Nghị quyết04/2012/NQ-HBan hành: 03/12/2012Còn hiệu lực
Nghị quyết Hướng dẫn thi hành một số quy định về “Chứng minh và chứng cứ”
Mục lục - 9 điều ▼
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị quyết này hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về “Chứng
minh và chứng cứ” nhằm đảm bảo thi hành đúng và thống nhất các quy định của
BLTTDS trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án.
Điều 2. Cung cấp chứng cứ
1. Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 của BLTTDS thì về nguyên tắc chung,
cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp
vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của đương sự, của cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi
kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Tuy nhiên, theo
quy định tại Điều 79 của BLTTDS, khi có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích
-- 1 of 23 --
CÔNG BÁO/Số 337 + 338/Ngày 20-6-2013 3
hợp pháp của mình hoặc phản đối yêu cầu của người khác đối với mình hoặc bảo
vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của người khác, thì đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu có
nghĩa vụ phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ
và hợp pháp.
2. Việc cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ
và hợp pháp được hướng dẫn tại khoản 1 Điều này có thể được thực hiện trong quá
trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự.
3. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án phải giải thích cho đương
sự biết, nếu đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa
ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ, thì Tòa án tiến hành giải quyết
vụ việc dân sự theo thủ tục chung. Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập
được có trong hồ sơ vụ việc dân sự và nếu vụ việc dân sự được xét xử, giải quyết
tại phiên tòa, phiên họp, thì Tòa án chỉ căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra,
xem xét tại phiên tòa, phiên họp, kết quả của việc hỏi tại phiên tòa, phiên họp, xem
xét đầy đủ ý kiến của người tham gia tố tụng, Kiểm sát viên để quyết định. Đương
sự phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không
đầy đủ.
4. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, nếu thấy chứng cứ mà đương sự
giao nộp chưa đủ cơ sở để giải quyết, thì Tòa án yêu cầu đương sự giao nộp bổ
sung chứng cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của BLTTDS. Khi yêu cầu
đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ, Tòa án cần phải nêu cụ thể chứng cứ cần
giao nộp bổ sung.
Ví dụ 1: Trong vụ án ly hôn, Tòa án phải giải quyết yêu cầu nuôi con chưa
thành niên. Nếu đương sự chưa nộp cho Tòa án giấy khai sinh (hoặc bản sao giấy
khai sinh) của con chưa thành niên, thì Thẩm phán yêu cầu đương sự nộp bổ sung
giấy khai sinh (hoặc bản sao giấy khai sinh) để làm căn cứ cho việc giao con cho
người mẹ hay người cha trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và quyết định
mức cấp dưỡng nuôi con.
Ví dụ 2: Trong vụ án tranh chấp về hợp đồng vận chuyển hàng hóa mà theo
đơn khởi kiện thì ngoài hợp đồng còn có phụ lục hợp đồng, nhưng nguyên đơn mới
nộp cho Tòa án bản hợp đồng, thì Thẩm phán yêu cầu nguyên đơn nộp bổ sung
bản phụ lục hợp đồng đó, để có cơ sở giải quyết tranh chấp.
5. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án cần giải thích cho đương
sự biết quy định tại Điều 7 của BLTTDS về trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá
nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Khi biết chứng cứ đang do cá nhân, cơ
quan, tổ chức lưu giữ, quản lý, thì căn cứ vào quy định tại Điều này, đương sự có
quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ. Nếu cá nhân, cơ
-- 2 of 23 --
4 CÔNG BÁO/Số 337 + 338/Ngày 20-6-2013
quan, tổ chức không cung cấp được chứng cứ cho đương sự, thì phải thông báo
bằng văn bản có ghi rõ lý do của việc không cung cấp được chứng cứ cho đương
sự biết để họ chứng minh với Tòa án là họ đã thu thập chứng cứ nhưng không có
kết quả và yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ.
Điều 3. Xác định chứng cứ quy định tại Điều 83 của BLTTDS
1. Theo quy định tại Điều 81 của BLTTDS, thì một trong những điều kiện
của chứng cứ là phải được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp
cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do BLTTDS quy
định; do đó, việc giao nộp chứng cứ và việc thu thập chứng cứ phải thực hiện
theo đúng quy định tại các điều luật tương ứng của BLTTDS và hướng dẫn tại
Nghị quyết này.
2. Để được coi là chứng cứ quy định tại Điều 81 của BLTTDS, thì việc xác
định chứng cứ từ từng loại nguồn chứng cứ cụ thể như sau:
a) Các tài liệu đọc được nội dung phải là bản chính hoặc bản sao có công
chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp,
xác nhận. Bản chính có thể là bản gốc hoặc bản được dùng làm cơ sở lập ra các
bản sao;
b) Các tài liệu nghe được, nhìn được phải được xuất trình kèm theo văn bản
xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm,
thu hình đó. Các tài liệu này có thể là băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa
ghi hình, phim, ảnh,... Nếu đương sự không xuất trình các văn bản nêu trên, thì tài
liệu nghe được, nhìn được mà đương sự giao nộp không được coi là chứng cứ.
Ví dụ 1: Trong vụ tai nạn giao thông, người bị hại hoặc người đại diện hợp
pháp của người bị hại được một người cung cấp băng ghi hình về hiện trường vụ
tai nạn giao thông. Trong trường hợp này, cùng với việc giao nộp băng ghi hình
đó, người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại phải xuất trình cho
Tòa án bản xác nhận của người đã cung cấp cho mình về xuất xứ của băng ghi
hình đó.
Ví dụ 2: Ông A cho ông B vay năm triệu đồng với thời hạn 12 tháng. Việc vay
tài sản không lập thành văn bản, nhưng được ông A ghi âm lại toàn bộ nội dung
thỏa thuận về việc vay tài sản, việc giao nhận tiền và thời điểm thanh toán nợ giữa
ông A và ông B để làm bằng chứng cho việc vay tài sản của ông B. Đến hạn trả nợ,
ông B không trả số tiền đó cho ông A. Ông A khởi kiện ông B ra Tòa án. Trong
trường hợp này, cùng với việc giao nộp băng ghi âm, ông A phải gửi văn bản trình
bày về sự việc liên quan tới việc thu âm đó.
c) Vật chứng phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc dân sự; nếu không phải
là hiện vật gốc hoặc không liên quan đến vụ việc thì không phải là chứng cứ trong
vụ việc dân sự đó.
-- 3 of 23 --
CÔNG BÁO/Số 337 + 338/Ngày 20-6-2013 5
d) Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng nếu được ghi bằng
văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình và được xuất trình
theo đúng thủ tục quy định tại khoản 2 Điều 83 của BLTTDS và hướng dẫn tại
khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên tòa;
đ) Kết luận giám định, nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ
tục quy định của Luật Giám định tư pháp, các văn bản quy phạm pháp luật liên
quan và hướng dẫn tại Điều 10 của Nghị quyết này;
e) Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ, nếu việc thẩm định tại chỗ được tiến
hành theo đúng thủ tục quy định tại Điều 89 của BLTTDS và hướng dẫn tại Điều 9
của Nghị quyết này;
g) Tập quán, nếu được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa nhận.
Cộng đồng là tập thể những người cùng sống, có những điểm giống nhau, gắn
bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội tại nơi có tập quán;
Tập quán là thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất và
sinh hoạt thường ngày, được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa nhận và làm theo
như một quy ước chung của cộng đồng;
Tập quán thương mại là thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động
thương mại trên một vùng, miền hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội dung rõ
ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt
động thương mại;
Tập quán thương mại quốc tế là thông lệ, cách làm lặp đi, lặp lại nhiều lần
trong buôn bán quốc tế và được các tổ chức quốc tế có liên quan thừa nhận;
Chỉ chấp nhận tập quán không trái pháp luật, đạo đức xã hội. Đối với những
vấn đề mà đương sự viện dẫn tập quán nhưng đã có văn bản quy phạm pháp luật
quy định, thì Tòa án phải áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó để
giải quyết mà không áp dụng tập quán.
Ví dụ: Trong một số đồng bào dân tộc thiểu số có tập quán khi người mẹ chết,
chỉ các con gái có quyền, còn các con trai không có quyền hưởng phần di sản của
người mẹ quá cố để lại. Trong vụ tranh chấp di sản thừa kế do người mẹ để lại, nếu
người con gái viện dẫn tập quán đó để bác bỏ quyền thừa kế của các thừa kế là con
trai, thì tập quán này không được chấp nhận. Vì đây là tập quán lạc hậu về hôn
nhân và gia đình cần vận động xóa bỏ theo quy định tại phụ lục B “Danh mục
phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình của các dân tộc bị nghiêm
cấm áp dụng hoặc cần vận động xóa bỏ” ban hành kèm theo Nghị định số
32/2002/NĐ-CP ngày 27-3-2002 của Chính phủ quy định việc áp dụng Luật Hôn
nhân và Gia đình đối với các dân tộc thiểu số.
h) Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản nếu việc định giá tài sản được
tiến hành theo đúng thủ tục quy định tại Điều 92 của BLTTDS.
-- 4 of 23 --
6 CÔNG BÁO/Số 337 + 338/Ngày 20-6-2013
3. Đương sự giao nộp cho Tòa án chứng cứ bằng tiếng dân tộc thiểu số, tiếng
nước ngoài phải kèm theo bản dịch sang tiếng Việt, được công chứng, chứng thực
hợp pháp. Trong trường hợp đương sự chưa dịch chứng cứ đó sang tiếng Việt hoặc
đã dịch sang tiếng Việt nhưng bản dịch chưa được công chứng, chứng thực hợp
pháp, thì Tòa án không nhận chứng cứ đó. Tòa án giải thích cho đương sự biết là
họ phải tiến hành việc dịch chứng cứ sang tiếng Việt và làm thủ tục công chứng,
chứng thực theo quy định của pháp luật về công chứng, chứng thực.
Điều 4. Giao nhận chứng cứ
1. Theo quy định tại Điều 166 và Điều 312 của BLTTDS, người khởi kiện vụ
án hoặc người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự gửi đơn khởi kiện, đơn yêu
cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc
dân sự bằng các phương thức nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi đến Tòa án qua
bưu điện. Việc giao nhận chứng cứ trong từng trường hợp cụ thể được thực hiện
như sau:
a) Trong trường hợp người khởi kiện, người yêu cầu giao nộp trực tiếp đơn khởi
kiện, đơn yêu cầu và chứng cứ kèm theo tại Tòa án, thì cán bộ bộ phận chuyên môn,
nghiệp vụ của Tòa án được Chánh án Tòa án phân công nhận đơn chịu trách nhiệm
nhận đơn và chứng cứ kèm theo đó. Cán bộ Tòa án phải ghi việc nhận đơn và chứng
cứ kèm theo vào sổ nhận đơn, đồng thời, phải tiến hành lập biên bản về việc giao
nhận chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 84 của BLTTDS;
b) Trong trường hợp người khởi kiện, người yêu cầu gửi đơn khởi kiện, đơn
yêu cầu kèm theo chứng cứ qua bưu điện, thì cán bộ Tòa án phải ghi vào sổ nhận
đơn, đối chiếu chứng cứ theo danh mục chứng cứ gửi kèm theo đơn khởi kiện hoặc
ghi trong đơn khởi kiện để ghi vào sổ nhận đơn chứng cứ đó; nếu thấy chứng cứ
nào còn thiếu hoặc không đầy đủ so với danh mục thì phải thông báo ngay cho họ
biết để họ giao nộp bổ sung.
2. Sau khi Tòa án thụ lý vụ việc dân sự, nếu đương sự giao nộp chứng cứ cho
Tòa án, thì Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công giải quyết vụ việc dân
sự hoặc Thư ký Tòa án hoặc cán bộ của Tòa án được Chánh án phân công thực
hiện việc giao nhận chứng cứ do đương sự giao nộp theo hướng dẫn tại khoản 1
Điều này.
3. Trong trường hợp đương sự giao nộp chứng cứ tại phiên tòa, phiên họp, thì
Thư ký Tòa án thực hiện việc giao nhận chứng cứ. Nếu việc giao nhận chứng cứ
trước khi mở phiên tòa, phiên họp, thì Thư ký Tòa án phải lập biên bản về việc
giao nhận chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 84 của BLTTDS. Nếu việc
giao nhận chứng cứ trong quá trình xét xử hoặc trong quá trình phiên họp, thì ghi
vào biên bản phiên tòa, biên bản phiên họp.
-- 5 of 23 --
CÔNG BÁO/Số 337 + 338/Ngày 20-6-2013 7
4. Biên bản về việc giao nhận chứng cứ phải được người có thẩm quyền của
Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hoặc theo hướng dẫn trong Nghị
quyết này ký tên, xác nhận và đóng dấu của Tòa án.
Điều 5. Thu thập chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 85 của BLTTDS
Tòa án chỉ có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp quy định tại các điểm a,
b, c, d, đ, e, và g khoản 2 Điều 85 của BLTTDS để thu thập tài liệu, chứng cứ
trong những trường hợp BLTTDS có quy định. Việc tiến hành thu thập tài liệu,
chứng cứ phải tuân thủ quy định tại điều luật cụ thể của BLTTDS về biện pháp đó
và hướng dẫn của Nghị quyết này.
Ví dụ 1: Thẩm phán chỉ có thể lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có
bản khai, hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng, hoặc đương sự không thể
tự viết được quy định tại Điều 86 của BLTTDS và hướng dẫn tại Điều 6 của Nghị
quyết này.
Ví dụ 2: Thẩm phán tiến hành đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa
đương sự với người làm chứng hoặc giữa những người làm chứng với nhau nếu
đương sự có yêu cầu hoặc khi xét thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai của các
đương sự, người làm chứng quy định tại Điều 88 của BLTTDS và hướng dẫn tại
Điều 8. của Nghị quyết này.
Điều 8. Đối chất quy định tại Điều 88 của BLTTDS
1. Khi đương sự có yêu cầu hoặc khi xét thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai
của các đương sự, người làm chứng, Thẩm phán tiến hành đối chất giữa các đương
sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng hoặc giữa những người làm
chứng với nhau theo thứ tự hợp lý (tùy từng trường hợp cụ thể mà tiến hành đối
chất về từng vấn đề một hoặc để từng người trình bày về các vấn đề cần đối chất
theo thứ tự).
2. Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi biên bản đối chất. Biên bản
phải có chữ ký của những người tham gia đối chất, Thẩm phán tiến hành đối chất,
Thư ký Tòa án ghi biên bản đối chất và đóng dấu của Tòa án.
Điều 9. Xem xét, thẩm định tại chỗ quy định tại Điều 89 của BLTTDS
1. Khi đương sự có yêu cầu hoặc khi xét thấy việc xem xét, thẩm định tại chỗ
là cần thiết cho việc giải quyết đúng vụ án, thì Thẩm phán ra quyết định tiến hành
xem xét, thẩm định tại chỗ.
2. Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định và tên Tòa án ra quyết định;
b) Đối tượng và những vấn đề cần xem xét, thẩm định tại chỗ;
c) Thời gian, địa điểm tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ.
-- 7 of 23 --
CÔNG BÁO/Số 337 + 338/Ngày 20-6-2013 9
3. Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ phải được gửi cho Ủy ban nhân dân
cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định kèm theo
văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân hoặc cơ quan, tổ chức cử đại diện tham gia việc
xem xét, thẩm định tại chỗ. Vào ngày, giờ đã định trong quyết định xem xét, thẩm
định tại chỗ, nếu chưa có đại diện của Ủy ban nhân dân hoặc cơ quan, tổ chức,
thì Thẩm phán phải liên hệ để họ có mặt. Trong trường hợp vắng mặt đại diện của
Ủy ban nhân dân hoặc cơ quan, tổ chức, thì Thẩm phán hoãn việc xem xét, thẩm
định tại chỗ.
4. Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ phải được giao hoặc gửi cho đương
sự để họ biết và chứng kiến việc xem xét, thẩm định tại chỗ. Tuy nhiên, nếu có
đương sự vắng mặt thì việc xem xét, thẩm định tại chỗ vẫn được tiến hành theo thủ
tục chung.
5. Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ.
Biên bản phải làm đúng quy định tại khoản 2 Điều 89 của BLTTDS.
6. Nếu có người nào cản trở Tòa án tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ,
thì Thẩm phán yêu cầu đại diện của Ủy ban nhân dân hoặc cơ quan, tổ chức có
biện pháp can thiệp, hỗ trợ kịp thời để thực hiện việc xem xét, thẩm định tại chỗ.
Trong trường hợp cần thiết, Thẩm phán yêu cầu lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ
trợ tư pháp thuộc Công an nhân dân có thẩm quyền để có các biện pháp can thiệp,
hỗ trợ, theo quy định tại Thông tư số 15/2003/TT-BCA(V19) ngày 10-9-2003 của
Bộ Công an hướng dẫn hoạt động hỗ trợ tư pháp của lực lượng Cảnh sát bảo vệ và
hỗ trợ tư pháp thuộc Công an nhân dân.
7. Trường hợp đã thực hiện đầy đủ các biện pháp được hướng dẫn tại khoản 6
Điều này mà vẫn không tiến hành được, thì Thẩm phán lập biên bản về việc đương
sự cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ để lưu vào hồ sơ vụ án. Biên bản về việc
đương sự cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ, đồng thời, phải được gửi cho cơ
quan có thẩm quyền xem xét, xử lý theo pháp luật về hành vi chống người thi hành
công vụ của đương sự.
Điều 10. Trưng cầu giám định quy định tại Điều 90 của BLTTDS
1. Sự thỏa thuận lựa chọn hoặc yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định phải được
thể hiện bằng văn bản (có thể làm bằng văn bản riêng, có thể ghi trong bản khai, có
thể ghi trong biên bản ghi lời khai, biên bản đối chất).
2. Thẩm phán phải căn cứ vào Điều 90 của BLTTDS, Luật Giám định tư pháp
và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để ban hành quyết định trưng cầu
giám định. Quyết định trưng cầu giám định phải có các nội dung chính
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.