Thông tư liên tịch01/2012/TTLT-TANDTC-Ban hành: 18/09/2012Còn hiệu lực
Thông tư liên tịch Hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Mục lục - 7 điều ▼
Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Thông tư liên tịch này hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trách
nhiệm bồi thường của Nhà nước (sau đây viết tắt là Luật TNBTCNN) về trách
nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với người bị thiệt hại về vật chất hoặc bị tổn
hại về tinh thần do hành vi trái pháp luật của những người tiến hành tố tụng thuộc
Tòa án (sau đây gọi chung là người đã tiến hành tố tụng) gây ra khi tiến hành các
hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính.
Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 2. Các trường hợp Tòa án có trách nhiệm bồi thường
Tòa án có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành
chính trong các trường hợp sau đây:
1. Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (sau đây viết tắt là BPKCTT) trong
hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính (trong các trường hợp được quy định
tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 28 Luật TNBTCNN)
-- 1 of 41 --
CÔNG BÁO/Số 631 + 632/Ngày 20-10-2012 35
a) Áp dụng BPKCTT trong hoạt động tố tụng dân sự
a1) Người đã tiến hành tố tụng tự mình ra quyết định áp dụng BPKCTT không
thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 102 Bộ
luật tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 ngày 15 tháng 6 năm 2004 đã được sửa đổi,
bổ sung theo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng dân sự số
65/2011/QH12 ngày 29 tháng 3 năm 2011 (sau đây viết tắt là BLTTDS).
Ví dụ: Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nguyên đơn không có đơn yêu
cầu Tòa án áp dụng BPKCTT theo quy định tại khoản 9 Điều 102 và Điều 111
BLTTDS về việc cho bán hàng hóa là thực phẩm đông lạnh đang tranh chấp mà bị
đơn đang chiếm giữ, nhưng Tòa án ra quyết định áp dụng BPKCTT buộc bị đơn
đang chiếm giữ hàng hóa này phải bán ngay ra thị trường. Sau đó, đương sự khiếu
nại đề nghị Tòa án hủy bỏ việc áp dụng BPKCTT nêu trên. Tòa án có thẩm quyền
đã ra quyết định hủy bỏ việc áp dụng BPKCTT. Trong trường hợp này, nếu đương
sự có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại và có thiệt hại thực tế phát sinh do việc áp
dụng BPKCTT của Tòa án gây ra thì Tòa án có trách nhiệm xem xét việc giải
quyết bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại.
a2) Người đã tiến hành tố tụng tự mình ra quyết định áp dụng BPKCTT thuộc
một trong các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 102
BLTTDS khi không có đủ các điều kiện theo quy định tại các điều 103, 104, 105,
106 và 107 của BLTTDS và hướng dẫn tại Mục 3 Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP
ngày 27 tháng 4 năm 2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
hướng dẫn thi hành một số quy định tại Chương VIII “Các biện pháp khẩn cấp
tạm thời” của BLTTDS.
a3) Người đã tiến hành tố tụng ra quyết định áp dụng BPKCTT khác với
BPKCTT mà cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu.
Ví dụ: Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nguyên đơn có đơn yêu cầu
Tòa án áp dụng BPKCTT theo quy định tại khoản 8 Điều 102 và Điều 110
BLTTDS về việc cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp, nhưng Tòa án áp
dụng BPKCTT kê biên tài sản đang tranh chấp theo quy định tại khoản 6 Điều 102
và Điều 108 BLTTDS. Đương sự khiếu nại yêu cầu hủy bỏ quyết định áp dụng
BPKCTT của Tòa án nêu trên, Tòa án có thẩm quyền đã ra quyết định hủy bỏ việc
áp dụng BPKCTT. Trong trường hợp này, nếu đương sự có đơn yêu cầu bồi
thường thiệt hại và có thiệt hại thực tế phát sinh do việc áp dụng BPKCTT của Tòa
án gây ra thì Tòa án có trách nhiệm xem xét việc giải quyết bồi thường thiệt hại
cho người bị thiệt hại.
a4) Người đã tiến hành tố tụng ra quyết định áp dụng BPKCTT vượt quá yêu
cầu áp dụng BPKCTT của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
-- 2 of 41 --
36 CÔNG BÁO/Số 631 + 632/Ngày 20-10-2012
Ví dụ: Công ty A có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT theo quy định tại
khoản 10 Điều 102 và Điều 112 BLTTDS về việc phong tỏa tài khoản năm trăm
triệu đồng tại Ngân hàng Z của Công ty B. Tuy nhiên, Tòa án đã ra quyết định áp
dụng BPKCTT phong tỏa toàn bộ tài khoản 10 tỷ đồng của Công ty B tại Ngân
hàng Z. Công ty B có đơn khiếu nại quyết định áp dụng BPKCTT của Tòa án, Tòa
án có thẩm quyền đã ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng BPKCTT nêu trên.
Trong trường hợp này, nếu người bị thiệt hại yêu cầu bồi thường thiệt hại và có
thiệt hại thực tế phát sinh do Tòa án áp dụng BPKCTT vượt quá yêu cầu của người
yêu cầu, thì Tòa án có trách nhiệm xem xét việc giải quyết bồi thường thiệt hại cho
người bị thiệt hại.
b) Áp dụng BPKCTT trong hoạt động tố tụng hành chính
b1) Người đã tiến hành tố tụng tự mình ra quyết định áp dụng BPKCTT khi
không có đơn yêu cầu của người yêu cầu.
b2) Người đã tiến hành tố tụng áp dụng BPKCTT không đúng với yêu cầu của
đương sự.
Ví dụ: Ủy ban nhân dân tỉnh N ra quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng 1000 ha đất cho doanh nghiệp A để xây dựng khu đô thị mới. Khi doanh
nghiệp A đang tiến hành xây dựng khu đô thị thì người dân cư trú xung quanh khu
đô thị đang được xây dựng khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho doanh nghiệp A của Ủy ban nhân dân tỉnh N vì
cho rằng quyết định này là trái pháp luật và việc bồi thường giải phóng mặt bằng
chưa thỏa đáng. Đồng thời với đơn khởi kiện, người dân có yêu cầu Tòa án áp
dụng BPKCTT buộc doanh nghiệp A phải tạm dừng việc xây dựng một phần khu
đô thị giáp với nơi người dân đang sinh sống. Tuy nhiên, Tòa án ra quyết định áp
dụng BPKCTT buộc doanh nghiệp A phải tạm dừng việc xây dựng toàn bộ khu đô
thị. Doanh nghiệp A khiếu nại đề nghị Tòa án hủy bỏ việc áp dụng BPKCTT nêu
trên. Tòa án có thẩm quyền đã ra quyết định hủy bỏ việc áp dụng BPKCTT. Trong
trường hợp này, nếu doanh nghiệp A có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại và có
thiệt hại thực tế phát sinh do việc áp dụng BPKCTT của Tòa án gây ra thì Tòa án
có trách nhiệm xem xét việc giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại.
2. Ra bản án, quyết định mà biết rõ là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ
sơ vụ án (quy định tại khoản 4 Điều 28 Luật TNBTCNN) khi có đủ hai điều kiện
sau đây:
a) Bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính đã bị hủy
theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm;
b) Có văn bản xác định hành vi trái pháp luật quy định tại khoản 2 Điều 3
Thông tư liên tịch này.
-- 3 of 41 --
CÔNG BÁO/Số 631 + 632/Ngày 20-10-2012 37
Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 3. Văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người đã tiến hành
tố tụng
1. Văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người đã tiến hành tố tụng ra
quyết định áp dụng BPKCTT (trong các trường hợp được quy định tại các khoản 1,
2 và 3 Điều 28 Luật TNBTCNN và được hướng dẫn tại khoản 1 Điều 2 Thông tư
liên tịch này) là quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị cuối cùng của Chánh án
Tòa án có thẩm quyền hoặc của Hội đồng xét xử theo quy định tại Điều 125
BLTTDS hoặc Điều 71 Luật Tố tụng hành chính.
2. Văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người đã tiến hành tố tụng ra
bản án, quyết định mà biết rõ là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án
(quy định tại khoản 4 Điều 28 Luật TNBTCNN và được hướng dẫn tại khoản 2
Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 4. Thủ tục ban hành văn bản xác định hành vi trái pháp luật của
người đã tiến hành tố tụng theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 Thông tư
liên tịch này
1. Trường hợp người bị thiệt hại cho rằng mình bị thiệt hại do hành vi ra bản
án mà biết rõ là trái pháp luật hoặc ra quyết định mà biết rõ là trái pháp luật hoặc
cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án của người đã tiến hành tố tụng nhưng người đã tiến
-- 4 of 41 --
38 CÔNG BÁO/Số 631 + 632/Ngày 20-10-2012
hành tố tụng chưa bị khởi tố hoặc đang trong quá trình bị điều tra, truy tố, xét xử
về những hành vi này thì bị chết, thì người bị thiệt hại có quyền khiếu nại, tố cáo
tới Chánh án Tòa án quản lý người đã tiến hành tố tụng.
2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản khiếu nại, tố cáo của
người khiếu nại, tố cáo, Chánh án Tòa án quản lý người đã tiến hành tố tụng xét
thấy việc khiếu nại, tố cáo của người khiếu nại, tố cáo là có căn cứ, thì ban hành
quyết định thành lập Hội đồng tư vấn gồm ít nhất ba thành viên giúp Chánh án
xem xét hành vi ra bản án mà biết rõ là trái pháp luật hoặc ra quyết định mà biết rõ
là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án của người đã tiến hành tố tụng
bị khiếu nại, tố cáo.
Quyết định thành lập Hội đồng tư vấn được ban hành theo Mẫu số 01 ban hành
kèm theo Thông tư liên tịch này.
Thành viên Hội đồng tư vấn phải có đủ điều kiện theo hướng dẫn tại các điểm
b và c khoản 2 Điều 12 Thông tư liên tịch này.
3. Hội đồng tư vấn có nhiệm vụ nghiên cứu, xem xét có hay không có hành vi
ra bản án mà biết rõ là trái pháp luật hoặc ra quyết định mà biết rõ là trái pháp
luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án của người đã tiến hành tố tụng bị khiếu
nại, tố cáo. Ý kiến của Hội đồng tư vấn được lập thành văn bản có chữ ký xác
nhận của từng thành viên Hội đồng tư vấn. Trường hợp các thành viên Hội đồng
tư vấn có ý kiến khác nhau thì văn bản báo cáo Chánh án cần ghi rõ ý kiến của
từng thành viên.
4. Trên cơ sở báo cáo của Hội đồng tư vấn, trong thời hạn 30 ngày, kể từ
ngày ra quyết định thành lập Hội đồng tư vấn, Chánh án Tòa án xem xét ra quyết
định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo, xác định có hay không có
hành vi ra bản án mà biết rõ là trái pháp luật hoặc ra quyết định mà biết rõ là trái
pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án của người đã tiến hành tố tụng bị
khiếu nại, tố cáo.
Chánh án Tòa án ban hành quyết định giải quyết khiếu nại theo Mẫu số 02, kết
luận nội dung tố cáo theo Mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này.
Quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo này phải được gửi ngay
cho người khiếu nại, tố cáo và người đã tiến hành tố tụng bị khiếu nại, tố cáo.
5. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu
nại, kết luận nội dung tố cáo của Chánh án Tòa án cấp huyện hoặc Chánh án Tòa
án cấp tỉnh, người khiếu nại, tố cáo và người đã tiến hành tố tụng bị khiếu nại, tố
cáo có quyền khiếu nại tới Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp của Chánh án Tòa án
đã ban hành quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo. Trong thời
hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại của người khiếu nại, tố cáo hoặc
-- 5 of 41 --
CÔNG BÁO/Số 631 + 632/Ngày 20-10-2012 39
người đã tiến hành tố tụng bị khiếu nại, tố cáo, Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp
phải ban hành quyết định giải quyết khiếu nại. Quyết định của Chánh án Tòa án
cấp trên trực tiếp là quyết định cuối cùng và phải được gửi ngay cho người khiếu
nại, tố cáo, người đã tiến hành tố tụng bị khiếu nại, tố cáo và Tòa án đã ban hành
quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Đối với quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo của Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao giải quyết khiếu nại, tố cáo về hành vi ra bản án mà biết rõ
là trái pháp luật hoặc ra quyết định mà biết rõ là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai
lệch hồ sơ vụ án của người đã tiến hành tố tụng thuộc Tòa án nhân dân tối cao, thì
quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo của Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao là quyết định cuối cùng.
Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 5. Thời hiệu yêu cầu bồi thường
1. Đối với yêu cầu bồi thường trong trường hợp quy định tại các khoản 1, 2 và 3
Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 28. Luật TNBTCNN, thời hiệu yêu cầu bồi thường là hai năm, kể từ ngày
Chánh án Tòa án có thẩm quyền hoặc Hội đồng xét xử ban hành văn bản xác định
hành vi trái pháp luật của người đã tiến hành tố tụng quy định tại khoản 1 Điều 3
của Thông tư liên tịch này.
2. Đối với yêu cầu bồi thường trong trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 28
Luật TNBTCNN, thời hiệu yêu cầu bồi thường là hai năm, kể từ ngày văn bản xác
định hành vi trái pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch này
được ban hành.
Trường hợp văn bản xác định hành vi trái pháp luật là bản án, quyết định hình
sự của Tòa án có thẩm quyền xác định người đã tiến hành tố tụng phạm tội ra bản
án trái pháp luật hoặc tội ra quyết định trái pháp luật hoặc tội cố ý làm sai lệch hồ
sơ vụ án thì thời hiệu yêu cầu bồi thường là hai năm, kể từ ngày bản án, quyết định
hình sự đó có hiệu lực pháp luật.
Chương II XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI ĐƯỢC BỒI THƯỜNG
Điều 46. Luật TNBTCNN được xác định trên cơ sở thu nhập trung bình của hai
năm liền kề trước thời điểm xảy ra thiệt hại và được xác định theo báo cáo tài
chính hợp pháp của tổ chức; trường hợp không có báo cáo tài chính, tổ chức có thể
chứng minh thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút bằng các tài liệu, chứng cứ
hợp pháp khác theo quy định của pháp luật có liên quan.
Trường hợp tổ chức được thành lập chưa đủ hai năm tính đến thời điểm xảy ra
thiệt hại thì thu nhập thực tế của tổ chức được xác định trên cơ sở thu nhập bình
quân trong thời gian hoạt động thực tế của tổ chức đó.
Chương III
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.