Quyết định04/2014/QĐ-KTNNBan hành: 31/07/2014Còn hiệu lực
Quyết định Ban hành Chuẩn mực kiểm toán nhà nước số 200
Mục lục - 3 điều ▼
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Chuẩn mực kiểm toán nhà nước
số 200 - Các nguyên tắc cơ bản của kiểm toán tài chính.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày, kể từ ngày ký.
Điều 3. Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Kiểm toán nhà nước, các tổ chức và
cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
TỔNG KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
Nguyễn Hữu Vạn
-- 1 of 25 --
CÔNG BÁO/Số 791 + 792/Ngày 29-8-2014 65
KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC SỐ 200 (CMKTNN 200)
CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH
(Ban hành kèm theo Quyết định số 04/2014/QĐ-KTNN ngày 31 tháng 7 năm 2014
của Tổng Kiểm toán Nhà nước)
GIỚI THIỆU CHUNG
Cơ sở xây dựng
1. Chuẩn mực này được xây dựng và phát triển dựa trên cơ sở Luật Kiểm toán
nhà nước, CMKTNN 100 - Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kiểm toán của
Kiểm toán nhà nước và ISSAI 200 của INTOSAI - Các nguyên tắc cơ bản của
kiểm toán tài chính. Các nguyên tắc cơ bản của chuẩn mực này được phát triển
thành các hướng dẫn thực hành kiểm toán tài chính (CMTKNN cấp độ 4) và được
sử dụng trong quá trình kiểm toán.
Mục đích và phạm vi áp dụng
2. Chuẩn mực này đưa ra các nguyên tắc cơ bản cho cuộc kiểm toán các báo
cáo tài chính được trình bày theo khuôn khổ quy định về lập và trình bày báo cáo
tài chính. Các nguyên tắc này cũng được áp dụng trong các trường hợp: kiểm toán
báo cáo tài chính riêng lẻ; kiểm toán các yếu tố, tài khoản hoặc khoản mục nhất
định của báo cáo tài chính; kiểm toán các báo cáo tài chính được lập và trình bày
cho mục đích đặc biệt; hoặc kiểm toán báo cáo tài chính tóm tắt.
3. Các nguyên tắc cơ bản của kiểm toán tài chính được áp dụng cho tất cả các
cuộc kiểm toán tài chính (kiểm toán báo cáo tài chính được trình bày theo khuôn
khổ quy định về lập, trình bày báo cáo tài chính; kiểm toán báo cáo tài chính riêng
lẻ; kiểm toán các yếu tố, tài khoản hoặc khoản mục nhất định của báo cáo tài
chính; kiểm toán các báo cáo tài chính được lập và trình bày cho mục đích đặc
biệt; hoặc kiểm toán báo cáo tài chính tóm tắt) của các tổ chức, đơn vị thuộc lĩnh
vực công và các đối tượng khác theo quy định của Luật Kiểm toán nhà nước.
4. Chuẩn mực này trình bày những vấn đề cốt lõi của các chuẩn mực kiểm toán
tài chính cấp độ 3 trong hệ thống chuẩn mực kiểm toán của Kiểm toán nhà nước.
Các nguyên tắc trong Chuẩn mực này được sử dụng làm cơ sở để xây dựng và thực
hiện các chuẩn mực kiểm toán tài chính cấp độ 4 một cách nhất quán.
5. Trường hợp cuộc kiểm toán tài chính có kết hợp với kiểm toán tuân thủ,
kiểm toán hoạt động các kiểm toán viên nhà nước phải tuân thủ cả các chuẩn mực
kiểm toán tài chính, chuẩn mực kiểm toán tuân thủ và chuẩn mực kiểm toán hoạt
động. Trường hợp có sự khác biệt giữa các chuẩn mực của các loại hình kiểm toán,
kiểm toán viên nhà nước phải ưu tiên áp dụng nhóm chuẩn mực cho phù hợp với
loại hình kiểm toán được áp dụng, nội dung chủ yếu của cuộc kiểm toán.
-- 2 of 25 --
66 CÔNG BÁO/Số 791 + 792/Ngày 29-8-2014
Quy định thực hiện
6. Chuẩn mực này đề cập các nguyên tắc cơ bản áp dụng cho một cuộc kiểm
toán tài chính của Kiểm toán nhà nước.
7. Kiểm toán tài chính chủ yếu nhằm mục tiêu xác định xem báo cáo tài chính
hoặc các thông tin tài chính của đơn vị được kiểm toán có phù hợp với khuôn khổ
quy định về lập và trình bày báo cáo tài chính hiện hành không, qua đó đánh giá,
xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính, thông tin tài chính.
Ngoài ra, còn có các mục tiêu khác gắn liền với các nội dung kiểm toán như:
(i) Các tài khoản hoặc các báo cáo tài chính khác không được lập và trình bày
theo khuôn khổ quy định về lập và trình bày báo cáo tài chính dành cho các mục
đích chung;
(ii) Ngân sách, các khoản mục ngân sách, các khoản phân bổ ngân sách và các
quyết định về phân bổ và sử dụng các nguồn lực;
(iii) Các chính sách, chương trình và hoạt động được thực hiện theo quy định
hoặc theo yêu cầu của các nhà tài trợ;
(iv) Việc thực hiện trách nhiệm theo quy định pháp luật (ví dụ như việc thực
hiện trách nhiệm quản lý nhà nước của các Bộ, ngành);
(v) Các khoản thu, chi, các loại tài sản hoặc các khoản nợ.
Nguyên tắc sử dụng thuật ngữ trong chuẩn mực
8. Thuật ngữ sử dụng trong chuẩn mực này được định nghĩa giống như trong
các chuẩn mực kiểm toán do Kiểm toán nhà nước ban hành.
NỘI DUNG CHUẨN MỰC
9. Chuẩn mực này bao gồm các nội dung: Các quy định chung đối với kiểm
toán tài chính; Các yếu tố của kiểm toán tài chính; Các nguyên tắc cơ bản của kiểm
toán tài chính.
Các quy định chung đối với kiểm toán tài chính
Mục tiêu của kiểm toán tài chính
10. Mục đích của kiểm toán tài chính là làm tăng độ tin cậy của người sử dụng
các báo cáo tài chính và thông tin tài chính. Để đạt được mục đích trên, kiểm toán
viên nhà nước phải đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính, các thông tin tài
chính có được lập và trình bày trung thực, hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu, phù
hợp với các quy định về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không.
11. Khi thực hiện kiểm toán tài chính, mục tiêu chung của kiểm toán viên nhà
nước là:
(i) Đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng, xét trên các khía cạnh trọng yếu, liệu báo
cáo tài chính, các thông tin tài chính có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm
lẫn hay không, báo cáo tài chính có được lập và trình bày phù hợp với khuôn khổ
quy định hiện hành về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không;
-- 3 of 25 --
CÔNG BÁO/Số 791 + 792/Ngày 29-8-2014 67
(ii) Lập báo cáo kiểm toán và công bố kết quả của cuộc kiểm toán phù hợp với
các phát hiện kiểm toán.
Điều kiện tiên quyết để thực hiện một cuộc kiểm toán tài chính theo chuẩn
mực kiểm toán tài chính
12. Đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán phải đánh giá xem cuộc kiểm toán có đủ
điều kiện tiên quyết để thực hiện theo Chuẩn mực kiểm toán nhà nước hay không.
13. Điều kiện tiên quyết để thực hiện một cuộc kiểm toán tài chính theo Chuẩn
mực kiểm toán nhà nước phải đáp ứng được các điều kiện sau:
(i) Khuôn khổ quy định về lập và trình bày báo cáo tài chính áp dụng để lập
các báo cáo tài chính là phù hợp với quy định hiện hành.
(ii) Lãnh đạo đơn vị được kiểm toán thừa nhận và hiểu rõ trách nhiệm của họ
đối với:
• Lập báo cáo tài chính phù hợp với khuôn khổ quy định về lập và trình bày
báo cáo tài chính hiện hành, bao gồm cả thuyết minh, giải trình (nếu có);
• Hệ thống kiểm soát nội bộ để đảm bảo việc lập và trình bày báo cáo tài chính
không còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn;
• Tạo điều kiện để kiểm toán viên nhà nước có thể tiếp cận không hạn chế các
thông tin, tài liệu có liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính.
14. Đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán, Đoàn kiểm toán phải xem xét đơn vị dự
kiến kiểm toán có thuộc đối tượng kiểm toán theo quy định của Luật Kiểm toán
nhà nước và các quy định có liên quan hay không; báo cáo tài chính dự kiến được
kiểm toán có được trình bày theo khuôn khổ quy định về lập và trình bày báo cáo
tài chính hay không.
15. Khuôn khổ quy định về lập báo cáo tài chính có thể sử dụng cho mục đích
chung hoặc mục đích đặc biệt. Khuôn khổ quy định cũng có thể là quy định trình
bày hợp lý hoặc quy định trình bày tuân thủ.
(i) Khuôn khổ quy định về lập báo cáo tài chính cho mục đích chung là khuôn
khổ được thiết kế nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin cho nhiều đối tượng phổ biến.
(ii) Khuôn khổ quy định về lập báo cáo tài chính cho những mục đích đặc biệt
là khuôn khổ được thiết kế nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin cụ thể của một số đối
tượng nhất định.
(iii) Khuôn khổ quy định về trình bày tuân thủ yêu cầu việc lập báo cáo tài chính
phải tuân theo các yêu cầu quy định và không cho phép thoát ly khỏi quy định.
(iv) Khuôn khổ quy định về trình bày hợp lý yêu cầu phải tuân thủ theo quy
định, nhưng cho phép có thể thoát ly hoặc bổ sung thêm các thông tin để đảm bảo
báo cáo tài chính được trình bày rõ ràng và đúng đắn hơn.
-- 4 of 25 --
68 CÔNG BÁO/Số 791 + 792/Ngày 29-8-2014
16. Một bộ báo cáo tài chính đầy đủ của một đơn vị phải bao gồm các loại báo
cáo được lập và trình bày theo quy định hiện hành về báo cáo tài chính. Ví dụ đối
với một doanh nghiệp thì bộ báo cáo tài chính năm thường bao gồm: Bảng cân đối
kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Bản
thuyết minh báo cáo tài chính được lập theo mẫu quy định; đối với một đơn vị
hành chính sự nghiệp, bộ báo cáo tài chính thường bao gồm: Bảng cân đối tài
khoản, Tổng hợp tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử dụng, Báo cáo chi
tiết kinh phí hoạt động, Báo cáo chi tiết kinh phí dự án, Bảng đối chiếu dự toán
kinh phí ngân sách tại Kho bạc nhà nước, Bảng đối chiếu tình hình tạm ứng và
thanh toán tạm ứng kinh phí ngân sách tại Kho bạc nhà nước, Báo cáo thu - chi
hoạt động sự nghiệp và hoạt động sản xuất, kinh doanh, Báo cáo tình hình tăng,
giảm tài sản cố định, Báo cáo số kinh phí chưa sử dụng năm trước chuyển sang,
Thuyết minh báo cáo tài chính.
17. Kiểm toán viên nhà nước phải xác định xem khuôn khổ được đơn vị áp
dụng để lập và trình bày báo cáo tài chính có phù hợp với quy định pháp luật hiện
hành hay không. Nếu kiểm toán viên nhà nước xét thấy là không phù hợp, thì việc
áp dụng các quy định đó vẫn xem là có thể được phép áp dụng nếu:
(i) Lãnh đạo đơn vị được kiểm toán cung cấp thêm các thông tin cần thiết về
báo cáo tài chính nhằm tránh sự hiểu nhầm.
(ii) Báo cáo kiểm toán phải trình bày thêm đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh”
nhằm lưu ý người sử dụng về những thông tin bổ sung này.
Trường hợp các điều kiện trên không được đáp ứng, báo cáo kiểm toán và ý
kiến của kiểm toán viên nhà nước phải đánh giá ảnh hưởng của tình trạng thiếu các
thông tin bổ sung đó. Nếu xét thấy nghiêm trọng phải thông báo cho các cơ quan
có thẩm quyền liên quan để có biện pháp xử lý phù hợp với quy định.
18. Trường hợp kiểm toán các báo cáo tài chính có khuôn khổ quy định về lập
và trình bày báo cáo tài chính thì kiểm toán viên nhà nước thực hiện kiểm toán
theo Chuẩn mực kiểm toán nhà nước về kiểm toán tài chính. Trường hợp kiểm
toán tài chính không có khuôn khổ quy định về lập và trình bày các báo cáo tài
chính (ví dụ một số chương trình; dự án, chương trình thực hiện theo yêu cầu của
các nhà tài trợ,...), khi đó kiểm toán viên nhà nước có thể sử dụng các chuẩn mực,
các hướng dẫn được phát triển dựa trên CMKTNN 200 làm hướng dẫn thực hành,
phù hợp với những yêu cầu nhất định của từng cuộc kiểm toán.
19. Khi nhiệm vụ kiểm toán tài chính là bắt buộc, nhưng hoàn cảnh cụ thể của
cuộc kiểm toán không hội tụ đủ các điều kiện tiên quyết để thực hiện kiểm toán
theo chuẩn mực kiểm toán tài chính, thì chuẩn mực kiểm toán tài chính vẫn được
xem là hướng dẫn thực hành tốt nhất và hoạt động kiểm toán cần được điều chỉnh
cho phù hợp với điều kiện cụ thể.
-- 5 of 25 --
CÔNG BÁO/Số 791 + 792/Ngày 29-8-2014 69
20. Khi nội dung chủ yếu của cuộc kiểm toán là kiểm toán tuân thủ, thì kiểm
toán viên nhà nước cần tuân thủ các quy định tại CMKTNN 400 và các chuẩn mực
liên quan về kiểm toán tuân thủ. Khi nội dung chủ yếu của cuộc kiểm toán là kiểm
toán hoạt động, thì kiểm toán viên nhà nước cần tuân thủ các quy định tại
CMKTNN 300 và các chuẩn mực liên quan về kiểm toán hoạt động.
Kiểm toán báo cáo tài chính được lập theo khuôn khổ quy định về lập và
trình bày báo cáo cho các mục đích đặc biệt
21. Các nguyên tắc của Chuẩn mực này được áp dụng cho các cuộc kiểm toán
tài chính đối với các báo cáo tài chính được lập theo khuôn khổ quy định về lập và
trình bày báo cáo cho các mục đích chung cũng như các mục đích đặc biệt.
22. Một số khuôn khổ quy định về lập và trình bày báo cáo tài chính cho các
mục đích đặc biệt liên quan đến các tổ chức thuộc khu vực công có thể là:
(i) Báo cáo về các khoản thu, chi trên cơ sở kế toán tiền mặt mà một tổ chức có
thể phải lập theo yêu cầu của các cơ quan quản lý;
(ii) Báo cáo tình hình tài chính theo yêu cầu của các cơ quan, tổ chức hoặc các
nhà tài trợ;
(iii) Báo cáo tình hình tài chính theo yêu cầu riêng của cơ quan quản lý, cơ
quan lập pháp hoặc các bên khác thực hiện chức năng giám sát; hoặc
(iv) Báo cáo tình hình tài chính theo các quy định của hợp đồng hay một văn
bản thỏa thuận.
Kiểm toán các báo cáo tài chính riêng lẻ, các yếu tố, các tài khoản hoặc khoản
mục cụ thể của một báo cáo tài chính
23. Chuẩn mực này áp dụng cho cuộc kiểm toán đối với bộ báo cáo tài chính
đầy đủ, tuy nhiên cũng có thể áp dụng để kiểm toán các báo cáo tài chính riêng lẻ,
các yếu tố, các tài khoản, các khoản mục, thuyết minh nhất định của báo cáo tài chính.
Các yếu tố của kiểm toán tài chính
24. Các yếu tố cơ bản trong kiểm toán lĩnh vực công đã được quy định tại
CMKTNN 100 - Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán
nhà nước. Chuẩn mực này cung cấp thêm các khía cạnh của các yếu tố liên quan
đến một cuộc kiểm toán tài chính.
Ba bên liên quan trong kiểm toán tài chính
25. Ba bên liên quan trong kiểm toán tài chính là: Kiểm toán nhà nước, Đối
tượng chịu trách nhiệm về báo cáo tài chính và Đối tượng sử dụng báo cáo kiểm
toán. Các nội dung này được quy định tại CMKTNN 100 - Các nguyên tắc cơ bản
trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước.
-- 6 of 25 --
70 CÔNG BÁO/Số 791 + 792/Ngày 29-8-2014
Nội dung và các thông tin liên quan đến kiểm toán tài chính
26. Nội dung kiểm toán trong kiểm toán tài chính là các thông tin, tình hình tài
chính, các hoạt động tài chính, các dòng tiền và các thuyết minh được trình bày
trong báo cáo tài chính.
27. Kiểm toán viên nhà nước phải thực hiện các thủ tục để thu thập đầy đủ
bằng chứng kiểm toán thích hợp có liên quan đến nội dung được kiểm toán để đưa
ra các ý kiến, kết luận hoặc kiến nghị trong báo cáo kiểm toán.
Tiêu chí sử dụng trong kiểm toán tài chính
28. Tiêu chí sử dụng trong kiểm toán tài chính là những tiêu chuẩn được sử
dụng để đánh giá hay đo lường về một hoặc một số nội dung kiểm toán tài chính,
bao gồm: Luật, chuẩn mực, các quy định, các khuôn khổ quy định về lập, trình bày
và công khai báo cáo tài chính, được ban hành bởi các cơ quan có thẩm quyền.
29. Kiểm toán viên nhà nước có trách nhiệm lựa chọn các tiêu chí phù hợp cho
từng cuộc kiểm toán tài chính mà mình thực hiện. Để xác định sự phù hợp của các
tiêu chí kiểm toán trong cuộc kiểm toán tài chính, kiểm toán viên nhà nước cần
xem xét các tiêu chí đó có liên quan đến nội dung kiểm toán tài chính không, liệu
đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán hiểu và thực hiện theo các tiêu chí đó không.
Kiểm toán viên nhà nước cũng cần xem xét các yếu tố khác của các tiêu chí áp
dụng cho mỗi cuộc kiểm toán như: Sự đầy đủ, tin cậy, khách quan, được chấp nhận
rộng rãi và có thể so sánh được trong các cuộc kiểm toán tài chính tương tự.
30. Tiêu chí sử dụng trong kiểm toán tài chính phải được thông tin cho đơn vị
được kiểm toán và các đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán để giúp họ hiểu được
cách thức đánh giá, đo lường nội dung kiểm toán.
Các mức độ đảm bảo
31. Trong hoạt động kiểm toán tài chính có hai mức độ đảm bảo: Đảm bảo hợp
lý và đảm bảo hạn chế.
(i) Đảm bảo hợp lý: Là sự đảm bảo ở mức độ cao nhưng không phải tuyệt đối.
Sự đảm bảo hợp lý được thiết kế để đưa ra ý kiến kết luận dưới dạng khẳng định,
như “theo ý kiến của Kiểm toán nhà nước, xét trên các khía cạnh trọng yếu, thông
tin tài chính, báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán đã được lập và trình bày
hợp lý (hoặc trung thực và đúng đắn) và phù hợp với khuôn khổ quy định hiện hành.
(ii) Đảm bảo hạn chế: Là sự đảm bảo ở mức độ thấp hơn sự đảm bảo hợp lý,
và được thực hiện nhằm đưa ra các ý kiến kết luận dưới dạng phủ định, như
“không có điều gì khiến chúng tôi tin tưởng rằng, xét trên các khía cạnh trọng yếu,
thông tin tài chính, báo cáo tài chính không được trình bày đúng đắn và hợp lý”.
Các kiểm toán viên nhà nước thực hiện những công việc kiểm toán dạng này có thể
phải áp dụng những hướng dẫn khác ngoài Chuẩn mực kiểm toán nhà nước về
kiểm toán tài chính như tham khảo các nguyên tắc kiểm toán cơ bản tại CMKTNN 100 -
Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước.
-- 7 of 25 --
CÔNG BÁO/Số 791 + 792/Ngày 29-8-2014 71
Các nguyên tắc cơ bản của kiểm toán tài chính
Các nguyên tắc chung
Điều kiện tiên quyết để thực hiện kiểm toán tài chính
Đạo đức nghề nghiệp và tính độc lập
32. Kiểm toán viên nhà nước phải tuân thủ các nguyên tắc về đạo đức nghề
nghiệp và đảm bảo tính độc lập. Khi thực hiện kiểm toán tài chính, kiểm toán
viên nhà nước phải hiểu và tuân thủ các nguyên tắc về đạo đức nghề nghiệp được
quy định tại CMKTNN 30 - Bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp.
Kiểm soát chất lượng kiểm toán
33. Tất cả các cuộc kiểm toán tài chính đều phải được thực hiện các thủ
tục kiểm soát chất lượng, nhằm đảm bảo hợp lý rằng cuộc kiểm toán đã tuân
thủ các chuẩn mực nghề nghiệp và các quy định có liên quan; báo cáo kiểm
toán phát hành phù hợp với hoàn cảnh cụ thể.
34. Kiểm toán viên nhà nước phải hiểu và tuân thủ các quy định, các thủ tục
kiểm soát chất lượng theo quy định tại CMKTNN 40 - Kiểm soát chất lượng kiểm toán.
35. Các yêu cầu và hướng dẫn cụ thể về kiểm soát chất lượng kiểm toán tài
chính được quy định tại CMKTNN 1220.
Năng lực và kỹ năng cần thiết
36. Đơn vị chủ trì kiểm toán cần phải đảm bảo Đoàn kiểm toán và các
chuyên gia bên ngoài tham gia cuộc kiểm toán có năng lực và kỹ năng cần
thiết để:
(i) Thực hiện cuộc kiểm toán theo các chuẩn mực nghề nghiệp, pháp luật
và các quy định có liên quan;
(ii) Báo cáo kiểm toán phát hành phù hợp với hoàn cảnh cụ thể (phù hợp
với mục tiêu, nội dung kiểm toán; các quy định pháp luật về thông tin tài
chính được kiểm toán;…).
37. Các năng lực và kỹ năng cần thiết để thực hiện cuộc kiểm toán bao gồm:
(i) Sự hiểu biết và kinh nghiệm thực tiễn tham gia các cuộc kiểm toán có nội
dung và mức độ phức tạp tương đương;
(ii) Am hiểu về các chuẩn mực nghề nghiệp và các quy định pháp luật được
áp dụng;
(iii) Năng lực chuyên môn về kỹ thuật, gồm các kỹ năng về công nghệ thông
tin có liên quan, hiểu biết về các lĩnh vực chuyên môn kế toán, kiểm toán;
(iv) Hiểu biết về các ngành có liên quan thuộc các lĩnh vực được kiểm toán;
(v) Có khả năng áp dụng các xét đoán chuyên môn;
(vi) Hiểu biết về các chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng của Kiểm toán
nhà nước;
-- 8 of 25 --
72 CÔNG BÁO/Số 791 + 792/Ngày 29-8-2014
(vii) Khả năng triển khai nhiệm vụ, trong điều kiện phù hợp, gồm cả sự hiểu
biết về cách thức tổ chức phân cấp lập báo cáo được áp dụng, đồng thời có khả
năng báo cáo với các cơ quan lập pháp, với các cơ quan giám sát khác, hoặc công
bố, thuyết trình trước công chúng;
(viii) Kỹ năng về kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ.
38. Các yêu cầu và hướng dẫn cụ thể về năng lực và kỹ năng cần thiết được
quy định tại CMKTNN 1200.
Rủi ro kiểm toán
39. Kiểm toán viên nhà nước cần giảm thiểu các rủi ro kiểm toán đến mức
thấp có thể chấp nhận được trong hoàn cảnh cụ thể của cuộc kiểm toán, nhằm
đạt được sự đảm bảo hợp lý làm căn cứ cho ý kiến kiểm toán được trình bày ở
dạng khẳng định.
40. Rủi ro kiểm toán trong kiểm toán tài chính là những rủi ro mà kiểm toán
viên nhà nước đưa ra ý kiến không phù hợp khi báo cáo tài chính được kiểm toán
còn chứa đựng sai sót trọng yếu.
41. Rủi ro kiểm toán phụ thuộc vào rủi ro có sai sót trọng yếu và rủi ro phát
hiện. Rủi ro kiểm toán là kết quả của rủi ro có sai sót trọng yếu và rủi ro phát hiện.
Trong đó:
(i) Rủi ro có sai sót trọng yếu là khả nă
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.