Nghị quyết02/2011/NQ-HBan hành: 29/07/2011Đã hết hiệu lực - bị thay thế/bãi bỏ
Nghị quyết Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính
Citator
Chú thích màu
Bãi bỏ/Thay thế Sửa đổi Bổ sung Hợp nhất Đính chính
Bị tác động bởi (2)
- Bãi bỏQuyết định 02/2011/QĐ-UBND
- Bãi bỏQuyết định 02/2011/QĐ-UBND
Mục lục - 7 điều ▼
Chương I VỀ MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định giải quyết
khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh là đối tượng khởi kiện vụ án
hành chính quy định tại Điều 28 của Luật TTHC
1. Quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết
vụ án hành chính là văn bả n được thể hiện dưới hình thức quyết định hoặc dưới hình
thức khác như thông báo, kết luận, công văn do cơ quan hành chính nhà nước, cơ
quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban
hành có chứa đựng nội dung của quyết định hành chính được áp dụng một lần đối
với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý
hành chính mà người khởi kiện cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm
phạm (trừ những văn bản thông báo của cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền
của cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức bổ sung, cung cấp
hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết, xử lý vụ việc cụ thể theo yêu cầu của
cá nhân, cơ quan, tổ chức đó), bao gồm:
a) Quyết định hành chính được cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức
khác hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành trong khi giải
quyết, xử lý những việc cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính;
-- 1 of 20 --
106 CÔNG BÁO/Số 455 + 456/Ngày 16-8-2011
b) Quyết định hành chính được ban hành sau khi có khiếu nại và có nội dung sửa
đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính được
hướng dẫn tại điểm a khoản này.
2. Hành vi hành chính thuộc đối tượng khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết
vụ án hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác
hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không thực
hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật. Việc xác định hành vi hành
chính khi nào là của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác, khi nào
là của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức
khác và khi nào là không thực hiện nhiệm vụ, công vụ phải căn cứ vào quy định của
pháp luật về thẩm quyền, thời hạn thực hiện đối với nhiệm vụ, công vụ đó và phân
biệt như sau:
a) Trường hợp theo quy định của pháp luật, việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
cụ thể là của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác, nhưng do người
trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác đó thực hiện theo sự phân
công hoặc ủy quyền, ủy nhiệm thì hành vi đó là hành vi hành chính của cơ quan hành
chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác mà không phải là hành vi hành chính của
người đã thực hiện hành vi hành chính đó;
Ví dụ: Theo quy định tại Điều 126 của Luật đất đai thì hồ sơ chuyển đổi
quyền sử dụng đất nộp tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Ông Nguyễn
Văn A đã nộp hồ sơ xin chuyển đổi quyền sử dụng đất tại Ủy ban nhân dân
xã X theo đúng quy định, nhưng bà Trần Thị C là cán bộ nhận hồ sơ của Ủy ban
nhân dân xã X đã trả lại hồ sơ cho ông A và không nêu lý do của việc trả lại hồ sơ
đó. Trong trường hợp này, việc trả lại hồ sơ cho ông A là hành vi hành chính của Ủy
ban nhân dân xã X mà không phải là hành vi hành chính của bà Trần Thị C.
b) Trường hợp theo quy định của pháp luật, việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ cụ
thể là của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức
khác thì việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ cụ thể đó là hành vi hành chính của người
có thẩm quyền, không phụ thuộc vào việc họ trực tiếp thực hiện hay phân công, ủy
quyền, ủy nhiệm cho người khác thực hiện;
Ví dụ: Theo quy định của pháp luật thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H là người
có thẩm quyền tổ chức việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông D, nhưng đã ủy nhiệm cho Phó Chủ tịch
Ủy ban nhân dân xã H trực tiếp tổ chức việc cưỡng chế. Trong trường hợp này, việc
cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông D là hành vi
hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H mà không phải là hành vi hành chính
của Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H.
c) Trường hợp theo quy định của pháp luật, việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ cụ
thể là của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác, nhưng hết thời hạn
theo quy định của pháp luật mà cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác
không thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ
-- 2 of 20 --
CÔNG BÁO/Số 455 + 456/Ngày 16-8-2011 107
đó là hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác,
không phụ thuộc vào việc nhiệm vụ, công vụ đó được phân công, ủy quyền, ủy
nhiệm cho người cụ thể nào trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức
khác đó thực hiện;
Ví dụ: Theo quy định tại Điều 7 của Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29-8-2006
của Chính phủ về đăng ký kinh doanh thì Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở
Kế hoạch và Đầu tư tỉnh A có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh cho các doanh nghiệp được thành lập trong địa giới hành chính tỉnh. Doanh
nghiệp N đã nộp đầy đủ hồ sơ đăng ký kinh doanh hợp lệ, nhưng quá thời hạn mà
pháp luật quy định, Phòng đăng ký kinh doanh không cấp Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh cho doanh nghiệp N. Trong trường hợp này, việc không cấp Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp N là hành vi hành chính của
Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh A.
d) Trường hợp theo quy định của pháp luật, việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
cụ thể là của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ
chức khác, nhưng hết thời hạn theo quy định của pháp luật mà người có thẩm quyền
trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác không thực hiện nhiệm
vụ, công vụ thì hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó là hành vi hành chính
của người có thẩm quyền, không phụ thuộc vào việc họ đã phân công, ủy quyền, ủy
nhiệm cho người khác thực hiện.
Ví dụ: Theo quy định tại Điều 30 của Luật Cư trú thì trong thời hạn 03 ngày làm
việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định, Trưởng Công an xã, phường, thị trấn
phải cấp sổ tạm trú cho hộ gia đình hoặc cá nhân đề nghị. Bà X đã nộp đủ giấy tờ
theo quy định đề nghị Trưởng Công an xã N cấp sổ tạm trú, nhưng quá thời hạn 03
ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ mà Trưởng Công an xã N không cấp sổ
tạm trú cho bà X. Trong trường hợp này, việc không cấp sổ tạm trú cho bà X là hành
vi hành chính của Trưởng Công an xã N.
3. Quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thuộc
đối tượng khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính là quyết định của
Hội đồng cạnh tranh, của Bộ trưởng Bộ Công thương khi giải quyết khiếu nại quyết
định xử lý vụ việc cạnh tranh theo quy định tại mục 7 Chương V của Luật Cạnh
tranh, bao gồm:
a) Quyết định giải quyết khiếu nại của Hội đồng cạnh tranh đối với quyết định
của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh khi xử lý vụ việc cạnh tranh liên quan đến
hành vi hạn chế cạnh tranh;
b) Quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Công thương đối với quyết
định của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh khi xử lý vụ việc cạnh tranh liên
quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
-- 3 of 20 --
108 CÔNG BÁO/Số 455 + 456/Ngày 16-8-2011
Chương I VỀ MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 2. Xác định người bị kiện quy định tại khoản 7 Điều 3 của Luật TTHC
1. Theo quy định tại khoản 7 Điều 3 của Luật TTHC thì người bị kiện là cá nhân,
cơ quan, tổ chức có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật
buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh
tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện; do đó, để xác định đúng người bị kiện khi nào
là cá nhân, khi nào là cơ quan, tổ chức thì phải căn cứ vào quy định của pháp luật
về thẩm quyền giải quyết vụ việc đó. Trường hợp có nhiều luật cùng quy định thẩm
quyền ra quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính về một lĩnh vực
quản lý thì việc xác định thẩm quyền của người bị kiện khi nào là cá nhân, khi nào
là cơ quan, tổ chức phải căn cứ vào luật chuyên ngành.
Ví dụ: Có hai quyết định hành chính bị khởi kiện và hai quyết định hành chính
này đều do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký (một quyết định về xử phạt vi
phạm hành chính và một quyết định thu hồi đất của hộ gia đình). Căn cứ vào quy
định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết các vụ việc này thì người bị kiện trong
vụ án hành chính về khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính là cá nhân
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện (Điều 29 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành
chính), còn người bị kiện trong vụ án hành chính về khiếu kiện quyết định thu hồi
đất của hộ gia đình là Ủy ban nhân dân cấp huyện (Điều 44 của Luật Đất đai).
2. Người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức
khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 3 của Luật TTHC là người có chức vụ,
chức danh cụ thể và theo quy định của pháp luật thì người có chức vụ, chức danh đó
mới có thẩm quyền ra quyết định hành chính hoặc có hành vi hành chính. Trường
hợp quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính do một người cụ thể ký hoặc
thực hiện, nhưng người đó ký quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành
chính với danh nghĩa một chức vụ, chức danh có thẩm quyền thì quyết định hành
chính, hành vi hành chính đó là của người đảm nhiệm chức vụ, chức danh đó.
Ví dụ: Quyết định hành chính do ông Nguyễn Văn A ký với danh nghĩa Chủ tịch
Ủy ban nhân dân huyện B thì gọi là quyết định hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân
dân huyện B mà không gọi là quyết định hành chính của ông Nguyễn Văn A.
Chương I VỀ MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 3. Giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính quy
định tại Điều 6 của Luật TTHC
1. Theo quy định tại đoạn 1 Điều 6 của Luật TTHC thì người khởi kiện, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hành chính có thể đồng thời yêu cầu
bồi thường thiệt hại. Thiệt hại trong trường hợp này là thiệt hại thực tế do có quyết
định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định
giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh gây ra. Trường hợp người
khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu bồi thường thiệt hại thì
có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ. Trường hợp cần thiết Tòa án có thể thu thập thêm
chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác.
2. Khi giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại cần phân biệt như sau:
-- 4 of 20 --
CÔNG BÁO/Số 455 + 456/Ngày 16-8-2011 109
a) Trường hợp Tòa án giải quyết cả phần yêu cầu bồi thường thiệt hại cùng với
việc giải quyết vụ án hành chính mà phần quyết định của bản án về bồi thường thiệt
hại bị kháng cáo hoặc kháng nghị hoặc bị Tòa án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm
hoặc tái thẩm hủy để xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm lại thì phần quyết định về bồi
thường thiệt hại trong các trường hợp này là một phần của vụ án hành chính. Thủ tục
giải quyết đối với phần quyết định về bồi thường thiệt hại bị kháng cáo, kháng nghị
hoặc bị hủy để xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm lại được thực hiện theo quy định của
Luật TTHC;
Ví dụ: Trường hợp chỉ có phần quyết định của bản án hành chính sơ thẩm của
Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh P về bồi thường thiệt hại bị kháng cáo thì Tòa hành
chính Tòa án nhân dân tỉnh P sẽ thụ lý giải quyết theo thủ tục tố tụng hành chính;
trường hợp phần quyết định của bản án hành chính sơ thẩm của Tòa án nhân dân
huyện N, tỉnh P về bồi thường thiệt hại bị Tòa án nhân dân tỉnh P huỷ để xét xử sơ
thẩm lại thì Tòa án nhân dân huyện N sẽ thụ lý và xét xử sơ thẩm lại theo thủ tục tố
tụng hành chính.
b) Trường hợp Tòa án tách phần giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại để giải
quyết sau bằng một vụ án dân sự khác thì thủ tục giải quyết được thực hiện theo quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chương I VỀ MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 4. Trường hợp cần thiết Tòa án cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết
khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện quy định tại
điểm g khoản 1 Điều 30 của Luật TTHC
1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân
cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện liên quan đến nhiều đối tượng, phức
tạp.
2. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án cấp huyện mà các Thẩm phán của Tòa án cấp huyện đó đều thuộc
trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi.
3. Vụ án có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp
cho cơ quan đại diện ngoại giao của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở
nước ngoài hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.
Chương I VỀ MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 5. Xác định thẩm quyền trong trường hợp vừa có đơn khiếu nại, vừa
có đơn khởi kiện quy định tại Điều 31 của Luật TTHC
1. Trường hợp người khởi kiện có đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có
thẩm quyền, đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại thì Tòa án phải yêu cầu người khởi kiện làm văn bản lựa chọn cơ quan giải quyết;
trường hợp người khởi kiện không làm được văn bản lựa chọn thì Tòa án phải lập
biên bản về việc người khởi kiện lựa chọn cơ quan giải quyết.
2. Trường hợp quyết định hành chính, hành vi hành chính chỉ có liên quan đến
một người mà người đó vừa khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền,
đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì việc
-- 5 of 20 --
110 CÔNG BÁO/Số 455 + 456/Ngày 16-8-2011
giải quyết theo sự lựa chọn của người khởi kiện. Trường hợp người khởi kiện lựa
chọn Tòa án giải quyết thì Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung, đồng
thời thông báo cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại biết và yêu cầu chuyển
toàn bộ hồ sơ giải quyết khiếu nại cho Tòa án (nếu có). Trường hợp người khởi kiện
lựa chọn người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại giải quyết thì Tòa án căn cứ vào
điểm g khoản 1 Điều 109 của Luật TTHC trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu kèm
theo cho người khởi kiện. Nếu hết thời hạn giải quyết khiếu nại mà khiếu nại không
được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng người khiếu nại không đồng ý với
việc giải quyết khiếu nại và có đơn khởi kiện vụ án hành chính thì Tòa án xem xét
để tiến hành thụ lý vụ án theo thủ tục chung.
3. Trường hợp quyết định hành chính, hành vi hành chính có liên quan đến nhiều
người thì phân biệt như sau:
a) Trường hợp chỉ có một người vừa khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có
thẩm quyền, đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại, những người khác còn lại không khởi kiện vụ án hành chính và cũng không
khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thẩm quyền giải quyết
được thực hiện như trường hợp được hướng dẫn tại khoản 2 Điều này;
b) Trường hợp có nhiều người vừa khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có
thẩm quyền, đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại và tất cả những người này đều lựa chọn một trong hai cơ quan có thẩm quyền giải
quyết (Tòa án hoặc người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại) thì thẩm quyền giải
quyết được thực hiện như trường hợp được hướng dẫn tại khoản 2 Điều này;
c) Trường hợp có nhiều người vừa khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm
quyền, đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại,
trong đó có một hoặc một số người lựa chọn Tòa án giải quyết và một hoặc một số
người lựa chọn người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại giải quyết hoặc trường hợp
chỉ có một hoặc một số người khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền,
một hoặc một số người khác chỉ khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại thì phân biệt như sau:
c.1) Trường hợp quyền lợi, nghĩa vụ của người khởi kiện và người khiếu nại độc
lập với nhau thì việc giải quyết yêu cầu của người khởi kiện thuộc thẩm quyền của
tòa án, còn việc giải quyết khiếu nại của những người khiếu nại thuộc thẩm quyền
của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Trong trường hợp này, Tòa án thụ lý
giải quyết đối với yêu cầu của người khởi kiện, đồng thời thông báo cho người có
thẩm quyền giải quyết khiếu nại biết về việc Tòa án đã thụ lý giải quyết đối với yêu
cầu của người khởi kiện;
c.2) Trường hợp quyền lợi, nghĩa vụ của người khởi kiện và người khiếu nại
không độc lập với nhau thì Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung, đồng
thời thông báo cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại biết và yêu cầu chuyển
toàn bộ hồ sơ giải quyết khiếu nại cho Tòa án (nếu có).
-- 6 of 20 --
CÔNG BÁO/Số 455 + 456/Ngày 16-8-2011 111
Chương I VỀ MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 6. Giải quyết trường hợp Tòa án đã thụ lý vụ án hành chính nhưng sau
đó phát hiện đây là vụ án khác hoặc thuộc thẩm quyền của Tòa án khác
1. Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục sơ thẩm, Tòa án phát
hiện đây không phải là vụ án hành chính mà là vụ án khác (dân sự, kinh tế, lao động)
và việc giải quyết vụ án này là thuộc thẩm quyền của mình thì Tòa án giải quyết lại
vụ án theo thủ tục chung do pháp luật tố tụng quy định đối với việc giải quyết vụ án
đó, đồng thời thông báo cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp biết.
2. Trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm mà phát hiện
việc giải quyết vụ án này là thuộc thẩm quyền của Tòa án khác thì Thẩm phán được
phân công giải quyết vụ án hành chính căn cứ vào khoản 1 Điều 32 của Luật TTHC
xoá sổ thụ lý, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền, đồng thời thông báo
cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp biết.
3. Sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm mà phát
hiện việc giải quyết vụ án này là thuộc thẩm quyền của Tòa án khác thì Tòa án
phải mở phiên tòa và tại phiên tòa Hội đồng xét xử vận dụng khoản 3 Điều 139
của Luật TTHC ra quyết định đình chỉ việc xét xử, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án
có thẩm quyền.
4. Khi xét xử phúc thẩm vụ án hành chính mà phát hiện vụ án thuộc trường hợp
được hướng dẫn tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ
vào khoản 3 Điều 205 của Luật TTHC hủy bản án, quyết định sơ thẩm do vi phạm
nghiêm trọng về thủ tục tố tụng và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền xét
xử sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại vụ án theo thủ tục chung do pháp luật tố tụng
quy định đối với việc giải quyết vụ án đó.
5. Khi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hành chính mà phát hiện vụ án
thuộc trường hợp được hướng dẫn tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Tòa án cấp
giám đốc thẩm hoặc tái thẩm căn cứ vào khoản 3 Điều 225 hoặc khoản 2 Điều 237
của Luật TTHC hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật do vi phạm nghiêm
trọng về thủ tục tố tụng và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm
để giải quyết sơ thẩm lại vụ án theo thủ tục chung do pháp luật tố tụng quy định đối
với việc giải quyết vụ án đó.
Chương I VỀ MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 7. Nhập hoặc tách vụ án hành chính quy định tại Điều 33 của Luật TTHC
1. Tòa án có thể nhập hai hay nhiều vụ án hành chính đã thụ lý riêng biệt để giải
quyết bằng một vụ án hành chính khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Các vụ án thụ lý riêng biệt chỉ có một người khởi kiện đối với nhiều quyết
định hành chính, hành vi hành chính đều do một cơ quan, tổ chức hoặc một người có
thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức ban hành, thực hiện và có mối liên hệ mật thiết
với nhau hoặc các vụ án thụ lý riêng biệt có nhiều người khởi kiện đối với cùng một
quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính;
Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A khởi kiện đối với quyết định thu hồi đất và quyết
định phê duyệt phương án bồi thường khi thu hồi đất của ông A. Cả hai quyết định
-- 7 of 20 --
112 CÔNG BÁO/Số 455 + 456/Ngày 16-8-2011
này đều do Ủy b
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.