chính quyền địa phương can thiệp giải quyết. Nay bà S biết được ông H và bà L đã
đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 09 ngày 17/4/2017 của Ủy ban
nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Do đó, bà S yêu cầu Tòa án nhân dân
tỉnh Quảng Ninh hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa ông Phạm Bá H với bà
Nguyễn Thị L.
Người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng
Ninh trình bày:
Ủy ban nhân dân thành phố M khẳng định thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng
ký kết hôn và cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho bà Nguyễn Thị L và ông Phạm Bá H
là đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nay bà S có đơn khởi kiện yêu cầu tuyên
hủy việc kết hôn giữa bà L và ông H là trái pháp luật; nếu có căn cứ thì đề nghị
Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết việc dân sự nêu trên theo quy định
pháp luật.
Tại Quyết định giải quyết việc dân sự sơ thẩm số 01/2018/QĐDS-ST
ngày 02/02/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu “Hủy việc kết hôn trái pháp luật” của bà Nguyễn Thị S.
- Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa ông Phạm Bá H và bà Nguyễn Thị L
theo Giấy chứng nhận kết hôn số 09 đăng ký ngày 17/4/2017 của Ủy ban nhân dân
thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Buộc ông H và bà L phải chấm dứt quan hệ như
vợ chồng.
- Giao con chung của ông Phạm Bá H và bà Nguyễn Thị L là cháu Phạm
Thành Đ, sinh ngày 12/12/2015 cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi. Ông Phạm Bá H không phải cấp
dưỡng nuôi con chung. Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai
được cản trở.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về lệ phí và quyền kháng cáo của
các đương sự.
Ngày 23/02/2018, bà Nguyễn Thị L có đơn kháng cáo đối với Quyết định
nêu trên.
-- 4 of 35 --
82 CÔNG BÁO/Số 809 + 810/Ngày 06-11-2022
Tại phiên họp phúc thẩm, ông Phạm Bá H trình bày: Năm 1980, ông H có
quen biết bà Nguyễn Thị S nhưng không có chuyện tổ chức đám cưới hay chung
sống với nhau ngày nào khi ở Việt Nam. Năm 1981, khi sang Hồng Kông, ông và
bà S gặp lại nhau mới trở nên thân thiết chung sống với nhau. Mặc dù có con
chung nhưng ông bà không đăng ký kết hôn, độc lập kinh tế, tài sản. Do đó, Tòa
án cấp sơ thẩm căn cứ vào Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của
Quốc hội để xác định giữa ông và bà S là quan hệ hôn nhân thực tế là không có
căn cứ.
Quan hệ hôn nhân giữa ông với bà Nguyễn Thị L là hợp pháp vì hai bên có
đăng ký kết hôn. Trước khi thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn, cơ quan có thẩm
quyền đã tiến hành xác minh tại nhiều nơi, trong đó có việc xác minh lãnh sự quán
Việt Nam tại Canada về việc ông chưa đăng ký kết hôn với bất cứ ai, không đang
trong thời kỳ hôn nhân với ai.
Tại phiên họp phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị L
là ông Đặng Thành V trình bày: Đề nghị Tòa án bác đơn yêu cầu của bà S về việc
hủy hôn nhân hợp pháp giữa ông H và bà L, ông H và bà S có chung sống với nhau
ở Hồng Kông nhưng không đăng ký kết hôn. Năm 2008, ông H về nước trước, ông H
và bà S không chung sống với nhau như vợ chồng ở Việt Nam mà chỉ cùng tổ chức
đám cưới cho các con.
Tại Quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự số 12/2019/QĐPT-DS
ngày 18/9/2019, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã quyết định:
Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị L và sửa Quyết định giải quyết việc
dân sự sơ thẩm số 01/2018/QĐDS-ST ngày 02/02/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Ninh về việc không chấp nhận yêu cầu “Hủy việc kết hôn trái pháp luật”
của bà Nguyễn Thị S. Công nhận quan hệ giữa ông Phạm Bá H và bà Nguyễn
Thị L là quan hệ hôn nhân hợp pháp, theo giấy chứng nhận kết hôn số 09 đăng ký
ngày 17/4/2017 của UBND thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.
Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về lệ phí và chi phí ủy thác
tư pháp.
Ngày 06/02/2020, bà Nguyễn Thị S có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám
đốc thẩm đối với Quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự số 12/2019/QĐPT-DS
-- 5 of 35 --
CÔNG BÁO/Số 809 + 810/Ngày 06-11-2022 83
ngày 18/9/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, yêu cầu tuyên hủy việc
kết hôn trái pháp luật giữa ông Phạm Bá H và bà Nguyễn Thị L.
Ngày 27/4/2021, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Quyết định
kháng nghị giám đốc thẩm số 05/2021/KN-HNGĐ đối với Quyết định phúc thẩm
giải quyết việc dân sự số 12/2019/QĐPT-DS ngày 18/9/2019 của Tòa án nhân dân
cấp cao tại Hà Nội về việc “Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật” giữa người
yêu cầu giải quyết việc dân sự là bà Nguyễn Thị S; người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan là ông Phạm Bá H, bà Nguyễn Thị L và Ủy ban nhân dân thành phố M,
tỉnh Quảng Ninh. Đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử
giám đốc thẩm, hủy Quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự số 12/2019/QĐPT-DS
ngày 18/9/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và giữ nguyên Quyết định
giải quyết việc dân sự số 01/2018/QĐDS-ST ngày 02/02/2018 của Tòa án nhân
dân tỉnh Quảng Ninh. Tạm đình chỉ thi hành Quyết định phúc thẩm giải quyết việc
dân sự số 12/2019/QĐPT-DS ngày 18/9/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà
Nội cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao.
Tại phiên họp giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận Quyết định kháng nghị
giám đốc thẩm số 05/2021/KN-HNGĐ ngày 27/4/2021 của Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Tại Công văn số 424/UBND ngày 07/9/2017 của Ủy ban nhân dân
phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh trả lời Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh
có nội dung: “Hiện nay tại Ủy ban nhân dân phường P sổ gốc đăng ký kết hôn chỉ
còn lưu từ năm 1989 đến nay, còn từ năm 1988 trở về trước Ủy ban nhân dân
phường P không còn lưu trữ được. Sổ đăng ký kết hôn của Ủy ban nhân dân
phường P, thành phố U còn lưu từ năm 1989 đến nay không có lưu trường hợp
đăng ký kết hôn của ông Phạm Bá H, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị S, sinh
năm 1960”. Quá trình giải quyết vụ án, bà S không cung cấp được Giấy chứng
nhận đăng ký kết hôn giữa bà S với ông H. Do đó, không có căn cứ xác định bà S
và ông H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P vào năm 1980.
-- 6 of 35 --
84 CÔNG BÁO/Số 809 + 810/Ngày 06-11-2022
[2] Căn cứ Biên bản xác minh ngày 13/11/2014 của Ủy ban nhân dân phường P
và lời khai của những người làm chứng, trong đó có lời khai của ông Bùi Ngọc C
(người cao tuổi, hàng xóm bên cạnh nhà bố mẹ đẻ bà S), ông Nguyễn Văn N (Khu
trưởng Khu T, phường P) đều khai: Năm 1980, ông Phạm Bá H và bà Nguyễn Thị S
có tổ chức đám cưới, chung sống với nhau; sau đó, hai ông bà vượt biên.
[3] Tại Bản chứng thực bản sao sổ khai sinh của anh Phạm Hồng K, sinh
ngày 07/8/1981, thể hiện tên cha là Phạm Bá H và tên mẹ là Nguyễn Thị S. Như
vậy, có cơ sở xác định bà S và ông H có thời gian chung sống tại Việt Nam và bà S
sang Hồng Kông sau khi đã mang thai anh Phạm Hồng K.
[4] Ngoài ra, Bản sao sổ hộ khẩu số 500296496 do Công an thành phố M cấp
ngày 03/11/2014 và Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 13/4/2015 tại Phòng
Công chứng số 02 tỉnh Quảng Ninh cũng thể hiện ông Phạm Bá H có vợ là bà
Nguyễn Thị S.
[5] Theo quy định tại điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10
ngày 09/6/2000 của Quốc hội “a. Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập
trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có
hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong
trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly
hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;..”
[6] Điểm d Mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP
ngày 03/01/2001 quy định: “Nam nữ được coi là sống chung với nhau như vợ
chồng nếu họ có đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau: Có tổ chức lễ cưới khi về
chung sống với nhau; Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên
hoặc hai bên) chấp nhận; Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ
chức chứng kiến; Họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng
nhau xây dựng gia đình”.
[7] Điểm b khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-
VKSNDTC-BTP quy định người được coi là đang có vợ, chồng gồm “Người xác
lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03/01/1987 mà chưa đăng ký kết
-- 7 of 35 --
CÔNG BÁO/Số 809 + 810/Ngày 06-11-2022 85
hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng)
của họ không bị tuyên bố là đã chết”.
[8] Do đó, có cơ sở xác định quan hệ giữa bà S và ông H sống chung với nhau
như vợ chồng trước năm 1987 là hôn nhân thực tế; tuy không đăng ký kết hôn
nhưng vẫn được pháp luật công nhận là quan hệ vợ chồng.
[9] Việc ông H đăng ký kết hôn với bà Nguyễn Thị L theo Giấy chứng nhận
kết hôn số 09 ngày 17/4/2017 tại Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh
trong khi đang tồn tại quan hệ hôn nhân với bà Nguyễn Thị S là vi phạm chế độ
hôn nhân một vợ một chồng và quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2014. Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh thực hiện
việc đăng ký kết hôn cho ông H và bà L là không đúng quy định của pháp luật.
[10] Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà S, tuyên hủy việc kết hôn
trái pháp luật giữa ông H và bà L và giải quyết hậu quả của việc kết hôn trái pháp
luật là có căn cứ.
[11] Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: “Theo pháp luật hôn nhân và gia đình
Việt Nam năm 1987, năm 2000 và năm 2013 chỉ điều chỉnh và có hiệu lực về
không gian, thời gian và địa điểm trên lãnh thổ Việt Nam. Còn việc ông H và bà S
ăn ở với nhau bất hợp pháp chủ yếu là ở nước ngoài và sinh sống vào thời điểm ở
trước và sau năm 1987, năm 2000 và trước năm 2013 khi có Luật hôn nhân và gia
đình Việt Nam được ban hành, sửa đổi...” từ đó không công nhận quan hệ giữa ông H
và bà S là vợ chồng và công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà L là quan hệ
hôn nhân hợp pháp là không đúng quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 337, khoản 1 Điều 342, khoản 2 Điều 343 và
Điều 344. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 05/2021/KN-HNGĐ
ngày 27/4/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với Quyết định phúc
thẩm giải quyết việc dân sự số 12/2019/QĐPT-DS ngày 18/9/2019 của Tòa án
nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
-- 8 of 35 --
86 CÔNG BÁO/Số 809 + 810/Ngày 06-11-2022
2. Hủy Quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự số 12/2019/QĐPT-DS
ngày 18/9/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
3. Giữ nguyên Quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2018/QĐDS-ST
ngày 02/02/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“[2] Căn cứ Biên bản xác minh ngày 13/11/2014 của Ủy ban nhân dân
phường P và lời khai của những người làm chứng, trong đó có lời khai của ông
Bùi Ngọc C (người cao tuổi, hàng xóm bên cạnh nhà bố mẹ đẻ bà S), ông Nguyễn
Văn N (Khu trưởng Khu T, phường P) đều khai: Năm 1980, ông Phạm Bá H và
bà Nguyễn Thị S có tổ chức đám cưới, chung sống với nhau; sau đó, hai ông bà
vượt biên.
[3] Tại Bản chứng thực bản sao sổ khai sinh của anh Phạm Hồng K, sinh
ngày 07/8/1981, thể hiện tên cha là Phạm Bá H và tên mẹ là Nguyễn Thị S. Như
vậy, có cơ sở xác định bà S và ông H có thời gian chung sống tại Việt Nam và bà S
sang Hồng Kông sau khi đã mang thai anh Phạm Hồng K.
[4] Ngoài ra, Bản sao sổ hộ khẩu số 500296496 do Công an thành phố M cấp
ngày 03/11/2014 và Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 13/4/2015 tại Phòng
Công chứng số 02 tỉnh Quảng Ninh cũng thể hiện ông Phạm Bá H có vợ là bà
Nguyễn Thị S.
…
[8] Do đó, có cơ sở xác định quan hệ giữa bà S và ông H sống chung với nhau
như vợ chồng trước năm 1987 là hôn nhân thực tế; tuy không đăng ký kết hôn
nhưng vẫn được pháp luật công nhận là quan hệ vợ chồng.
[9] Việc ông H đăng ký kết hôn với bà Nguyễn Thị L theo Giấy chứng nhận kết
hôn số 09 ngày 17/4/2017 tại Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh
trong khi đang tồn tại quan hệ hôn nhân với bà Nguyễn Thị S là vi phạm chế độ
hôn nhân một vợ một chồng và quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2014. Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh thực hiện
việc đăng ký kết hôn cho ông H và bà L là không đúng quy định của pháp luật.
-- 9 of 35 --
CÔNG BÁO/Số 809 + 810/Ngày 06-11-2022 87
[10] Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà S, tuyên hủy việc kết hôn
trái pháp luật giữa ông H và bà L và giải quyết hậu quả của việc kết hôn trái pháp
luật là có căn cứ.
[11] Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: “Theo pháp luật hôn nhân và gia đình
Việt Nam năm 1987, năm 2000 và năm 2013 chỉ điều chỉnh và có hiệu lực về
không gian, thời gian và địa điểm trên lãnh thổ Việt Nam. Còn việc ông H và bà S
ăn ở với nhau bất hợp pháp chủ yếu là ở nước ngoài và sinh sống vào thời điểm ở
trước và sau năm 1987, năm 2000 và trước năm 2013 khi có Luật hôn nhân và gia
đình Việt Nam được ban hành, sửa đổi...” từ đó không công nhận quan hệ giữa
ông H và bà S là vợ chồng và công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà L là
quan hệ hôn nhân hợp pháp là không đúng quy định pháp luật.”
-- 10 of 35 --
88 CÔNG BÁO/Số 809 + 810/Ngày 06-11-2022
ÁN LỆ SỐ 54/2022/AL 1
Về xác định quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi trong trường hợp
người mẹ không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 07
tháng 9 năm 2022 và được công bố theo Quyết định số 323/QĐ-CA ngày 14
tháng 10 năm 2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số 01/2019/HNGĐ-GĐT ngày 27/02/2019 của Tòa
án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về vụ án hôn nhân gia đình “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con” tại tỉnh Đắk Lắk giữa nguyên đơn là chị Phạm Thị Kiều K với bị đơn
là anh Nguyễn Hữu P.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 3 phần “Nhận định của Tòa án”.
Khái quát nội dung của án lệ:
- Tình huống án lệ:
Trong vụ án hôn nhân và gia đình có tranh chấp về quyền nuôi con dưới 36
tháng tuổi; người mẹ tự ý bỏ đi từ khi con còn rất nhỏ, không quan tâm đến việc
trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; người con được người cha nuôi
dưỡng, chăm sóc trong điều kiện tốt và đã quen với điều kiện, môi trường sống đó.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Tòa án phải tiếp tục giao con dưới 36 tháng tuổi cho người
cha trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
Khoản 2, 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Từ khóa của án lệ:
“Quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi”; “Ly hôn”; “Tranh chấp về nuôi con”.
1 Án lệ này do Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao đề xuất.
-- 11 of 35 --
CÔNG BÁO/Số 809 + 810/Ngày 06-11-2022 89
NỘI DUNG VỤ ÁN
Chị Phạm Thị Kiều K và anh Nguyễn Hữu P kết hôn trên cơ sở tự nguyện,
đăng ký kết hôn ngày 27/7/2016, tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Tuy nhiên, sau khi kết hôn một thời gian, thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn,
nguyên nhân do tính tình không hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc
sống, do đó chị K bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống từ khoảng tháng 3/2017. Nay, xét thấy
mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích
của hôn nhân không đạt được, nên chị Ph
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.