Quyết định1231/QDBan hành: 31/12/2021Còn hiệu lực
Quyết định Về việc công bố án lệ
Mục lục - 4 điều ▼
Điều 1. Công bố 09 (chín) án lệ đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao thông qua (có án lệ kèm theo).
Điều 2. Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự có trách nhiệm nghiên cứu, áp
dụng các án lệ trong xét xử kể từ ngày 01 tháng 02 năm 2022.
Việc áp dụng án lệ được thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 8 Nghị quyết
số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18 tháng 6 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
CHÁNH ÁN
Nguyễn Hòa Bình
-- 1 of 93 --
CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022 5
ÁN LỆ SỐ 44/2021/AL 1
Về việc xác định thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu phản tố
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25
tháng 11 năm 2021 và được công bố theo Quyết định số 594/QĐ-CA ngày 31
tháng 12 năm 2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số 10/2021/KDTM-GĐT ngày 14/9/2021 của Tòa
án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về vụ án kinh doanh thương mại “Tranh chấp hợp
đồng tư vấn thiết kế” tại Hà Nội, giữa nguyên đơn là Công ty cổ phần H với bị đơn
là Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 2 phần “Nhận định của Tòa án”.
Khái quát nội dung án lệ:
- Tình huống án lệ:
Trong vụ án dân sự, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Tòa án phải xác định yêu cầu phản tố của bị đơn chính là
yêu cầu khởi kiện và phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật về thời hiệu
khởi kiện.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
Khoản 4 Điều 60, Điều 159, Điều 176, Điều 178 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2004 (tương ứng với khoản 4 Điều 72, Điều 184, Điều 200, Điều 202 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015); điểm e, khoản 1, Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015.
Từ khóa của án lệ:
“Yêu cầu phản tố”; “Xác định thời hiệu khởi kiện”.
1 Án lệ này do Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề xuất.
-- 2 of 93 --
6 CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24/6/2010 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn
là Công ty cổ phần H do người đại diện trình bày:
Ngày 29/01/2008, Công ty cổ phần H và Công ty TNHH Thiết kế và Xây
dựng P ký Hợp đồng tư vấn thiết kế số 01-2008/PLC- HDC, với nội dung: Công ty
TNHH Thiết kế và Xây dựng P (bên Tư vấn) có trách nhiệm thiết kế toàn bộ Dự
án “Trung tâm Thương mại - Khách sạn 4 sao HD - Hotel” trên khu đất diện tích
8.971m2 tại D7, phường X, quận T, thành phố Hà Nội, do Công ty cổ phần H là
Chủ đầu tư. Tổng giá trị Hợp đồng là 1.754.550 USD (chưa bao gồm thuế giá trị
gia tăng), được phân bổ theo 3 giai đoạn thực hiện: Giai đoạn 1 - Thiết kế xây
dựng; Giai đoạn 2 - Thiết kế nội thất cảnh quan; Giai đoạn 3 - Giám sát tác giả.
Theo đó, Giai đoạn 1 (Thiết kế xây dựng), phí thiết kế là 1.191.822 USD
(được ký hiệu là A); phí giám sát tác giả là 62.728 USD (ký hiệu AA) được chia
làm 12 đợt (từ “Thanh toán lần 1” cho đến “Thanh toán lần 12”), trong đó:
- Thanh toán lần 1: 25% x A ngay sau khi ký Hợp đồng và bên Tư vấn đã
nộp Chứng thư Ngân hàng bảo lãnh Hợp đồng, các Hợp đồng bảo hiểm cho Chủ
đầu tư.
- Thanh toán lần 2: 5% x A sau khi nộp Hồ sơ thiết kế quy hoạch tổng mặt
bằng và phương án kiến trúc cho Chủ đầu tư và được Chủ đầu tư chấp thuận.
- Thanh toán lần 3: 10% x A sau khi nộp Hồ sơ thiết kế quy hoạch tổng mặt
bằng và phương án kiến trúc lên Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội hoặc các cơ quan
chức năng có thẩm quyền tương đương và Hồ sơ trên được thẩm tra phê duyệt.
Quá trình thực hiện ở Giai đoạn 1 (Thiết kế xây dựng), Công ty TNHH Thiết
kế và Xây dựng P đã giao nộp cho Công ty cổ phần H các Hợp đồng bảo hiểm,
Chứng thư Ngân hàng bảo lãnh Hợp đồng và Hồ sơ thiết kế quy hoạch tổng mặt
bằng và phương án kiến trúc của Dự án. Công ty cổ phần H đã chuyển tiền thanh
toán cho Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P được 02 đợt: Thanh toán lần 1
(25% x A và thuế giá trị gia tăng, theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 0081905 ngày
27/02/2008); thanh toán lần 2 (5% x A và thuế giá trị gia tăng, theo Hóa đơn giá trị
gia tăng số 0081909 ngày 18/8/2008). Tổng số tiền của 2 lần thanh toán nêu trên là
-- 3 of 93 --
CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022 7
396.751,75 USD, tương đương với 6.374.689.675 đồng quy đổi theo tỷ giá
VND/USD tại thời điểm thanh toán. Sau đó, do thay đổi quy mô Dự án và hai bên
không thỏa thuận được với nhau về việc điều chỉnh giá trị hợp đồng cho thiết kế
mới nên Công ty cổ phần H đơn phương chấm dứt Hợp đồng và có tranh chấp với
Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P về giá trị thanh toán.
Công ty cổ phần H cho rằng ở đợt Thanh toán lần 1, Công ty cổ phần H đã tạm
ứng thanh toán thừa so với khối lượng công việc thực tế Công ty TNHH Thiết kế
và Xây dựng P đã thực hiện. Nay Công ty cổ phần H chỉ chấp nhận thanh toán cho
Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P số tiền chiếm khoảng 8% phí thiết kế xây
dựng (8% x A) cho cả 2 lần thanh toán (lần 1 và lần 2). Ngoài ra, Công ty cổ phần
H chấp nhận chịu khoản tiền phạt tương đương với 1% giá trị Hợp đồng do Công
ty cổ phần H đơn phương chấm dứt Hợp đồng. Do đó, Công ty cổ phần H khởi
kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P hoàn trả lại cho
Công ty cổ phần H số tiền mà Công ty cổ phần H đã thanh toán thừa cho Công ty
TNHH Thiết kế và Xây dựng P là 278.841,8 USD (sau khi đối trừ số tiền đã tạm
ứng với số tiền được thanh toán).
Bị đơn là Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P do người đại diện trình bày:
Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
đòi lại tiền của nguyên đơn với lý do đây là tiền Công ty cổ phần H đã thanh toán
cho Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P theo tiến độ thỏa thuận trong Hợp
đồng, không phải là tiền tạm ứng. Ngoài ra, Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng
P có Đơn phản tố, yêu cầu Công ty cổ phần H ngoài việc phải chịu khoản tiền phạt
tương đương với 1% giá trị Hợp đồng do đơn phương chấm dứt Hợp đồng, Công
ty cổ phần H phải tiếp tục thanh toán cho Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P
đợt Thanh toán lần 3 (10% phí thiết kế) do Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P
đã hỗ trợ xong về mặt kỹ thuật để phê duyệt Hồ sơ thiết kế của Dự án. Công ty
TNHH Thiết kế và Xây dựng P cho rằng việc không trình Hồ sơ thiết kế cho cấp
có thẩm quyền dẫn đến Hồ sơ thiết kế này không được phê duyệt là hoàn toàn do
lỗi của Công ty cổ phần H.
Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 01/2011/KDTM-ST ngày
20/6/2011, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội quyết định:
-- 4 of 93 --
8 CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022
Chấp nhận đơn khởi kiện của Công ty cổ phần H đối với Công ty TNHH
Thiết kế và Xây dựng P. Buộc Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P phải hoàn
trả cho Công ty cổ phần H số tiền tạm ứng của Hợp đồng số 01-2008/PLC-HDC
ký ngày 29/01/2008 là 272.571,41 USD tương đương với 5.642.228.187 đồng. Bác
yêu cầu phản tố của Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P đối với Công ty cổ
phần H.
Ngày 01/7/2011, Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P kháng cáo toàn bộ
bản án sơ thẩm.
Tại Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 27/2011/KDTM-PT
ngày 21/9/2011, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:
Không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P. Giữ
nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.
Sau khi xét xử phúc thẩm, Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P có đơn đề
nghị giám đốc thẩm đối với bản án phúc thẩm nêu trên.
Tại Quyết định kháng nghị số 60/2014/KN-KDTM ngày 15/9/2014, Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm
số 27/2011/KDTM-PT ngày 21/9/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; đề
nghị Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm theo hướng hủy
bản án phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số
01/2011/KDTM-ST ngày 20/6/2011 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành
phố Hà Nội; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố
Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 18/2015/KDTM-GĐT ngày 26/3/2015, Tòa
Kinh tế Tòa án nhân dân tối cao quyết định: Hủy Bản án kinh doanh, thương mại
phúc thẩm số 27/2011/KDTM-PT ngày 21/9/2011 của Tòa án nhân dân thành phố
Hà Nội và Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 01/2011/KDTM-ST
ngày 20/6/2011 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; giao hồ
sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm
lại theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 32/2019/KDTM-ST ngày
25/11/2019, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội quyết định:
-- 5 of 93 --
CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022 9
1. Bác yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần H đối với Công ty TNHH Thiết
kế và Xây dựng P về việc buộc Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P phải trả lại
cho Công ty cổ phần H số tiền 6.308.478.665 đồng.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Công ty TNHH Thiết kế và Xây
dựng P buộc Công ty cổ phần H thanh toán cho Công ty TNHH Thiết kế và Xây
dựng P (tính đến ngày 20/11/2019), số tiền cụ thể sau:
+) Tiền thanh toán lần 03 (theo Hợp đồng tư vấn thiết kế số 01/2008/PLC-
HDC ngày 29/01/2008): 1.599.420.000 đồng.
+) Tiền bồi thường (theo Điều 2.8.5b, điều kiện chung của Hợp đồng tư vấn
thiết kế số 01/2008/PLC-HDC ngày 29/01/2008) là: 406.704.690 đồng.
+) Tiền lãi của số tiền 1.599.420.000 đồng là 2.080.735.870 đồng.
Tổng cộng là: 4.086.860.560 đồng.
3. Ngoài số tiền Công ty cổ phần H phải thanh toán cho Công ty TNHH Thiết
kế và Xây dựng P như trên, Công ty cổ phần H còn phải thanh toán cho Công ty
TNHH Thiết kế và Xây dựng P số tiền lãi của số tiền 1.599.420.000 đồng kể từ
ngày 21/11/2019 cho đến khi thanh toán xong theo mức lãi suất chậm thanh toán
mà các bên đã thỏa thuận là 12%/năm.
4. Đối với số tiền bồi thường (theo Điều 2.8.5b, điều kiện chung của Hợp đồng
tư vấn thiết kế số 01/2008/PLC-HDC ngày 29/01/2008) là 406.704.690 đồng thì kể
từ ngày Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P có đơn yêu cầu thi hành án cho
đến khi Công ty cổ phần H thanh toán xong, Công ty cổ phần H còn phải thanh
toán tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
Điều 357. , Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo
của các đương sự.
Ngày 09/12/2019, Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P và Công ty cổ phần
H đều có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm nêu trên.
Tại Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 82/2020/KDTM-PT
ngày 15+19/6/2020, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:
Sửa Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 32/2019/KDTM-ST ngày
25/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm về cách tuyên đối với nghĩa vụ
chịu lãi chậm thi hành án.
-- 6 of 93 --
10 CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần H đối với Công ty
TNHH Thiết kế và Xây dựng P về việc buộc Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P
phải trả lại số tiền 6.308.478.665 đồng.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Công ty TNHH Thiết kế và Xây
dựng P. Công ty cổ phần H phải thanh toán cho Công ty TNHH Thiết kế và Xây
dựng P các khoản: 1.599.420.000 đồng (tiền thanh toán giai đoạn 03 của Hợp đồng
tư vấn thiết kế) + 2.080.735.870 đồng (lãi suất chậm trả) + 406.704.690 đồng (tiền
phạt do đơn phương chấm dứt hợp đồng). Tổng cộng: 4.086.860.560 đồng.
Ngày 02/11/2020, Công ty cổ phần H có đơn đề nghị giám đốc thẩm đối với
bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.
Tại Quyết định kháng nghị số 02/KNGĐT-VC1-KDTM ngày 02/3/2021, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội kháng nghị Bản án kinh doanh,
thương mại phúc thẩm số 82/2020/KDTM-PT ngày 15+19/6/2020 của Tòa án nhân
dân thành phố Hà Nội; đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà
Nội hủy bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án kinh
doanh, thương mại sơ thẩm số 32/2019/KDTM-ST ngày 25/11/2019 của Tòa án
nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân quận
Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà
Nội đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội chấp nhận
kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tại Giấy ủy quyền ngày 01/10/2015 và Giấy ủy quyền
ngày 16/3/2016 thể hiện ông S là người đại diện theo pháp luật của Công ty
TNHH Thiết kế và Xây dựng P ủy quyền cho ông D và ông N tham gia tố tụng với
tư cách là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn. Tuy nhiên, theo kết quả xác
minh tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh tại Công văn số 9089/A72-P4 ngày
10/8/2015, Công văn số 14733/A72-P4 ngày 11/12/2015 và Công văn số
9443/QLXNC-P4 ngày 12/6/2019 xác định “ông S xuất cảnh ngày 18/10/2014,
không có thông tin liên quan đến nhập, xuất cảnh của ông S trong khoảng thời gian
từ 01/8/2015 đến ngày 07/6/2019”. Như vậy, có căn cứ xác định thời điểm ông S
ký giấy ủy quyền cho ông D, ông N tham gia tố tụng thì ông S không có mặt tại
-- 7 of 93 --
CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022 11 \
Việt Nam. Trong trường hợp, các giấy ủy quyền này được lập, gửi về từ nước
ngoài thì theo quy định tại Điều 478 Bộ luật Tố tụng dân sự phải được công chứng,
chứng thực và hợp pháp hóa lãnh sự mới có giá trị pháp lý. Bên cạnh đó, việc xác
định vào thời điểm lập giấy ủy quyền, ông S đang ở Việt Nam hay ở nước ngoài
còn liên quan đến việc xem xét, xác định thẩm quyền giải quyết vụ án. Tòa án cấp
sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa làm rõ các nội dung này mà đã chấp nhận
giá trị và nội dung của giấy ủy quyền (trong khi nguyên đơn cũng có yêu cầu Tòa
án xác minh tính xác thực và tính hợp pháp của các giấy ủy quyền này) là vi phạm
nghiêm trọng tố tụng.
[2] Về yêu cầu phản tố, nhận định của Tòa án cấp phúc thẩm tại Bản án
số 82/2020/KDTM-PT về việc yêu cầu phản tố không bị giới hạn bởi thời hiệu
khởi kiện (tr. 15) là không đúng. Theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2004 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, yêu cầu phản tố là yêu cầu không
nằm trong yêu cầu của nguyên đơn, có thể được giải quyết bằng một vụ án độc lập;
việc giải quyết yêu cầu phản tố trong cùng vụ án là để kết quả giải quyết chính xác
và nhanh hơn. Yêu cầu phản tố cũng chính là yêu cầu khởi kiện nên phải tuân thủ
quy định về thời hiệu khởi kiện. Do đó, trường hợp có yêu cầu phản tố và có
đương sự trong vụ án đề nghị áp dụng thời hiệu khởi kiện thì Tòa án cấp sơ thẩm
và Tòa án cấp phúc thẩm phải xác định xem yêu cầu phản tố có còn thời hiệu khởi
kiện hay không mới đúng quy định pháp luật.
[3] Về nội dung: Theo Hợp đồng tư vấn thiết kế giữa hai bên, điều kiện để
được Thanh toán lần 3 là: “Sau khi nộp Hồ sơ thiết kế quy hoạch tổng mặt bằng và
phương án kiến trúc lên Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội hoặc các cơ quan chức
năng có thẩm quyền tương đương và Hồ sơ trên được thẩm tra phê duyệt”. Tài liệu
hồ sơ vụ án cho thấy, sau khi nhận được Công văn số 99-2008/CV- HĐ/QLDA
ngày 03/9/2008 của Công ty cổ phần H thông báo về việc dừng in bản vẽ thiết kế
do thay đổi quy mô Dự án (nâng số tầng), Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P
đã chấp thuận nội dung thông báo này của Công ty cổ phần H nên ngày 29/9/2008,
Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P đã gửi Văn bản số MLS/HD/29/9/08 về
việc “Chào giá thiết kế phí công trình khách sạn cao cấp H” để điều chỉnh giá cho
phương án thiết kế mới. Do không thỏa thuận được với nhau về việc điều chỉnh giá
trị hợp đồng nên Công ty cổ phần H đã đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời
hạn. Hai bên tranh chấp về việc giải quyết hậu quả của việc đơn phương chấm dứt
-- 8 of 93 --
12 CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022
hợp đồng. Công ty cổ phần H cho rằng đã thanh toán thừa cho Công ty TNHH
Thiết kế và Xây dựng P số tiền 278.841,8 USD (sau khi đối trừ số tiền đã tạm ứng
với số tiền được thanh toán) nên khởi kiện đòi lại. Công ty TNHH Thiết kế và Xây
dựng P không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần H và có yêu cầu
phản tố buộc Công ty cổ phần H thanh toán tiền lần 3 theo hợp đồng và khoản tiền
phạt vi phạm. Thấy rằng, Công ty cổ phần H đã đơn phương chấm dứt hợp đồng
(theo quy định tại điểm g Điều 2.8.1 Phần II) nên theo điểm a Điều 2.8.5 Phần II
của Hợp đồng tư vấn thiết kế quy định: “Khi chấm dứt hợp đồng theo các
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.