Quyết định3351/QBan hành: 29/07/2020Còn hiệu lực
Quyết định Về việc ban hành Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19
Mục lục - 3 điều ▼
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này “Hướng dẫn chẩn đoán và
điều trị COVID-19 do chủng vi rút Corona mới (SARS-CoV-2)” thay thế
“Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị viêm đường hô hấp cấp do SARS-CoV-2
(COVID-19)” ban hành kèm theo Quyết định số 1344/QĐ-BYT ngày 25/3/2020
của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký, ban hành.
Điều 3. Các Ông/Bà: Chánh Văn phòng Bộ, Cục trưởng Cục Quản lý
Khám, chữa bệnh; Chánh Thanh tra; Tổng Cục trưởng, Cục trưởng, Vụ trưởng
các Tổng Cục, Cục, Vụ thuộc Bộ Y tế; Giám đốc các Bệnh viện, Viện có giường
bệnh trực thuộc Bộ Y tế; Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương; Thủ trưởng y tế các ngành chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Nơi nhận:
- Như điều 3;
- Phó TTgCP. Vũ Đức Đam- Trưởng BCĐQG
Phòng CD COVID-19 (để báo cáo);
- Quyền Bộ trưởng (để báo cáo);
- Các Thứ trưởng (để phối hợp chỉ đạo);
- Bảo hiểm Xã hội Việt Nam (để phối hợp);
- Cổng TTĐT Bộ Y tế; website Cục QLKCB;
- Lưu: VT; KCB.
KT.BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Trường Sơn
Trưởng Tiểu ban điều trị- Ban
chỉ đạo QG PCD COVID-19
-- 1 of 16 --
BỘ Y TẾ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
HƯỚNG DẪN
Chẩn đoán và Điều trị COVID-19
do chủng vi rút Corona mới (SARS-CoV-2)
(Ban hành kèm theo Quyết định số 3351/QĐ-BYT ngày 29 tháng 7 năm 2020
của Bộ trưởng Bộ Y tế)
I. ĐẠI CƯƠNG
Vi rút Corona (CoV) là một họ virút lây truyền từ động vật sang người và
gây bệnh cho người từ cảm lạnh thông thường đến các tình trạng bệnh nặng, đe
dọa tính mạng của người bệnh như Hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS-
CoV) năm 2002 và Hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS-CoV) năm 2012. Từ
tháng 12 năm 2019, một chủng vi rút corona mới (SARS-CoV-2) đã được xác
định là căn nguyên gây dịch nhiễm trùng hô hấp cấp tính (COVID-19) tại thành
phố Vũ Hán (tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc), sau đó lan rộng ra toàn Trung Quốc và
cho tới nay hầu hết các nước trên thế giới. Ngày 11/3/2020, Tổ chức Y tế Thế
giới (WHO) đã công bố COVID-19 là một đại dịch toàn cầu. Chủng SARS-
CoV-2 ngoài lây truyền từ động vật sang người, còn lây trực tiếp từ người sang
người chủ yếu qua giọt bắn đường hô hấp và qua đường tiếp xúc. Vi rút cũng có
khả năng lây truyền qua đường không khí qua khí dung (aerosol), đặc biệt tại
các cơ sở y tế và những nơi đông người và ở không gian kín. Cho tới nay, lây
truyền theo đường phân-miệng chưa có bằng chứng rõ ràng.
Người bệnh COVID-19 có biểu hiện lâm sàng đa dạng: từ nhiễm không
có triệu chứng, tới những biểu hiện bệnh lý nặng như viêm phổi nặng, suy hô
hấp, sốc nhiễm trùng, suy chức năng đa cơ quan và tử vong, đặc biệt ở những
người cao tuổi, người có bệnh mạn tính hay suy giảm miễn dịch với số lượng tế
bào TCD4 giảm dưới 250 tế bào/mm3, người có D-Dimer tăng cao hoặc có đồng
nhiễm hay bội nhiễm các căn nguyên khác như vi khuẩn, nấm.
Hiện nay chưa có thuốc đặc hiệu và chưa có vắc xin phòng COVID-19
nên chủ yếu là điều trị hỗ trợ và điều trị triệu chứng. Các biện pháp phòng bệnh
chính là phát hiện sớm và cách ly ca bệnh.
II. CHẨN ĐOÁN
1. Định nghĩa ca bệnh
1.1. Trường hợp bệnh nghi ngờ
Bao gồm các trường hợp:
A. Người bệnh có sốt và/hoặc viêm đường hô hấp cấp tính không lý giải
được bằng các nguyên nhân khác.
-- 2 of 16 --
B. Người bệnh có bất kỳ triệu chứng hô hấp nào VÀ có tiền sử
đến/qua/ở/về từ vùng dịch tễ* có bệnh COVID-19 trong khoảng 14 ngày trước
khi khởi phát các triệu chứng HOẶC tiếp xúc gần (**) với trường hợp bệnh nghi
ngờ hoặc xác định COVID-19 trong khoảng 14 ngày trước khi khởi phát các
triệu chứng.
* Vùng dịch tễ: được xác định là những quốc gia, vùng lãnh thổ có ghi
nhận ca mắc COVID-19 lây truyền nội địa, hoặc nơi có ổ dịch đang hoạt động
tại Việt Nam theo “Hướng dẫn tạm thời giám sát và phòng, chống COVID-19”
của Bộ Y tế và được cập nhật bởi Cục Y tế dự phòng.
** Tiếp xúc gần: bao gồm
- Tiếp xúc tại các cơ sở y tế, bao gồm: trực tiếp chăm sóc người bệnh
COVID-19; làm việc cùng với nhân viên y tế mắc COVID-19; tới thăm người
bệnh hoặc ở cùng phòng bệnh có người bệnh mắc COVID-19.
- Tiếp xúc trực tiếp trong khoảng cách ≤ 2 mét với trường hợp bệnh nghi
ngờ hoặc xác định mắc COVID-19 trong thời kỳ mắc bệnh.
- Sống cùng nhà với trường hợp bệnh nghi ngờ hoặc xác định mắc
COVID-19 trong thời kỳ mắc bệnh.
- Cùng nhóm làm việc hoặc cùng phòng làm việc với ca bệnh xác định
hoặc ca bệnh nghi ngờ trong thời kỳ mắc bệnh.
- Cùng nhóm: du lịch, công tác, vui chơi, buổi liên hoan, cuộc họp ... với
ca bệnh xác định hoặc ca bệnh nghi ngờ trong thời kỳ mắc bệnh.
- Di chuyển trên cùng phương tiện (ngồi cùng hàng, trước hoặc sau hai
hàng ghế) với trường hợp bệnh nghi ngờ hoặc xác định mắc COVID-19 trong
thời kỳ mắc bệnh.
1.2. Trường hợp bệnh xác định
Là trường hợp bệnh nghi ngờ hoặc bất cứ người nào có xét nghiệm dương
tính với vi rút SARS-CoV-2 được thực hiện bởi các cơ sở xét nghiệm do Bộ Y
tế cho phép khẳng định.
III. TRIỆU CHỨNG
1. Lâm sàng
- Thời gian ủ bệnh: từ 2-14 ngày, trung bình từ 5-7 ngày.
- Khởi phát: Triệu chứng hay gặp là sốt, ho khan, mệt mỏi và đau cơ. Một
số trường hợp đau họng, nghẹt mũi, chảy nước mũi, đau đầu, ho có đờm, nôn và
tiêu chảy.
- Diễn biến:
-- 3 of 16 --
+ Hầu hết người bệnh (khoảng hơn 80%) chỉ sốt nhẹ, ho, mệt mỏi, không
bị viêm phổi và thường tự hồi phục sau khoảng 1 tuần. Tuy nhiên một số trường
hợp không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng nào.
+ Khoảng 14% số bệnh nhân diễn biến nặng như viêm phổi, viêm phổi
nặng cần nhập viện, khoảng 5% cần điều trị tại các đơn vị hồi sức tích cực với
các biểu hiện hô hấp cấp (thở nhanh, khó thở, tím tái, …), hội chứng suy hô hấp
cấp tiến triển (ARDS), sốc nhiễm trùng, suy chức năng các cơ quan bao gồm tổn
thương thận và tổn thương cơ tim, dẫn đến tử vong.
+ Thời gian trung bình từ khi có triệu chứng ban đầu tới khi diễn biến
nặng thường khoảng 7-8 ngày.
+ Tử vong xảy ra nhiều hơn ở người cao tuổi, người suy giảm miễn dịch
và mắc các bệnh mạn tính kèm theo. Ở người lớn, các yếu tố tiên lượng tăng
nguy cơ tử vong là tuổi cao, điểm suy đa tạng SOFA cao khi nhập viện và nồng
độ D-dimer > 1 μg/L.
- Thời kỳ hồi phục: Sau giai đoạn toàn phát 7-10 ngày, nếu không có
ARDS bệnh nhân sẽ hết sốt các dấu hiệu lâm sàng dần trở lại bình thường và
khỏi bệnh.
- Chưa có bằng chứng khác biệt về các biểu hiện lâm sàng của COVID-19
ở phụ nữ mang thai.
- Ở trẻ em, đa số trẻ mắc Covid-19 có các các biểu hiện lâm sàng nhẹ hơn
người lớn, hoặc không có triệu chứng. Các dấu hiệu thường gặp ở trẻ em là sốt
và ho, hoặc các biểu hiện viêm phổi. Tuy nhiên một số trẻ mắc Covid-19 có tổn
thương viêm đa cơ quan tương tự bệnh Kawasaski: sốt; ban đỏ hoặc xung huyết
giác mạc, hoặc phù nề niêm mạc miệng, bàn tay, chân; suy tuần hoàn; các biểu
hiện tổn thương chức năng tim và tăng men tim; rối loạn tiêu hóa; rối loạn đông
máu và tăng các chỉ số viêm cấp.
2. Xét nghiệm cận lâm sàng
Các xét nghiệm huyết học, sinh hóa máu thay đổi không đặc hiệu:
- Số lượng bạch cầu trong máu có thể bình thường hoặc giảm; số lượng
bạch cầu lympho thường giảm, đặc biệt nhóm diễn biến nặng.
- Protein C phản ứng (CRP) bình thường hoặc tăng, procalcitonin (PCT)
thường bình thường hoặc tăng nhẹ. Một số trường hợp có thể tăng nhẹ ALT,
AST, CK, LDH.
- Trong các trường hợp diễn biến nặng có các biểu hiện suy chức năng các
cơ quan, rối loạn đông máu, tăng D-dimer, rối loạn điện giải và toan kiềm.
3. X-quang và chụp cắt lớp (CT) phổi
- Ở giai đoạn sớm hoặc chỉ viêm đường hô hấp trên, hình ảnh X-quang
bình thường.
- Khi có viêm phổi, tổn thương thường ở hai bên với dấu hiệu viêm phổi
kẽ hoặc đám mờ (hoặc kính mờ) lan tỏa, ở ngoại vi hay thùy dưới. Tổn thương
-- 4 of 16 --
có thể tiến triển nhanh trong ARDS. Ít khi gặp dấu hiệu tạo hang hay tràn dịch,
tràn khí màng phổi.
4. Xét nghiệm khẳng định căn nguyên
- Phát hiện SARS-CoV-2 bằng kỹ thuật real-time RT-PCR hoặc giải trình
tự gene từ các mẫu bệnh phẩm.
IV. PHÂN LOẠI CÁC THỂ LÂM SÀNG
Bệnh COVID-19 có các thể bệnh trên lâm sàng như sau:
1. Thể không triệu chứng: là người nhiễm SARS-CoV-2 được khẳng
định bằng xét nghiệm realtime RT-PCR dương tính, nhưng không có triệu chứng
lâm sàng.
2. Mức độ nhẹ: Viêm đường hô hấp trên cấp tính
- Người bệnh nhiễm SARS-CoV-2 có các triệu chứng lâm sàng không đặc
hiệu như như sốt, ho khan, đau họng, nghẹt mũi, mệt mỏi, đau đầu, đau mỏi cơ.
- Không có các dấu hiệu của viêm phổi hoặc thiếu ô xy.
3. Mức độ vừa: Viêm phổi
- Người lớn và trẻ lớn: bị viêm phổi (sốt, ho, khó thở, thở nhanh) và
không có dấu hiệu viêm phổi nặng, SpO2 ≥ 90% khi thở khí trời.
- Trẻ nhỏ: trẻ có ho hoặc khó thở và thở nhanh. Thở nhanh được xác định
khi nhịp thở ≥ 60 lần/phút ở trẻ dưới 2 tháng; ≥ 50 lần/phút ở trẻ từ 2 - 11 tháng;
≥ 40 lần/phút ở trẻ từ 1 - 5 tuổi) và không có các dấu hiệu của viêm phổi nặng.
- Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, tuy nhiên, hình ảnh X-quang, siêu âm hoặc
CT phổi thấy hình ảnh viêm phổi kẽ hoặc phát hiện các biến chứng.
4. Mức độ nặng- Viêm phổi nặng
- Người lớn và trẻ lớn: sốt hoặc nghi ngờ nhiễm trùng hô hấp, kèm theo
bất kỳ một dấu hiệu sau: nhịp thở > 30 lần/phút, khó thở nặng, hoặc SpO2 ≤ 93%
khi thở khí phòng.
- Trẻ nhỏ: ho hoặc khó thở và có ít nhất một trong các dấu hiệu sau đây:
Tím tái hoặc SpO2 < 90%; suy hô hấp nặng (thở rên, rút lõm lồng ngực);
+ Hoặc trẻ được chẩn đoán viêm phổi và có bất kỳ dấu hiệu nặng sau:
không thể uống/bú được; rối loạn ý thức (li bì hoặc hôn mê); co giật. Có thể có
các dấu hiệu khác của viêm phổi như rút lõm lồng ngực, thở nhanh (tần số
thở/phút như trên).
- Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, chụp X-quang phổi để xác định các biến
chứng.
5. Mức độ nguy kịch
5.1. Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS)
- Khởi phát: các triệu chứng hô hấp mới hoặc xấu đi trong vòng một tuần
kể từ khi có các triệu chứng lâm sàng.
-- 5 of 16 --
- X-quang, CT scan hoặc siêu âm phổi: hình ảnh mờ hai phế trường mà
không phải do tràn dịch màng phổi, xẹp thùy phổi hoặc các nốt ở phổi.
- Nguồn gốc của phù phổi không phải do suy tim hoặc quá tải dịch. Cần
đánh giá khách quan (siêu âm tim) để loại trừ phù phổi do áp lực thủy tĩnh nếu
không thấy các yếu tố nguy cơ.
- Thiếu ô xy máu: ở người lớn, phân loại dựa vào chỉ số PaO2/FiO2 (P/F)
và SpO2/FiO2 (S/F) khi không có kết quả PaO2:
+ ARDS nhẹ: 200 mmHg < P/F ≤300 mmHg với PEEP hoặc CPAP ≥5 cm
H2O.
+ ARDS vừa: 100 mmHg <P/F ≤200 mmHg với PEEP ≥5 cmH2O).
+ ARDS nặng: P/F ≤100 mmHg với PEEP ≥ 5 cmH2O
+ Khi không có PaO2: S/F ≤315 gợi ý ARDS (kể cả những người bệnh
không thở máy)
- Thiếu ô xy máu: ở trẻ em: dựa vào các chỉ số OI (chỉ số Oxygen hóa:
OI = MAP* × FiO2 × 100 / PaO2) (MAP*: áp lực đường thở trung bình) hoặc OSI (chỉ số Oxygen
hóa sử dụng SpO2: OSI = MAP × FiO2 × 100 / SpO2) cho người bệnh thở máy xâm nhập, và
PaO2/FiO2 hay SpO2/FiO2 cho thở CPAP hay thở máy không xâm nhập (NIV):
+ NIV BiLevel hoặc CPAP ≥5 cmH2O qua mặt nạ: PaO2/FiO2≤ 300
mmHg hoặc SpO2/FiO2 ≤ 264
+ ARDS nhẹ (thở máy xâm nhập): 4 ≤OI<8 hoặc 5≤OSI<7,5
+ ARDS vừa (thở máy xâm nhập): 8 ≤OI<16 hoặc 7,5≤OSI<12,3
+ ARDS nặng (thở máy xâm nhập): OI ≥16 hoặc OSI ≥12,3
5.2. Nhiễm trùng huyết (sepsis)
- Người lớn: có dấu hiệu rối loạn chức năng các cơ quan:
+ Thay đổi ý thức: ngủ gà, lơ mơ, hôn mê
+ Khó thở hoặc thở nhanh, độ bão hòa ô xy thấp
+ Nhịp tim nhanh, mạch bắt yếu, chi lạnh, hoặc hạ huyết áp, da nổi vân
tím
+ Thiểu niệu hoặc vô niệu
+ Xét nghiệm có rối loạn đông máu, giảm tiểu cầu, nhiễm toan, tăng
lactate, tăng bilirubine…
- Trẻ em: khi nghi ngờ hoặc khẳng định do nhiễm trùng và có ít nhất 2
tiêu chuẩn của hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (SIRS) và một trong số đó phải
là thay đổi thân nhiệt hoặc số lượng bạch cầu bất thường.
5.3. Sốc nhiễm trùng
- Người lớn: hạ huyết áp kéo dài mặc dù đã hồi sức dịch, phải sử dụng
thuốc vận mạch để duy trì huyết áp động mạch trung bình (MAP) ≥65 mmHg và
nồng độ lactate huyết thanh >2 mmol/L.
- Trẻ em: sốc nhiễm trùng xác định khi có:
-- 6 of 16 --
+ Bất kỳ tình trạng hạ huyết áp nào: khi huyết áp tâm thu < 5 bách phân vị
hoặc > 2SD dưới ngưỡng bình thường theo lứa tuổi, hoặc (trẻ <1 tuổi: < 70
mmHg; trẻ từ 1-10 tuổi: < 70 + 2 x tuổi; trẻ > 10 tuổi: <90 mmHg).
+ Hoặc có bất kỳ 2-3 dấu hiệu sau: thay đổi ý thức, nhịp tim nhanh hoặc
chậm (< 90 nhịp/phút hoặc >160 nhịp/phút ở trẻ nhũ nhi, và <70 nhịp/phút hoặc
>150 nhịp/phút ở trẻ nhỏ); thời gian làm đầy mao mạch kéo dài (>2 giây); hoặc
giãn mạch ấm/mạch nẩy; thở nhanh; da nổi vân tím hoặc có chấm xuất huyết
hoặc ban xuất huyết; tăng nồng độ lactate; thiểu niệu; tăng hoặc hạ thân nhiệt.
5.4. Các biến chứng nặng- nguy kịch khác: nhồi máu phổi, đột quỵ,
sảng. Cần theo dõi sát và áp dụng các biện pháp chẩn đoán xác định khi nghi
ngờ và có biện pháp điều trị phù hợp.
V. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
- Cần chẩn đoán phân biệt viêm đường hô hấp cấp do SARS-CoV 2
(COVID-19) với viêm đường hô hấp cấp do các tác nhân hay gặp khác, bao gồm
cả các tác nhân gây dịch bệnh nặng đã biết:
+ Vi rút cúm mùa (A/H3N2, A/H1N1, B), vi rút á cúm, vi rút hợp bào hô
hấp (RSV), rhinovirus, myxovirrus, adenovirus.
+ Hội chứng cảm cúm do các chủng coronavirus thông thường.
+ Các căn nguyên khuẩn vi khuẩn hay gặp, bao gồm các các vi khuẩn
không điển hình như Mycoplasma pneumonia etc.
+ Các căn nguyên khác có thể gây viêm đường hô hấp cấp tính nặng như
cúm gia cầm A/H5N1, A/H7N9, A/H5N6, SARS-CoV, và MERS-CoV.
- Cần chẩn đoán phân biệt các tình trạng nặng của người bệnh (suy hô
hấp, suy chức năng các cơ quan…) do các căn nguyên khác hoặc do tình trạng
nặng của các bệnh lý mãn tính kèm theo.
VI. XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN, GIÁM SÁT VÀ BÁO CÁO CA BỆNH
- Các trường hợp bệnh nghi ngờ, cần làm xét nghiệm khẳng định nhiễm
SARS-CoV-2.
- Lấy dịch đường hô hấp trên (dịch hầu họng & mũi họng) để xét nghiệm
xác định vi rút bằng kỹ thuật realtime RT- PCR.
- Khi mẫu bệnh phẩm dịch đường hô hấp trên âm tính nhưng vẫn nghi
ngờ về lâm sàng, cần lấy dịch đường hô hấp dưới (đờm, dịch hút phế quản, dịch
rửa phế nang).
- Nếu người bệnh thở máy có thể chỉ cần lấy dịch đường hô hấp dưới.
- Không khuyến cáo sử dụng các xét nghiệm phát hiện kháng thể kháng
SARS-CoV-2 để chẩn đoán đang mắc COVID-19.
- Những trường hợp bệnh nghi ngờ, kể cả ở những trường hợp đã xác định
được tác nhân thông thường khác, cần làm xét nghiệm khẳng định để xác định
SARS-CoV-2 ít nhất một lần.
-- 7 of 16 --
- Cấy máu nếu nghi ngờ hoặc có nhiễm trùng huyết, nên cấy máu trước
khi dùng kháng sinh. Cần xét nghiệm các căn nguyên vi khuẩn, vi rút khác nếu
có các dấu hiệu lâm sàng nghi ngờ.
- Cần thực hiện đầy đủ các xét nghiệm cận lâm sàng và thăm dò thường
quy tùy từng tình trạng người bệnh để chẩn đoán, tiên lượng và theo dõi người
bệnh.
- Trường hợp xác định mắc COVID-19, cần lấy mẫu bệnh phẩm dịch hô
hấp và xét nghiệm nhắc lại với khoảng cách mỗi 2-4 ngày hoặc ngắn hơn nếu
cần thiết cho tới khi kết quả âm tính.
- Những trường hợp dương tính với SARS-CoV-2 cần báo cáo Bộ Y tế
hoặc CDC địa phương.
- Xác định về mặt dịch tễ học liên quan đến các trường hợp dương tính
với SARS-CoV-2 như: nơi sinh sống, nơi làm việc, đi lại, lập danh sách những
người đã tiếp xúc trực tiếp, tuân thủ theo hướng dẫn giám sát và phòng, chống
COVID-19 của Bộ Y tế.
VII. CÁC BIỆN PHÁP DỰ PHÒNG LÂY NHIỄM TỨC THÌ
Dự phòng lây nhiễm là một bước quan trọng trong chẩn đoán và điều trị
người bệnh mắc COVID-19, do vậy cần được thực hiện ngay khi người bệnh tới
nơi tiếp đón ở các cơ sở y tế. Các biện pháp dự phòng chuẩn phải được áp dụng
ở tất cả các khu vực trong cơ sở y tế.
1. Tại khu vực sàng lọc & phân loại bệnh nhân.
- Cho người bệnh nghi ngờ đeo khẩu trang và hướng dẫn tới khu vực cách
ly.
- Bảo đảm khoảng cách giữa các người bệnh ≥ 2 mét.
- Hướng dẫn người bệnh che mũi miệng khi ho, hắt hơi và rửa tay ngay
sau khi tiếp xúc dịch hô hấp.
2. Áp dụng các biện pháp dự phòng giọt bắn.
- Cần đeo khẩu trang y tế nếu làm việc trong khoảng cách 2m với người
bệnh.
- Ưu tiên cách ly người bệnh nghi ngờ ở phòng riêng, hoặc sắp xếp nhóm
người bệnh cùng căn nguyên trong một phòng. Nếu không xác định được căn
nguyên, xếp người bệnh có chung các triệu chứng lâm sàng và yếu tố dịch tễ.
Phòng bệnh cần được bảo đảm thông thoáng.
- Khi chăm sóc gần người bệnh có triệu chứng hô hấp (ho, hắt hơi) cần sử
dụng dụng cụ bảo vệ mắt.
- Hạn chế người bệnh di chuyển trong cơ sở y tế và người bệnh phải đeo
khẩu trang khi ra khỏi phòng.
3. Áp dụng các biện pháp dự phòng tiếp xúc.
- Nhân viên y tế phải sử dụng các trang thiết bị bảo vệ cá nhân (khẩu
trang y tế, kính bảo vệ mắt, găng tay, áo choàng) khi vào phòng bệnh và cởi bỏ
khi ra khỏi phòng và tránh đưa tay bẩn lên mắt, mũi, miệng.
-- 8 of 16 --
- Vệ sinh và sát trùng các dụng cụ (ống nghe, nhiệt kế) trước khi sử dụng
cho mỗi người bệnh.
- Tránh làm nhiễm bẩn các bề mặt môi trường xung quanh như cửa
phòng, công tắc đèn, quạt…
- Đảm bảo phòng bệnh thoáng khí, mở các cửa sổ phòng bệnh (nếu có).
- Hạn chế di chuyển người bệnh
- Vệ sinh tay
4. Áp dụng các biện pháp dự phòng lây truyền qua đường không khí.
- Các nhân viên y tế khi khám, chăm sóc người bệnh đã xác định chẩn
đoán, hoặc/và làm các thủ thuật như đặt ống nội khí quản, hút đường hô hấp, soi
phế quản, cấp cứu tim phổi… phải sử dụng các thiết bị bảo vệ cá nhân bao gồm
đeo găng tay, áo choàng, bảo vệ mắt, khẩu trang N95 hoặc tương đương.
- Nếu có thể, thực hiện thủ thuật ở phòng riêng, hoặc phòng áp lực âm.
- Hạn chế người không liên quan ở trong phòng khi làm thủ thuật
VIII. ĐIỀU TRỊ
1. Nguyên tắc điều trị chung
- Phân loại người bệnh và xác định nơi điều trị theo các mức độ nghiêm
trọng của bệnh:
+ Các trường hợp bệnh nghi ngờ (có thể xem như tình trạng cấp cứu): cần
được khám, theo dõi và cách ly ở khu riêng tại các cơ sở y tế, lấy bệnh phẩm
đúng cách để làm xét nghiệm đặc hiệu chẩn đoán xác định.
+ Trường hợp bệnh xác định cần được theo dõi và điều trị cách ly hoàn
toàn.
+ Ca bệnh nhẹ (viêm đường hô hấp trên, viêm phổi nhẹ) điều trị tại các
khoa phòng thông thường.
+ Ca bệnh nặng (viêm phổi nặng, nhiễm trùng huyết) cần được điều trị tại
các phòng cấp cứu của các khoa phòng hoặc hồi sức tích cực.
+ Ca bệnh nặng-nguy kịch: (suy hô hấp nặng, ARDS, sốc nhiễm trùng, suy
đa cơ quan) cần được điều trị hồi sức tích cực.
- Do chưa có thuốc đặc hiệu, điều trị hỗ trợ và điều trị triệu chứng là chủ
yếu.
- Cá thể hóa các biện pháp điều trị cho từng trường hợp, đặc biệt là các ca
bệnh nặng-nguy kịch.
- Có thể áp dụng một số phác đồ điều trị nghiên cứu được Bộ Y tế cho
phép.
- Theo dõi, phát hiện và xử trí kịp thời các tình trạng nặng, biến chứng của
bệnh.
-- 9 of 16 --
2. Các biện pháp theo dõi và điều trị chung
- Nghỉ ngơi tại giường, phòng bệnh cần được đảm báo thông thoáng, có
thể sử dụng hệ thống lọc không khí hoặc các biện pháp khử trùng phòng bệnh
khác như đèn cực tím (nếu có).
- Vệ sinh mũi họng, có thể giữ ẩm mũi bằng nhỏ dung dịch nước muối
sinh lý, xúc miệng họng bằng các dung dịch vệ sinh miệng họng thông thường.
- Giữ ấm
- Uống đủ nước, đảm bảo cân bằng dịch, điện giải.
- Thận trọng khi truyền dịch cho người bệnh viêm phổi nhưng không có
dấu hiệu của sốc.
- Đảm bảo dinh dưỡng và nâng cao thể trạng, bổ xung vitamin nếu cần
thiết. Với các người bệnh nặng - nguy kịch, áp dụng hướng dẫn dinh dưỡng của
Hội Hồi sức cấp cứu và chống độc đã ban hành.
- Hạ sốt nếu sốt cao, có thể dùng paracetamol liều 10-15 mg/kg/lần, không
quá 60 mg/kg/ngày cho trẻ em và không quá 2 gam/ngày với người lớn.
- Giảm ho bằng các thuốc giảm ho thông thường nế
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.