Kế hoạch72/2017/DS-PTBan hành: 07/07/2017Còn hiệu lực
Kế hoạch 72/2017/DS-PT (2017)
⚠ Tiêu đề chi tiết chưa được trích xuất
Tiêu đề chi tiết của Kế hoạch chưa được trích xuất từ nguồn - tải PDF để xem nội dung vụ việc cụ thể.
Mục lục - 3 điều ▼
Điều 147. , Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Áp dụng Điều 471, khoản 5
Điều 474. , Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 và Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thu H.
Buộc vợ chồng ông Võ Đình T, bà Mai Thị H phải trả cho chị Trần Thị Thu H
tổng số tiền 94.041.000 đồng (Chín mươi bốn triệu không trăm bốn mươi mốt
nghìn đồng), trong đó nợ gốc là 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng) và nợ lãi
24.041.000 đồng (hai mươi bốn triệu không trăm bốn mươi mốt nghìn đồng).
Áp dụng Điều 357 Bộ luật dân sự 2015 để tính lãi suất trong giai đoạn thi
hành án.
-- 2 of 4 --
3
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn giải quyết về án phí dân sự sơ thẩm, tuyên
quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án và thỏa thuận thi hành án cho các
đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 28/3/2017, bị đơn ông Võ Đình T kháng cáo với nội dung đề nghị Tòa
án xem xét lại nội dung vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn
giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk nhận định
Thẩm phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật
tố tụng dân sự; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng
dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Võ Đình T, giữ nguyên bản án sơ
thẩm.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm;
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài
liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, và các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện của bà Trần Thị Thu H cho rằng vợ chồng ông Võ
Đình T và bà Mai Thị H có vay số tiền 70.000.000 đồng của bà H, thời hạn trả nợ
từ ngày 30/10/2013 đến ngày 30/4/2015 âm lịch. Mặc dù đã quá hạn trả nợ nhưng
vợ chồng ông T và bà H không thanh toán cho bà H. Việc vay mượn này có giấy
tờ, chữ ký của các bên, các bên đều thừa nhận. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xét xử
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, buộc vợ chồng ông T, bà H phải trả nợ cho
bà H số tiền nợ gốc và lãi là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Xét đơn kháng cáo của ông Võ Đình T, Hội đồng xét xử xét thấy, ông T
cho rằng đã trả số tiền 8.000.000 đồng và lãi suất thỏa thuận miệng là 40.000 đồng/
1 triệu/ tháng và đã trả lãi từ năm 2013 đến ngày 28/8/2015 là không phù hợp. Bởi
lẽ tại giấy mượn tiền ngày 10/12/2013 (Bút lục 25) (do bà Phạm Thị T cung cấp)
có nội dung bà Mai Thị H (vợ ông T) có vay của bà Phạm Thị T số tiền 15.000.000
đồng và cũng trong tài liệu này thể hiện ngày 29/3 trả 5.000.000 đồng, ngày
06/4/2015 trả 3.000.000 đồng, tổng là 8.000.000 đồng, còn nợ lại 7.000.000 đồng.
Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm ông T chỉ thừa nhận đã trả 8.000.000 đồng cho
khoản vay của bà Trần Thị Thu H là không phù hợp. Mặt khác ông T cũng không
có chứng cứ nào khác chứng minh cho lời trình bày của mình nên việc kháng cáo
của ông T là không có căn cứ.
[3] Đối với khoản lãi, các bên có tranh chấp về lãi suất nên áp dụng khoản 2
Điều 476. Bộ luật dân sự 2005 để giải quyết. Khi áp dụng thì áp dụng lãi suất cơ
bản do Ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả
nợ, lãi suất cơ bản 9%/năm. Lẽ ra khoản tiền lãi mà bị đơn phải trả là:
+ Nợ lãi trong hạn từ ngày 02/12/2013 (tức 30/10/2013 AL) đến ngày
15/6/2015 (lấy ngày 29/4/2015 AL) là 70.000.000 đồng x 18 tháng 13 ngày x
0.75%/tháng = 9.677.500 đồng.
-- 3 of 4 --
4
+ Nợ lãi quá hạn từ ngày 16/6/2015 đến ngày 16/3/2017 (ngày xét xử) là
70.000.000 đồng x 21 tháng x 1,125%/tháng = 16.537.500 đồng.
Tổng cộng lãi là 9.677.500 đồng + 16.537.500 đồng = 26.215.000 đồng.
Tuy nhiên án sơ thẩm chỉ tính lãi là 25.541.000 đồng là bất lợi cho nguyên
đơn, nhưng do nguyên đơn không kháng cáo, bị đơn kháng cáo, do đó Tòa án cấp
phúc thẩm không xem xét mà Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.