Thông tư liên tịch11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-Ban hành: 01/08/2016Còn hiệu lực
Thông tư liên tịch Quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự
Mục lục - 5 điều ▼
Chương I THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 1. Ra quyết định thi hành án
1. Trường hợp vào cùng một thời điểm cơ quan thi hành án dân sự nhận được
nhiều yêu cầu thi hành án liên quan đến một bản án, quyết định thì tùy thuộc vào
nội dung của bản án, quyết định của Tòa án; nội dung yêu cầu thi hành án; thời hạn
ra quyết định thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc ra
-- 1 of 11 --
CÔNG BÁO/Số 1073 + 1074/Ngày 05-10-2016 3
một hay nhiều quyết định thi hành án theo quy định tại Điều 7 Nghị định số
62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự.
2. Trường hợp người được thi hành án chỉ yêu cầu một hoặc một số người
trong những người phải thi hành án thực hiện toàn bộ nghĩa vụ liên đới thì Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án đối với người đó.
3. Trường hợp đương sự là pháp nhân hoặc là người chưa thành niên, bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết
định thi hành án theo yêu cầu của người đại diện theo pháp luật của đương sự.
Trường hợp đương sự là người mất năng lực hành vi dân sự hoặc là người
chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ
đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn
trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha,
mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó thì Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án theo yêu cầu của
người giám hộ.
Trường hợp đương sự có ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án thì Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án theo yêu cầu của
người được ủy quyền.
4. Đối với bản án, quyết định của Tòa án trong vụ án hành chính, Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự chỉ thụ lý và ra quyết định thi hành án đối với phần
nghĩa vụ về tài sản như án phí, bồi thường thiệt hại, trả lại tài sản, giao lại đất đai
được tuyên cụ thể trong bản án, quyết định của Tòa án. Những nội dung khác của
bản án, quyết định được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.
5. Đối với bản án, quyết định của Tòa án có tuyên tổng hợp hình phạt tiền của
nhiều bản án mà việc tổng hợp hình phạt tiền không đúng quy định của Bộ luật
hình sự thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự không ra quyết định thi hành án
mà có văn bản kiến nghị người có thẩm quyền xem xét lại theo thủ tục giám đốc
thẩm đối với bản án, quyết định đó.
6. Đối với bản án, quyết định có ấn định một thời hạn cụ thể để thực hiện toàn
bộ nghĩa vụ thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chỉ ra quyết định thi hành
án khi nghĩa vụ đã đến hạn, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác. Đối với
bản án, quyết định ấn định nghĩa vụ được thực hiện theo nhiều thời hạn khác nhau
thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án đối với
những nghĩa vụ đã đến hạn.
Đối với bản án, quyết định về cấp dưỡng theo định kỳ hàng tháng thì Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án đối với những
nghĩa vụ đã đến hạn hoặc sẽ đến hạn trong năm thi hành án. Quá trình thi hành án,
-- 2 of 11 --
4 CÔNG BÁO/Số 1073 + 1074/Ngày 05-10-2016
người có nghĩa vụ chỉ phải thực hiện các nghĩa vụ đến hạn trừ trường hợp người có
nghĩa vụ tự nguyện thi hành cả nghĩa vụ chưa đến hạn. Khi có bản án, quyết định
của Tòa án chấp nhận yêu cầu của đương sự về thay đổi mức cấp dưỡng, người cấp
dưỡng mà vụ việc đang được cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành thì Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thu hồi quyết định thi hành án đã
ban hành và ra quyết định thi hành án theo bản án, quyết định mới. Việc thay đổi
mức cấp dưỡng được thực hiện bắt đầu từ thời điểm được xác định tại bản án,
quyết định mới của Tòa án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Trường hợp các đương sự thỏa thuận về việc thi hành một lần đối với toàn bộ
nghĩa vụ theo định kỳ hoặc theo nhiều thời hạn khác nhau thì Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án cho toàn bộ nghĩa vụ.
7. Trường hợp cần thiết rút hồ sơ thi hành án từ cơ quan thi hành án dân sự cấp
huyện lên để tổ chức thi hành theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 35 Luật Thi
hành án dân sự thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh ra quyết định
rút hồ sơ thi hành án. Quá trình tổ chức thi hành án tiếp theo, căn cứ vào quyết
định thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện và quyết định rút hồ sơ
thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh và Chấp hành viên có
trách nhiệm ra các quyết định về thi hành án theo quy định của pháp luật mà không
phải ra quyết định thi hành án mới. Các quyết định về thi hành án, kết quả của quá
trình tổ chức thi hành trước đó do cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện thực hiện
nếu không vi phạm pháp luật vẫn có giá trị pháp lý, được công nhận và được sử
dụng làm căn cứ để tiếp tục tổ chức thi hành vụ việc.
Chương I THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 2. Thông báo về thi hành án
1. Trường hợp do đường sá xa xôi, giao thông không thuận tiện; người được
thông báo có nhiều địa chỉ liên lạc, nơi ở không cố định, thường vắng mặt ở nhà
vào giờ hành chính; đương sự đang bị giam, tạm giam; người được thi hành án
chưa yêu cầu thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 49 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP
ngày 18 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật Thi hành án dân sự; các trường hợp khác mà việc thông báo
trực tiếp có khó khăn thì việc thông báo được thực hiện qua dịch vụ bưu chính
bằng thư bảo đảm. Ngày gửi thư bảo đảm là ngày thông báo hợp lệ.
2. Trường hợp thông báo bằng điện tín, fax, email hoặc hình thức khác theo
yêu cầu của người được nhận thông báo thì Chấp hành viên phải lưu vào hồ sơ thi
hành án văn bản thể hiện yêu cầu, văn bản cần thông báo và văn bản thể hiện kết
quả thông báo như bức điện tín, thư điện tử, báo cáo bản fax đã được gửi.
3. Thông báo đối với người đang bị giam, tạm giam được thực hiện theo địa
chỉ nơi người đó đang bị giam, tạm giam. Giám thị trại giam, tạm giam có trách
nhiệm giao văn bản thông báo cho người được thông báo.
-- 3 of 11 --
CÔNG BÁO/Số 1073 + 1074/Ngày 05-10-2016 5
4. Trường hợp có ủy quyền thì việc thông báo các văn bản về thi hành án được
thực hiện đối với người được ủy quyền.
5. Trường hợp giao thông báo qua người khác nhận thay thì người thông báo
phải lập biên bản ghi rõ họ tên, chức vụ, địa chỉ của người nhận thay; ngày, giờ
nhận thay; quan hệ giữa họ với người được thông báo; cam kết giao tận tay hoặc
thông báo ngay cho người được thông báo. Biên bản có chữ ký của người nhận và
người giao thông báo.
6. Việc niêm yết được thực hiện tại trụ sở cơ quan thi hành án dân sự, trụ sở
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được thông báo cư trú hoặc cư trú cuối cùng và
tại nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được thông báo. Việc xác định
nơi cư trú được thực hiện theo pháp luật về cư trú.
Trường hợp niêm yết để bán đấu giá tài sản thì nơi niêm yết thực hiện theo quy
định của pháp luật về bán đấu giá.
7. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả thẩm định giá,
Chấp hành viên thông báo cho chủ sở hữu chung quyền ưu tiên mua phần tài sản của
người phải thi hành án theo quy định tại khoản 3 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự.
8. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả thẩm định
giá, Chấp hành viên thông báo cho đương sự quyền yêu cầu định giá lại theo quy
định tại điểm b khoản 1 Điều 99 Luật Thi hành án dân sự.
Chương I THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 3. Xác minh điều kiện thi hành án
1. Việc xác minh đối với tài sản thuộc diện phải đăng ký, chuyển quyền sở
hữu, sử dụng tài sản thì tùy từng trường hợp cụ thể mà Chấp hành viên căn cứ vào
một trong các giấy tờ sau: hợp đồng mua bán, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc
tặng cho, giấy chứng nhận về quyền sở hữu, sử dụng tài sản hoặc thông qua chủ sở
hữu, chính quyền địa phương, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, cơ quan chức
năng hoặc người làm chứng như xác nhận của người bán, của chính quyền địa
phương, cơ quan chức năng về việc mua bán tài sản.
2. Đối với trường hợp đình chỉ thi hành án do người được thi hành án chết mà
không có người thừa kế thì phải xác minh qua chính quyền địa phương, cơ quan
quản lý hộ khẩu, nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được thi hành án.
Kết quả xác minh thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng ở
trung ương để người có quyền, nghĩa vụ liên quan biết và bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của họ. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo công khai hợp lệ mà
không có người khiếu nại thì được coi là có căn cứ đình chỉ thi hành án.
Chương I THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 4. Kê biên, xử lý tài sản để đảm bảo thi hành án
1. Trường hợp người được thi hành án đề nghị áp dụng một trong các biện
pháp cưỡng chế theo quy định tại Chương IV Luật Thi hành án dân sự thì trong
thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, Chấp hành viên phải tiến hành
xác minh.
-- 4 of 11 --
6 CÔNG BÁO/Số 1073 + 1074/Ngày 05-10-2016
2. Trường hợp tài sản cầm cố, thế chấp đủ điều kiện để kê biên, xử lý theo quy
định tại Điều 90 Luật Thi hành án dân sự mà người nhận cầm cố, thế chấp đang
tiến hành xử lý để thu hồi nợ vay theo quy định của pháp luật về xử lý tài sản bảo
đảm thì Chấp hành viên không thực hiện việc kê biên, xử lý đối với tài sản đó
nhưng phải có văn bản yêu cầu người xử lý tài sản cầm cố, thế chấp thông báo
ngay kết quả xử lý tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự, giữ lại số tiền còn lại
(nếu có) để cơ quan thi hành án dân sự giải quyết theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp kê biên, xử lý tài sản để đảm bảo thi hành án theo quy định tại
Chương I THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 90. Luật Thi hành án dân sự mà giá của tài sản sau khi giảm giá không lớn
hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án thì người có thẩm
quyền ra quyết định về thi hành án có trách nhiệm ra ngay quyết định thu hồi quyết
định cưỡng chế, kê biên, xử lý tài sản theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 37
Luật Thi hành án dân sự. Đồng thời, có văn bản yêu cầu người nhận cầm cố, nhận
thế chấp thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Đối với tiền, tài sản mà bản án, quyết định của Tòa án tuyên tạm giữ để
bảo đảm thi hành án nhưng hết thời hiệu yêu cầu thi hành án mà người được thi
hành án không yêu cầu thi hành án và người phải thi hành án đã thi hành xong
khoản thu cho ngân sách nhà nước thì tiền, tài sản đó được trả lại cho người phải
thi hành án. Thủ tục trả lại tiền, tài sản trong trường hợp này được thực hiện theo
quy định tại Điều 126, Điều 129 Luật Thi hành án dân sự và quy định pháp luật
khác có liên quan.
5. Trường hợp Chấp hành viên đã ra quyết định trả lại tài sản, giấy tờ cho
người có quyền sở hữu, sử dụng hoặc người bị tạm giữ tài sản, giấy tờ theo quy
định tại khoản 5 Điều 68 Luật Thi hành án dân sự mà người đó không nhận thì
Chấp hành viên thực hiện việc xử lý đối với tài sản đó theo quy định tại khoản 4
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.