Quyết định1923/QĐ-UBNDBan hành: 01/05/2026Còn hiệu lực
Quyết định Ban hành Kế hoạch Phát triển chăn nuôi đến năm 2030,
Mục lục - 3 điều ▼
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Kế hoạch Phát triển chăn nuôi đến
năm 2030, định hướ ng đến năm 2045 trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Các Quyết định sau
đây hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực:
1. Quyết định số 210/QĐ-UBND ngày 09 tháng 3 năm 2022 của UBND tỉnh Gia
Lai (trước sắp xếp) Phê duyệt Kế hoạch phát triển chăn nuôi, thủy sản giai đoạn 2021
- 2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
2. Quyết định số 2042/QĐ-UBND ngày 07 tháng 6 năm 2024 của UBND tỉnh
Bình Định (trước sắp xếp) về việc Ban hành Kế hoạch thực hiện Chiến lược phát
triển chăn nuôi đến năm 2030, tầm nhìn 2045 trên địa bàn tỉnh Bình Định.
Điều 3. Chánh Văn phòng UBND tỉnh; Giám đốc các Sở: Nông nghiệp và Môi
trường, Tài chính, Khoa học và Công nghệ, Công Thương, Xây dựng; Chủ tịch
UBND các xã, phường và Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị liên quan chịu trách nhiệm
thi hành Quyết định này./.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Dương Mah Tiệp
-- 2 of 68 --
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
KẾ HOẠCH
Phát triển chăn nuôi đến năm 2030, định hướng
đến năm 2045 trên địa bàn tỉnh Gia Lai
(Ban hành Kèm theo Quyết định số 1923/QĐ-UBND
ngày 01/5/2026 của UBND tỉnh Gia Lai)
Phầ n I
THỰ C TRẠNG PHÁT TRIỂ N CHĂN NUÔI
I. TÌNH HÌNH THẾ GIỚI
1. Nguồn cung và nhu cầu sản phẩm chăn nuôi
a) Thịt gia súc, gia cầm
Năm 2025 ghi nhận nguồn cung thịt toàn cầu duy trì ở mức cao, đặc biệt tại các
quốc gia có lợi thế cạnh tranh về quy mô sản xuất và công nghệ. Sản lượng thịt
khoảng 384 triệu tấn; Trong đó, thịt bò khoảng 60,9 triệu tấn, thịt lợn khoảng 116,7
triệu tấn, thịt gia cầm khoảng 151,4 triệu tấn.
Mức tiêu thụ thịt bình quân đầu người trên thế giới hiện nay 40 -45 kg/
người/năm. Tuy nhiên, con số này có sự chênh lệch rất lớn giữa các quốc gia phát
triển (80-100kg) và các quốc gia đang phát triển (dưới 20kg). Thịt lợn và th ịt gia cầm
chiếm tỷ trọng tiêu thụ cao nhất toàn cầu.
Các nước Mỹ, Brazil, Nga là các nước xuất khẩu thịt hàng đầu thế giới. Mỹ xuất
khẩu thịt gà khoảng 3,3–3,4 triệu tấn, thịt lợn khoảng 3,0 triệu tấn, thịt bò khoảng
1,2–1,3 triệu tấn. Brazil xuất khẩu thịt bò 2,7–2,9 triệu tấn, thịt gà khoảng 4,8–5,0
triệu tấn, thịt lợn khoảng 1,4–1,5 triệu tấn. Nga xuất khẩu thịt gia cầm khoảng 0,4–
0,5 triệu tấn, thịt lợn khoảng 0,3–0,4 triệu tấn. Trung Quốc sản xuất và tiêu thụ thịt
lớn nhất thế giới , sản lượng thịt lợn năm 2025 trên 55 triệu tấn. Tuy nhiên, xuất khẩu
thịt ở mức khiêm tốn (khoảng 0,2 triệu tấn), trong khi thịt lợn có hiện tượng cung
vượt cầu thì nước này vẫn duy trì nhập khẩu một số sản phẩm chăn nuôi như thịt gia
cầm, thậm chí cả thịt lợn để cân đối cung, cầu nội.
Việc gia tăng sản lượng và duy trì nguồn cung xuất khẩu lớn từ các quốc gia nêu
trên tạo áp lực cạnh tranh đáng kể về giá đối với các nước nhập khẩu và các thị
trường đang phát triển. Các tập đoàn chăn nuôi quốc tế tiếp tục mở rộng mô hình
-- 3 of 68 --
chuỗi giá trị tích hợp từ con giống, thức ăn, chăn nuôi, giết mổ, chế biến đến phân
phối, qua đó tối ưu hóa chi phí và giảm thiểu rủi ro thị trường.
b) Trứng gia cầm
Sản lượng trứng gia cầm toàn cầu năm 2025 đạt khoảng 1,3 nghìn tỷ quả. Trong đó,
Châu Á chiếm hơn 64% tổng sản lượng trứng toàn cầu (Trung Quốc đóng góp
tới 38% sản lượng thế giới ). Châu Mỹ đứng thứ hai với sự dẫn đầu của Mỹ (chiếm 7%
sản lượng toàn cầu). Ấn Độ đóng góp khoảng 7% sản lượng thế giới và đang trở thành
nhà xuất khẩu trứng tiềm năng sang các thị trường khó tính như Mỹ.
Năm 2025, mức tiêu thụ bình quân khoảng 161 - 165 quả/người/năm, tốc độ
tăng trưởng ổn định khoảng 2% mỗi năm. Tuy nhiên, có sự chênh lệch rất lớn giữa
các quốc gia dựa trên thói quen ăn uống và thu nhập. Nhóm tiêu thụ cao (trên 300
quả/năm) như: Mexico khoảng 380-390 quả, Nhật Bản và Trung Quốc khoảng 300-
340 quả; Nhóm tiêu thụ trung bình (150-250 quả/năm) như: Hoa Kỳ và EU 250 - 280
quả, Việt Nam khoảng trên 200 quả; Các nước tại châu Phi và một số vùng ở Nam Á
có mức tiêu thụ thấp hơn, chỉ khoảng 40 - 70 quả, nhưng đây lại là khu vực có tiềm
năng tăng trưởng mạnh nhất. Việc tiêu thụ trứng gia cầm ảnh hưởng bởi các yếu tố
như thay thế thịt đỏ, là "siêu thực phẩm" trong các chế độ ăn kiêng, tập luyện
(Gym/Keto) và dinh dưỡng cho trẻ em.
c) Thức ăn chăn nuôi
Năm 2025, sản lượng thức ăn chăn nuôi (TĂCN) toàn cầu duy trì tăng trưởng ổn
định, đạt khoảng 1,4 tỷ tấn. Trong đó, khoảng 52% sản lượng TĂCN thế giới tập
trung tại 4 quốc gia lớn: Trung Quốc khoảng 315 triệu tấn (chiếm khoảng 22% toàn
cầu), Hoa Kỳ khoảng 270 triệu tấn, Brazil khoảng 86,6 triệu tấn, Ấn Độ hơn 55 triệu
tấn. Việt Nam lần đầu ghi dấu ấn rõ nét trên bản đồ thế giới với sản lượng đạt
khoảng 22,12 triệu tấn, xếp thứ 8 toàn cầu.
Giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi toàn cầu (ngô, đậu tương, lúa mì) có xu
hướng ổn định hơn so với giai đoạn biến động mạnh trước đây, nhưng vẫn phụ thuộc
lớn vào sản lượng thu hoạch tại khu vực châu Mỹ và Biển Đen. Đối với các quốc gia
phụ thuộc nhập khẩu nguyên liệu (trong đó có Việt Nam) chi phí sản xuất vẫn tiềm ẩn
rủi ro do biến động tỷ giá, chi phí logistics và tình hình địa chính trị.
2. Xu hướng phát triển chăn nuôi
Ngành chăn nuôi toàn cầu đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng hiện đại, bền
vững, giảm tác động tiêu cực đến môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu. Nhiều
-- 4 of 68 --
quốc gia phát triển áp dụng mô hình quy mô lớn, chuỗi liên kết giá trị khép kín từ
giống – thức ăn – chăn nuôi – giết mổ – chế biến – phân phối, giúp tối ưu chi phí và
nâng cao chất lượng sản phẩm chăn nuôi.
Công nghệ cao và chuyển đổi số được ứng dụng rộng rãi: cảm biến, tự động hóa,
AI, Big Data, blockchain hỗ trợ quản lý đàn, dịch bệnh và truy xuất nguồn gốc. Đồng
thời, áp lực giảm phát thải khí nhà kính thúc đẩy mô hình chăn nuôi xanh, tuần hoàn, sử
dụng phụ phẩm nông nghiệp và ứng dụng công nghệ xử lý chất thải tiên tiến.
Tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và phúc lợi động vật ngày càng khắt khe, trở
thành điều kiện tiên quyết để sản phẩm tham gia thị trường quốc tế. Cơ cấu tiêu dùng
cũng dịch chuyển: giảm thịt đỏ, tăng thịt gia cầm và protein thay thế, đặc biệt tại các
nước phát triển và đang phát triển.
Ngoài ra, dịch bệnh xuyên biên giới như Dịch tả lợn châu Phi, Cúm gia cầm buộc các
quốc gia đầu tư mạnh vào giám sát, cảnh báo sớm và xây dựng vùng an toàn dịch bệ nh.
Tóm lại, xu hướng chăn nuôi thế giới hướng đến mô hình quy mô lớn , công nghệ
cao, xanh, bền vững, an toàn thực phẩm, vừa tạo áp lực cạnh tranh, vừa mở ra cơ hội cho
các quốc gia biết tận dụng công nghệ và tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị.
II. TÌNH HÌNH TRONG NƯỚC
1. Bối cảnh chung
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi tiếp tục nhận được sự quan tâm chỉ
đạo của Chính phủ, các bộ ngành và địa phương, giúp tăng cường kiểm soát dịch
bệnh và ổn định thị trường. Cơ cấu sản xuất chuyển dịch theo hướng h iện đại, tỷ
trọng chăn nuôi trang trại và công nghiệp chiếm trên 45% tổng đàn và hơn 60% sản
lượng, tạo điều kiện áp dụng công nghệ, nâng cao năng suất và an toàn sinh học. Xu
hướng chăn nuôi công nghiệp, hữu cơ và chuỗi liên kết khép kín ngày càng rõ nét. Cơ
cấu vật nuôi tập trung vào các sản phẩm chủ lực như lợn, gà, bò thịt và bò sữa; sản
lượng thịt, trứng, sữa tiếp tục tăng, đảm bảo an ninh thực phẩm; tỷ trọng chăn nuôi
tăng lên khoảng 25-27%.
Bênh cạnh đó, ngành chăn nuôi trong nước vẫn đối mặt nhiều t hách thức: (i) Hội
nhập sâu rộng qua các FTA tạo cơ hội nhưng cũng làm gia tăng cạnh tranh với sản
phẩm nhập khẩu giá rẻ; (ii) Cơ cấu sản xuất còn nhiều chăn nuôi nông hộ, năng suất
thấp, chi phí cao do phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu; (iii) Liên kết chuỗi giá trị chưa
chặt chẽ, khâu giết mổ, chế biến và bảo quản lạnh chưa phát triển tương xứng, khiến
tiêu thụ phụ thuộc vào thị trường truyền thống (tiêu dùng thịt, sản phẩm tươi sống);
-- 5 of 68 --
(iv) Quản lý ngành và nguồn lực đầu tư tại nhiều địa phương còn hạn chế, khó tiếp
cận đất đai để phát triển vùng chăn nuôi tập trung và công nghiệp chế biến; (vi) Hạ
tầng logistics, dịch vụ vận chuyển, lưu kho và chuỗi cung ứng lạnh chưa đồng bộ,
làm tăng chi phí và giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, tranh
chấp vẫn còn xảy ra ở một số khu vực ảnh hưởng tới nguồn cung nguyên liệu cho
chăn nuôi.
2. Kết quả sản xuất chăn nuôi
Giai đoạn 2020-2025, ngành chăn nuôi Việt Nam đã có những bước phát triển
đáng kể, vươn lên nhóm quốc gia có quy mô sản xuất lớn trên thế giới. Sản lượng
thịt, trứng, sữa duy trì tăng trưởng ổn định, góp phần đảm bảo an ninh thực phẩm và
từng bước tham gia vào thị trường xuất khẩu.
a) Đối với c hăn nuôi lợn
Tổng đàn lợn của Việt Nam giai đoạn 2020–2025 có xu hướng tăng trưởng và
phục hồi sau ảnh hưởng của bệnh Dịch tả lợn châu Phi. Năm 2020 tổng đàn lợn đạt
khoảng 25,76 triệu con, đến năm 2025, tổng đàn lợn khoảng 31,40 triệu con, tăng
21,9%. Sản lượng thịt lợn có xu hướng tăng trưởng liên tục, từ 4,01 triệu tấn năm
2020 lên 5,39 triệu tấn vào năm 2025, tăng khoảng 34%, chiếm khoảng 4,6% sản
lượng của thế giới. Tăng trưởng sản lượng thịt phản ánh sự phục hồi mạnh của ngành
chăn nuôi, quá trình chuyển dịch sang chăn nuôi trang trại, công nghiệp và sự tham
gia ngày càng lớn của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị sản xuất.
b) Đối với chăn nuôi gia cầm
Giai đoạn 2020–2025, tổng đàn gia cầm của Việt Nam duy trì xu hướng tăng,
quy mô đàn từ khoảng 512,7 triệu con năm 2020 lên khoảng 584,9 triệu con năm
2025, tăng 14%.
Sản lượng thịt gia cầm tăng từ 1,87 triệu tấn năm 2020 lên khoảng 2,60 triệu tấn năm
2025, tương đương tăng khoảng 39%, chiếm khoảng 1,7% sản lượng toàn cầu.
Sản lượng trứng gia cầm tăng ổn định, từ 16,66 tỷ quả năm 2020 lên khoảng
21,08 tỷ quả năm 2025, tăng 26%, chiếm khoảng 1,62% sản lượng toàn cầu.
Nhìn chung, sự gia tăng đồng thời của quy mô đàn gia cầm và sản lượng thịt,
trứng cho thấy ngành chăn nuôi gia cầm đang phát triển theo hướng tăng cả quy mô
và năng suất, góp phần quan trọng trong đảm bảo nguồn cung thực phẩm và phát
triển chuỗi giá trị sản phẩm gia cầm.
c) Đối với chăn nuôi bò
-- 6 of 68 --
Đàn bò nhìn chung duy trì tương đối ổn định, có xu hướng giảm nhẹ. Quy mô
đàn bò giảm từ 6,33 triệu con năm 2020 xuống còn khoảng 6,14 triệu con năm 2025,
với mức giảm bình quân khoảng 1,02%/năm. Mặc dù tổng đàn giảm nhẹ, nhưng cơ
cấu đàn bò có xu hướng chuyển dịch theo hướng nâng cao chất lượng, tăng tỷ lệ bò
lai, bò chuyên thịt và bò sữa trong các mô hình chăn nuôi trang trại, góp phần nâng
cao năng suất và hiệu quả sản xuất. Sản lượng thịt bò năm 2025 khoảng 530 nghìn
tấn, chiếm khoảng 0,87% sản lượng toàn cầu.
d) Vật nuôi khác
Đàn trâu có xu hướng giảm khá rõ rệt ; từ 2,33 triệu con năm 2020 xuống còn
khoảng 1,95 triệu con năm 2025, với mức giảm bình quân khoảng 3,63%/năm.
Nguyên nhân chủ yếu do quá trình cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, làm giảm
nhu cầu sử dụng trâu làm sức kéo, cùng với hiệu quả kinh tế từ chăn nuôi trâu chưa
cao so với các vật nuôi khác.
Đối với đàn dê, cừu, quy mô đàn từ khoảng 2,77 triệu con năm 2020 lên 2,87
triệu con năm 2025, mức tăng quy mô đàn không nhiều.
3. Các lĩnh vực phụ trợ
a) Giết mổ và chế biến sản phẩm
- Lĩnh vực giết mổ gia súc, gia cầm tại Việt Nam đang ở giai đoạn chuyển đổi,
với sự đan xen giữa mô hình công nghiệp hiện đại và các cơ sở nhỏ lẻ truyền thống.
Hiện nay khoảng 70 - 80% lượng thịt cung ứng ra thị trường (đặc biệt là chợ truyền
thống) vẫn đến từ các hộ giết mổ thủ công, nhỏ lẻ. Nhiều cơ sở trong số này chưa
đảm bảo điều kiện vệ sinh thú y và an toàn thực phẩm. Việc kiểm soát tại các cơ sở
giết mổ nhỏ lẻ gặp nhiều khó khăn; tình trạng giết mổ "chui", không có kiểm soát của
cơ quan thú y diễn ra, tiềm ẩn nguy cơ lây lan dịch bệnh. Vấn đề môi trường và xử lý
chất thải, đây là "điểm đen" tại các cơ sở giết mổ thủ công, khi hệ thống xử lý nước
thải và phụ phẩm (tiết, lông, nội tạng thừa) chưa được đầu tư bài bản, gây ô nhiễm
nguồn nước và mùi hôi cho khu dân cư xung quanh.
Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của sản xuất chăn nuôi, công nghiệp giết mổ,
chế biến sản phẩm chăn nuôi từng bước được đầu tư và m ở rộng, góp phần nâng cao
giá trị gia tăng của sản phẩm. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đã
đầu tư các tổ hợp giết mổ, chế biến thịt và chế biến sữa quy mô công nghiệp, áp dụng
công nghệ hiện đại, đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và phục vụ thị trường
xuất khẩu. Một số doanh nghiệp đã hình thành chuỗi liên kết khép kín từ sản xuất con
-- 7 of 68 --
giống-thức ăn chăn nuôi, chăn nuôi, giết mổ, chế biến, phân phối sản phẩm, góp phần
nâng cao hiệu quả sản xuất và ổn định thị trường. Điển hình là các doanh nghiệp lớn
như CP, Masan (MeatDeli), Visan, De Heus... đã đầu tư dây chuyền hiện đại, khép kín
(từ trang trại đến bàn ăn). Tuy nhiên, các nhà máy này thường mới chỉ hoạt động
khoảng 40 - 60% công suất do khó cạnh tranh về giá với thịt từ cơ sở giết mổ thủ công.
Thói quen tiêu dùng thịt tươi (thịt nóng) ngay sau khi giết mổ của người dân còn rất
lớn, gây khó khăn cho việc triển khai mô hình thịt mát (giết mổ và bảo quản trong môi
trường lạnh) vốn an toàn hơn.
Thời gian tới , các địa phương đẩy mạnh xây dựng các cơ sở giết mổ tập trung để
thuận lợi kiểm soát dịch bệnh và xử lý chất thải môi trường, từng bước loại thải các
cơ sở kém chất lượng để nhường chỗ cho các chuỗi giá trị hiện đại.
- Lĩnh vực chế biến, thời gian qua, tỷ lệ sản phẩm chăn nuôi qua chế biến sâu tại
Việt Nam mới bước đầu phát triển . Năm 2025 đánh dấu bước ngoặt lớn khi ngành
chế biến thịt và trứng chuyển mình từ "bán sản phẩm thô" sang "chế biến sâu" để gia
tăng giá trị.
Chế biến thịt (Lợn, Gà, Bò) đang bùng nổ nhờ sự thâm nhập của các tập đoàn
lớn và thay đổi thói quen ăn uống của người trẻ. Thị trường hiện được thống lĩnh bởi
3 nhóm chính: Vissan (thế mạnh đồ hộp, lạp xưởng), Masan MeatDeli (thế mạnh thịt
mát và giò chả sạch) và CP Việt Nam (thế mạnh xúc xích, gà rán). Bên cạnh đó, sản
phẩm tiện lợi với các dòng thịt chế biến sẵn như chân giò ủ muối, thịt xông khói, gà ủ
thảo mộc và thực phẩm đóng khay phát triển với mức tăng trưởng trên 20%/năm.
Ngoài ra, một số doanh nghiệp đã bắt đầu xuất khẩu thành công thịt gà chế biến (sang
Nhật Bản) và thịt lợn sữa (sang Hong Kong) nhờ đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt
khe về an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm.
- Đối với trứng gia cầm , không còn chỉ bán trứng tươi, các nhà máy đang đa
dạng hóa sản phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp thực phẩm (bánh kẹo, mì ăn
liền). Các sản phẩm như trứng bách thảo, trứng muối, trứng ăn liền (hút chân
không) và đặc biệt là bột trứng, trứng lỏng tiệt trùng đang được sản xuất quy mô lớn
để cung ứng cho các nhà máy sản xuất bánh kẹo lớn.
Khó khăn hiện nay là chi phí chăn nuôi trong nước còn cao, khiến sản phẩm chế
biến Việt Nam khó cạnh tranh về giá với hàng nhập khẩu từ Brazil hay Mỹ ; việc tận
dụng phụ phẩm (xương, huyết, da) để làm bột xương thịt hay collagen vẫn còn ở quy
mô nhỏ, chưa tối ưu hóa hết chuỗi giá trị.
b) Công tác giống vật nuôi
-- 8 of 68 --
Giống vật nuôi là yếu tố then chốt quyết định năng suất, chất lượng sản phẩm và
hiệu quả chăn nuôi. Trong những năm gần đây, công tác chọn tạo và phát triển giống
vật nuôi ở nước ta đã có nhiều chuyển biến tích cực.
Đối với chăn nuôi lợn, các giống lợn ngoại cao sản như Landrace, Yorkshire,
Duroc và Pietrain tiếp tục được sử dụng phổ biến trong lai tạo để nâng cao năng suất
đàn lợn thương phẩm. Hiện nay, đàn lợn nái sinh sản (cấp bố mẹ) chủ yếu là các dòng
lai tổng hợp, chiếm khoảng 80%, các dòng nái lai giữa lợn ngoại và lợn nội hoặc lợn
nội thuần chiếm khoảng 20%. Giai đoạn 2019-2024, nguồn lợn giống cấp cụ kỵ và ông
bà sản xuất trong nước đáp ứng khoảng 89% nhu cầu, phần còn lại được nhập khẩu
nhằm cải thiện nguồn gen và nâng cao năng suất. Tính đến năm 2025, cả nước có 224
cơ sở chăn nuôi lợn giống cấp cụ kỵ và ông bà, với tổng đàn nái khoảng 123 nghìn con.
Tỷ lệ thay thế đàn giống hàng năm dao động từ 25-35%, góp phần duy trì và nâng cao
chất lượng đàn giống.
Đối với chăn nuôi gia cầm, các giống gà công nghiệp như Cobb 500, Ross 308,
ISA Brown được sử dụng rộng rãi trong chăn nuôi công nghiệp, trong khi các giống
gà bản địa và gà lai như Ri lai, Mía lai, Lương Phượng được phát triển mạnh tại khu
vực nông thôn nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước.
Đối với chăn nuôi bò, tổng đàn bò cả nước có xu hướng giảm nhẹ trong những
năm gần đây, song cơ cấu đàn có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ lệ bò lai hướng
thịt và bò sữa năng suất cao. Các giống bò lai như Brahman, Red Angus, BBB và
Sind được sử dụng phổ biến nhằm cải thiện năng suất thịt và khả năng thích nghi với
điều kiện chăn nuôi trong nước.
c) Thức ăn chăn nuôi
Thức ăn chăn nuôi (TACN) là đầu vào chính và đóng vai trò quan trọng trong
ngành chăn nuôi Việt Nam. Trong cơ cấu giá thành sản xuất chăn nuôi, TACN chiếm
khoảng 60-70% chi phí sản xuất tổng thể và trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất, sức
khỏe vật nuôi cũng như hiệu quả kinh tế và môi trường.
Trong năm 2025, lĩnh vực thức ăn chăn nuôi có nhiều thuận lợi: Quy mô chăn nuôi
ngày càng mở rộng, thị trường tiêu thụ lớn; Thủ tục xuất nhập khẩu khá thuận lợi, thông
thoáng, thuế nhập khẩu được giảm tối đa cho các mặt hàng nguyên liệu TACN; Có
nhiều chính sách, chương trình đề án hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất TACN; Thể chế
chính sách, thủ tục pháp lý ngày càng được cải thiện và tối ưu, mang tính hội nhập cao;
Tiềm năng về xuất khẩu TACN ra khu vực và thế giới, đặc biệt, đã xuất khẩu được mặt
hàng cám gạo theo Nghị định thư với Trung Quốc; ứng dụng triệt để công nghệ thông t in
-- 9 of 68 --
trong giải quyết thủ tục hành chính lĩnh vực TACN…
Bên cạnh những thuận lợi, thì hoạt động sản xuất TACN ở Việt Nam phụ thuộc
lớn vào nguyên liệu nhập khẩu (trên 65% nguyên liệu thô, trên 90% thức ăn bổ sung);
Tỷ g
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.