Nghị quyết05/2019/NQ-HBan hành: 15/08/2019Còn hiệu lực
Nghị quyết Hướng dẫn áp dụng Điều 214 về tội gian lận bảo hiểm xã hội,
Citator
Chú thích màu
Bãi bỏ/Thay thế Sửa đổi Bổ sung Hợp nhất Đính chính
Văn bản này tác động đến (1)
- Sửa đổiLuật 12/2017/QH
Mục lục - 8 điều ▼
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị quyết này hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 214 về tội gian
lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, Điều 215 về tội gian lận bảo hiểm y tế
và Điều 216 về tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp
cho người lao động của Bộ luật Hình sự.
Điều 2. Về một số thuật ngữ được sử dụng trong hướng dẫn áp dụng các
điều 214, 215 và 216 của Bộ luật Hình sự
1. Lập hồ sơ giả quy định tại điểm a khoản 1 Điều 214 của Bộ luật Hình sự là
hành vi lập hồ sơ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp trong đó có giấy tờ, tài
liệu giả (ví dụ: giấy tờ, tài liệu không có thật, không do cơ quan có thẩm quyền cấp
hoặc cấp không đúng quy định, không đúng thẩm quyền, không đúng thời hạn...)
-- 1 of 8 --
CÔNG BÁO/Số 655 + 656/Ngày 29-8-2019 23
để thanh toán các chế độ: ốm đau; thai sản; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
hưu trí; tử tuất; trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm; hỗ trợ học
nghề; hỗ trợ đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng để duy trì việc làm cho
người lao động và chế độ khác theo quy định của pháp luật.
2. Lập hồ sơ bệnh án khống quy định tại điểm a khoản 1 Điều 215 của Bộ luật
Hình sự là trường hợp không có sự việc khám bệnh, chữa bệnh hoặc có sự việc
khám bệnh, chữa bệnh của người tham gia bảo hiểm y tế nhưng họ không phải
điều trị mà vẫn lập hồ sơ bệnh án cho họ.
3. Kê đơn thuốc khống quy định tại điểm a khoản 1 Điều 215 của Bộ luật Hình
sự là trường hợp không có sự việc khám bệnh, chữa bệnh hoặc có sự việc khám
bệnh, chữa bệnh của người tham gia bảo hiểm y tế nhưng không có việc sử dụng
thuốc mà vẫn kê đơn thuốc cho người có thẻ bảo hiểm y tế.
4. Kê tăng số lượng hoặc thêm loại thuốc, vật tư y tế, dịch vụ kỹ thuật, chi phí
giường bệnh quy định tại điểm a khoản 1 Điều 215 của Bộ luật Hình sự là trường
hợp có sự việc khám bệnh, chữa bệnh của người tham gia bảo hiểm y tế nhưng kê
số lượng thuốc, vật tư y tế, dịch vụ kỹ thuật nhiều hơn số lượng thuốc, vật tư y tế,
dịch vụ kỹ thuật mà thực tế người bệnh sử dụng hoặc kê thêm các loại thuốc, vật tư
y tế, dịch vụ kỹ thuật mà thực tế người bệnh không sử dụng; kê tăng số lượng ngày
điều trị nội trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc kê không đúng tên thuốc, vật
tư y tế, loại giường và các dịch vụ kỹ thuật khác mà thực tế người bệnh đã sử dụng
để làm tăng tiền chi phí khám bệnh, chữa bệnh thanh toán với quỹ bảo hiểm y tế.
5. Chi phí khác quy định tại điểm a khoản 1 Điều 215 của Bộ luật Hình sự là
các chi phí phát sinh trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh không bao gồm chi phí tiền thuốc, vật tư y tế, dịch vụ kỹ thuật và chi
phí giường bệnh (ví dụ: tiền công khám, chi phí vận chuyển người bệnh…).
6. Giả mạo hồ sơ, thẻ bảo hiểm y tế quy định tại điểm b khoản 1 Điều 215 của
Bộ luật Hình sự là hành vi lập, sử dụng hồ sơ, thẻ bảo hiểm y tế không do cơ quan
có thẩm quyền cấp hoặc giả mạo hồ sơ, thẻ bảo hiểm y tế của người khác để hưởng
chế độ bảo hiểm y tế trái quy định.
7. Thẻ bảo hiểm y tế được cấp khống quy định tại điểm b khoản 1 Điều 215
của Bộ luật Hình sự là thẻ bảo hiểm y tế do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp
cho người không đóng hoặc không thuộc diện được các tổ chức, nguồn quỹ khác
đóng bảo hiểm y tế theo quy định.
-- 2 of 8 --
24 CÔNG BÁO/Số 655 + 656/Ngày 29-8-2019
8. Thẻ bảo hiểm y tế giả quy định tại điểm b khoản 1 Điều 215 của Bộ luật
Hình sự là thẻ bảo hiểm y tế không do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.
9. Thẻ đã bị thu hồi, thẻ bị sửa chữa quy định tại điểm b khoản 1 Điều 215 của
Bộ luật Hình sự là thẻ bảo hiểm y tế được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp
cho người tham gia bảo hiểm y tế nhưng đã bị thu hồi theo quy định của pháp luật
về bảo hiểm y tế hoặc thẻ đã bị sửa chữa, làm sai lệch thông tin của người có thẻ.
10. Trốn đóng bảo hiểm quy định tại Điều 216 của Bộ luật Hình sự là hành vi
của người sử dụng lao động có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo
hiểm thất nghiệp cho người lao động mà gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để
không đóng hoặc không đóng đầy đủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp cho người lao động thuộc đối tượng phải tham gia bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
11. Gian dối để không đóng, không đóng đầy đủ tiền bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 216 của Bộ luật Hình sự
là trường hợp cố ý không kê khai hoặc kê khai không đúng thực tế việc đóng bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với cơ quan có thẩm quyền.
12. Không đóng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp
quy định tại khoản 1 Điều 216 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người sử dụng
lao động không gửi hồ sơ đăng ký đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo
hiểm thất nghiệp đối với người lao động hoặc có gửi hồ sơ và đã xác định rõ,
đầy đủ số người phải đóng hoặc các khoản phải đóng, lập chứng từ, hồ sơ quyết
toán lương cho người lao động, thu nhập doanh nghiệp, nhưng không đóng tiền
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho cơ quan bảo hiểm xã
hội theo quy định.
13. Không đóng đầy đủ quy định tại khoản 1 Điều 216 của Bộ luật Hình sự là
việc người sử dụng lao động đã xác định rõ, đầy đủ các khoản đóng bảo hiểm, lập
chứng từ, hồ sơ quyết toán lương cho người lao động, thu nhập doanh nghiệp
nhưng chỉ đóng một phần tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp cho cơ quan bảo hiểm xã hội theo quy định.
14. 06 tháng trở lên quy định tại khoản 1 Điều 216 của Bộ luật Hình sự được
xác định là 06 tháng liên tục hoặc 06 tháng cộng dồn trở lên.
Ví dụ: Trong thời gian từ tháng 5 năm 2018 đến tháng 3 năm 2019, Doanh
nghiệp A không đóng bảo hiểm xã hội 04 tháng trong năm 2018 (gồm các
-- 3 of 8 --
CÔNG BÁO/Số 655 + 656/Ngày 29-8-2019 25
tháng 5, 7, 9 và 11) và 02 tháng trong năm 2019 (tháng 01 và tháng 02) là không
đóng bảo hiểm xã hội 06 tháng cộng dồn trở lên.
15. Thiệt hại do hành vi phạm tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo
hiểm thất nghiệp quy định tại Điều 214 và Điều 215 của Bộ luật Hình sự gây ra
không bao gồm số tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế bị
chiếm đoạt.
Điều 3. Về một số tình tiết định khung hình phạt
1. Có tính chất chuyên nghiệp quy định tại điểm b khoản 2 các điều 214 và
215 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi gian lận
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế từ 05 lần trở lên (không
phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm
hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa
án tích) và người phạm tội lấy khoản lợi bất chính thu được từ việc phạm tội làm
nguồn thu nhập.
2. Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt quy định tại điểm đ khoản 2 các điều 214
và 215 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội sử dụng công nghệ cao,
móc nối với người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nước hoặc thủ đoạn
gian dối, mánh khóe khác để tiêu hủy chứng cứ, che giấu hành vi phạm tội, gây
khó khăn cho việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm.
3. Phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm a khoản 2 Điều 216 của Bộ luật
Hình sự là trường hợp đã thực hiện hành vi phạm tội trốn đóng bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động từ 02 lần trở lên nhưng
đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách
nhiệm hình sự.
4. Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động
quy định tại điểm d khoản 2 và điểm c khoản 3 Điều 216 của Bộ luật Hình sự là
trường hợp người sử dụng lao động đã thu hoặc đã khấu trừ tiền đóng bảo hiểm từ
tiền lương tháng đóng bảo hiểm của người lao động nhưng không đóng cho cơ
quan bảo hiểm.
Điều 4. Truy cứu trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp cụ thể
1. Trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng một loại hành vi quy định
tại các điều 214 và 215 của Bộ luật Hình sự chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và trong các hành vi đó chưa có lần nào bị xử phạt
-- 4 of 8 --
26 CÔNG BÁO/Số 655 + 656/Ngày 29-8-2019
vi phạm hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính hoặc chưa
hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu tổng số tiền bảo hiểm của các lần
bị chiếm đoạt bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo
quy định của Bộ luật Hình sự, thì người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi
phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng theo tổng số tiền của
các lần bị chiếm đoạt, nếu các hành vi được thực hiện liên tục, kế tiếp nhau về
mặt thời gian.
2. Trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng một loại hành vi quy
định tại các điều 214 và 215 của Bộ luật Hình sự gây thiệt hại cho quỹ bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và trong các hành vi đó chưa có lần
nào bị xử phạt vi phạm hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành
chính hoặc chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu tổng số tiền của
các lần bị thiệt hại bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự
theo quy định của Bộ luật Hình sự, thì người thực hiện nhiều lần cùng loại hành
vi phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng theo tổng số tiền
của các lần gây thiệt hại, nếu các hành vi được thực hiện liên tục, kế tiếp nhau
về mặt thời gian.
3. Trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội vừa chiếm đoạt tiền bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp vừa gây thiệt hại mà số tiền bị chiếm
đoạt, số tiền bị thiệt hại đều trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự
theo quy định tại các điều 214 và 215 của Bộ luật Hình sự thì xử lý như sau:
a) Nếu số tiền bảo hiểm bị chiếm đoạt, số tiền bị thiệt hại đều thuộc khung
hình phạt cơ bản thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung
hình phạt cơ bản.
Ví dụ: Nguyễn Văn A thực hiện hành vi lập hồ sơ giả bảo hiểm xã hội chiếm
đoạt 20.000.000 đồng và gây thiệt hại 150.000.000 đồng thì Nguyễn Văn A bị truy
cứu trách nhiệm hình sự về tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp quy
định tại khoản 1 Điều 214 của Bộ luật Hình sự.
b) Nếu số tiền bảo hiểm bị chiếm đoạt, số tiền bị thiệt hại thuộc các khung
hình phạt khác nhau thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung
hình phạt cao hơn.
Ví dụ: Nguyễn Văn A thực hiện hành vi lập hồ sơ giả bảo hiểm xã hội chiếm
đoạt 20.000.000 đồng và gây thiệt hại 250.000.000 đồng thì Nguyễn Văn A bị truy
-- 5 of 8 --
CÔNG BÁO/Số 655 + 656/Ngày 29-8-2019 27
cứu trách nhiệm hình sự về tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp quy
định tại điểm d khoản 2 Điều 214 của Bộ luật Hình sự.
c) Nếu số tiền bảo hiểm bị chiếm đoạt, số tiền bị thiệt hại cùng một khung hình
phạt tăng nặng thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo cả hai tình
tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Ví dụ: Nguyễn Văn B thực hiện hành vi lập hồ sơ giả bảo hiểm xã hội chiếm
đoạt 150.000.000 đồng và gây thiệt hại 250.000.000 đồng thì Nguyễn Văn B bị
truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp
với tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 214 của Bộ
luật Hình sự.
4. Người thực hiện hành vi làm giả hồ sơ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất
nghiệp, bảo hiểm y tế, thẻ bảo hiểm y tế để chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế hoặc gây thiệt hại, ngoài việc bị truy cứu trách
nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng quy định tại các điều 214 hoặc 215 của Bộ
luật Hình sự, người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm giả
con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ
quan, tổ chức quy định tại Điều 341 của Bộ luật Hình sự nếu có đủ yếu tố cấu
thành tội phạm.
Điều 5. Xử lý hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm
thất nghiệp cho người lao động thực hiện trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01
năm 2018
1. Đối với hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp thực hiện trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 thì không xử lý
về hình sự theo quy định tại Điều 216 của Bộ luật Hình sự mà tùy từng trường hợp
xử lý như sau:
a) Trường hợp chưa xử phạt vi phạm hành chính và chưa hết thời hiệu xử
phạt vi phạm hành chính thì cơ quan có thẩm quyền xem xét xử phạt vi phạm
hành chính.
b) Trường hợp đã xử phạt vi phạm hành chính mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt
cố tình trốn tránh, trì hoãn việc thi hành thì thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi
phạm hành chính được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 74 của Luật Xử lý
vi phạm hành chính. Việc thi hành, cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm
hành chính này thực hiện theo pháp luật về thi hành, cưỡng chế thi hành quyết định
xử phạt vi phạm hành chính.
-- 6 of 8 --
28 CÔNG BÁO/Số 655 + 656/Ngày 29-8-2019
c) Trường hợp gây thiệt hại cho người lao động, cơ quan bảo hiểm xã hội hoặc
tổ chức, cá nhân khác thì người bị thiệt hại có thể khởi kiện yêu cầu bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng đối với người vi phạm theo quy định của pháp luật tố tụng
dân sự.
2. Không coi việc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn đóng bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động trước 0 giờ
00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 là căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự theo
quy định tại Điều 216 của Bộ luật Hình sự.
Điều 6. Xác định tư cách tố tụng của cơ quan bảo hiểm xã hội
Trong các vụ án hình sự mà bị can, bị cáo bị truy cứu trách nhiệm hình sự về
tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp theo Điều 214 của Bộ luật
Hình sự; tội gian lận bảo hiểm y tế theo Điều 215 của Bộ luật Hình sự; tội trốn
đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động
theo Điều 216 của Bộ luật Hình sự, cơ quan bảo hiểm xã hội tham gia tố tụng với
tư cách là bị hại.
Điều 7. Tổ chức thực hiện
1. Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm quy định tại các điều 214, 215
và 216 của Bộ luật Hình sự, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan
bảo hiểm xã hội gửi văn bản kiến nghị khởi tố kèm theo chứng cứ, tài liệu có liên
quan đến cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để xem xét, khởi tố theo quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với tổ chức công đoàn, tổ chức đại diện cho người lao động và cơ quan,
tổ chức, cá nhân khác phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm quy định tại các
điều 214, 215 và 216 của Bộ luật Hình sự thì thông báo ngay đến cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng để xem xét, khởi tố theo quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự.
2. Khi nhận được tin báo về tội phạm hoặc văn bản kiến nghị khởi tố và chứng
cứ, tài liệu có liên quan, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem xét, thụ
lý, giải quyết theo quy định của pháp luật.
3. Việc gửi văn bản kiến nghị khởi tố và chuyển chứng cứ, tài liệu có liên quan
đến cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Bộ luật
Tố tụng hình sự và Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-
BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Bộ Công an, Bộ Quốc
-- 7 of 8 --
CÔNG BÁO/Số 655 + 656/Ngày 29-8-2019 29
phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện Kiểm sát
nhân dân tối cao quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong
việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp
nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
Điều 8. Hiệu lực thi hành
Nghị quyết này đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
thông qua ngày 25 tháng 6 năm 2019 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01
tháng 9 năm 2019.
TM. HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN
CHÁNH ÁN
Nguyễn Hòa Bình
-- 8 of 8 --
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.