Quyết định0224/QDBan hành: 24/02/2023Còn hiệu lực
Quyết định Về việc công bố án lệ
Mục lục - 4 điều ▼
Điều 1. Công bố 07 (bảy) án lệ đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao thông qua (có án lệ kèm theo).
Điều 2. Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự có trách nhiệm nghiên cứu, áp
dụng các án lệ trong xét xử kể từ ngày 27 tháng 3 năm 2023.
Việc áp dụng án lệ được thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 8 Nghị quyết
số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18 tháng 6 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký./.
CHÁNH ÁN
Nguyễn Hòa Bình
-- 1 of 49 --
CÔNG BÁO/Số 613 + 614/Ngày 16-3-2023 49
ÁN LỆ SỐ 57/2023/AL1
Về hành vi gian dối nhằm tiếp cận tài sản trong tội “Cướp giật tài sản”
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào các ngày 01,
02, 03 tháng 02 năm 2023 và được công bố theo Quyết định số 39/QĐ-CA ngày 24
tháng 02 năm 2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Bản án hình sự phúc thẩm số 590/2020/HS-PT ngày 18/12/2020 của Tòa án
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Cướp giật tài sản” đối với bị cáo
Nguyễn Thành Quốc B.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 4 phần “Nhận định của Tòa án”.
Khái quát nội dung của án lệ:
- Tình huống án lệ:
Bị cáo dùng thủ đoạn gian dối để người quản lý tài sản chuyển giao tài sản cho
bị cáo, sau đó lợi dụng sơ hở để nhanh chóng tẩu thoát.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, bị cáo phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Cướp giật
tài sản”.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
Điều 171. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Từ khóa của án lệ:
“Cướp giật tài sản”; “Thủ đoạn gian dối để tiếp cận tài sản”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Thành Quốc B nảy sinh ý định cướp
giật tài sản. B mua số sim điện thoại khuyến mãi rồi tạo tài khoản trên ứng dụng
bán hàng trực tuyến qua mạng, đặt mua loại điện thoại Iphone 11. Để thực hiện
hành vi phạm tội, B còn chuẩn bị một số xấp tiền (mỗi xấp tiền B để một tờ tiền
thật phía trên, một tờ tiền thật phía dưới (mệnh giá từ 50.000 đồng đến 500.000 đồng,
ở giữa xấp tiền thì B để tiền âm phủ và được cột lại bằng dây thun). Khi đến gặp
1 Án lệ này do PGS. TS. Nguyễn Thị Phương Hoa, TS. Nguyễn Thị Ánh Hồng - Trường Đại
học Luật Thành phố Hồ Chí Minh và Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất.
-- 2 of 49 --
50 CÔNG BÁO/Số 613 + 614/Ngày 16-3-2023
người giao hàng để nhận hàng, B sẽ lấy những xấp tiền được chuẩn bị từ trong túi
sách đeo chéo ra để cho người giao hàng thấy, tạo lòng tin cho người giao hàng rồi
cất lại vào trong túi. Sau khi kiểm tra hàng xong, B sẽ để gói hàng xuống ba ga xe
của xe gắn máy Lead BS: 59L1-88433, rồi lấy xấp tiền do B chuẩn bị từ trong túi
ra đưa cho người giao hàng. Lợi dụng sơ hở khi người giao hàng tháo dây thun
kiểm tiền thì B tăng ga điều khiển xe bỏ chạy để chiếm đoạt điện thoại di động.
Kết quả điều tra xác định Nguyễn Thành Quốc B thực hiện 05 vụ chiếm đoạt
tài sản cụ thể như sau:
Vụ 1: Đầu tháng 01/2020, Nguyễn Thành Quốc B sử dụng thuê bao số 0563667801
để đăng ký một tài khoản mua hàng trên trang thương mại điện tử L với tên là Trần
Thanh T1 và đặt mua một điện thoại di động Apple Iphone 11, màu tím, dung
lượng 128GB với giá 22.017.700 đồng (Hai mươi hai triệu không trăm mười bảy
nghìn bảy trăm đồng) địa chỉ giao nhận hàng là tại số 158/A49 đường P, phường H,
quận T, Tp. Hồ Chí Minh.
Khoảng 16 giờ ngày 11/01/2020, B nhận được điện thoại của anh Phạm Ngọc T
(là nhân viên giao hàng của Công ty S) có nhiệm vụ đi giao đơn hàng mã số
S60RT0000206084VN bên trong là 01 (một) điện thoại di động Apple Iphone 11,
128GB, màu tím, IMEI: 356571101877587. B điều khiển xe máy Honda Lead BS:
59L1-88433 chạy đến địa chỉ trên để chờ anh T. Sau khi anh T đến, B yêu cầu anh T
cho kiểm tra gói hàng trước nhưng anh T không đồng ý. Sau đó, B nói với anh T
đứng đợi một lát để đi đón xe tải chở hàng cho gia đình rồi quay lại. Khoảng 03 phút
sau, B quay lại và đồng ý nhận gói hàng, anh T đưa gói hàng cho B đồng thời B đưa
một bọc nylon chứa tiền bên trong (B sắp xếp 02 tờ tiền thật có mệnh giá 200.000 đồng
đặt ở mặt trên và mặt dưới, ở giữa là tiền âm phủ) đã chuẩn bị từ trước cho anh T
để kiểm tra. Xấp tiền này B đã mua từ trước. B dùng dây thun buộc xấp tiền, dùng
túi nylon cuộn xung quanh và dùng băng keo trắng quấn nhiều lớp phía ngoài xấp
tiền. Khi anh T đang mở túi nylon để lấy tiền ra kiểm tra thì B mở khóa xe rồi giả
vờ nói chạy ra đầu hẻm xem xe tải chở hàng đã đến chưa. Anh T chưa kịp phản ứng
gì thì B nhanh chóng điều khiển xe gắn máy tẩu thoát.
Vào tối cùng ngày, B rao bán điện thoại di động vừa chiếm đoạt được trên
mạng Internet và để lại số điện thoại 0938355534 để người mua liên lạc. Khoảng
02 ngày sau có một nam thanh niên (chưa rõ lai lịch) hỏi mua điện thoại trên với
giá 18.000.000 đồng, B đồng ý và hẹn gặp người này tại trước cổng Công viên Đ,
phường A, quận M để giao điện thoại. Đối với sim thuê bao 0563667801, B đã vứt
bỏ trên đường (không rõ địa chỉ). Số tiền này B đã tiêu xài cá nhân hết.
Theo bản kết luận định giá tài sản số 941/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 27/5/2020
của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận Tân Phú xác định 01 (một) điện
-- 3 of 49 --
CÔNG BÁO/Số 613 + 614/Ngày 16-3-2023 51
thoại di động hiệu Apple Iphone 11, 128GB, màu tím, IMEI: 356571101877587 trị
giá 22.310.000 đồng.
Vụ 2: Ngày 20/01/2020, Nguyễn Thành Quốc B sử dụng điện thoại Redmi lên
trang mạng của T.com đặt mua 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Pro Max,
256GB, màu Gold, giá tiền 37.990.000 đồng. B cung cấp thông tin người mua
hàng tên Hoàng Anh T2, số điện thoại liên hệ 0563667873 và nơi giao hàng tại
số 04 đường L, phường N, quận T. Đến khoảng 13h30 ngày 21/01/2020, anh
Nguyễn Lê Thanh D (là nhân viên giao hàng công ty cổ phần T) mang theo 01 (một)
điện thoại di động Iphone 11 Pro Max, 256GB, màu Gold, IMEI: 353923106182211
lấy từ cửa hàng đến giao hàng cho B tại số 04 đường L, phường N, quận T và thu
tiền 37.990.000 đồng. Khi đến địa điểm giao hàng, anh D gặp B điều khiển xe
Lead BS: 59L1-88433 tại trước số 4 đường L, phường N, quận T thì B nói anh D
đẩy xe qua địa chỉ số 07 đường L, phường N, quận T để giao nhận hàng, B lấy lý
do tránh đường cho xe tải vào nhà. Tại trước nhà số 07 đường L, phường N,
quận T, D đưa cho B 01 (một) hộp điện thoại di động Iphone 11 Pro Max, 256GB,
Gold, IMEI: 353923106182211, còn nguyên seal đồng thời B đưa cho D 01 (một)
xấp tiền mệnh giá 50.000 đồng Việt Nam (gồm 150 tờ) nói D đếm lại. Lúc này, B
để hộp điện thoại xuống dưới sàn để chân phía trước của xe Lead, đồng thời mở
khóa xe. Lợi dụng lúc D đang đếm tiền không để ý, B nhanh chóng tăng ga xe điều
khiển xe bỏ chạy thoát. D chạy bộ đuổi theo nhưng không kịp nên đã lên Công an
phường Phú Thạnh trình báo sự việc.
B mang điện thoại bán lại cho anh Lưu Thành N (là chủ cửa hàng điện thoại N
số 31/15 đường U, phường G, quận T) được số tiền 31.500.000 đồng. Do không có
tiền mặt nên N dùng tài khoản ngân hàng V số: 0721000616605 chuyển số tiền
này vào tài khoản ngân hàng C của B số 10236697. Số tiền này B đã tiêu xài cá
nhân hết.
Theo bản kết luận định giá tài sản số 763/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 29/4/2020
của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận Tân Phú xác định: 01 (một) điện
thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max, 256GB trị giá 37.990.000 đồng.
Vụ 3: Ngày 28/01/2020, B sử dụng điện thoại Redmi lên trang mạng C.com.vn
để đặt mua 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max, 256GB, giá tiền
34.990.000 đồng. B cung cấp thông tin người nhận hàng tên Hoàng Anh T2,
số điện thoại liên hệ: 0563667873, địa chỉ giao hàng tại trước nhà số 04 đường L,
phường N, quận T.
Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 29/01/2020, anh Trần Anh T3 (là nhân viên cửa
hàng điện thoại C) đến địa điểm giao hàng số 04 đường L, phường N, quận T gặp B
và đưa cho B kiểm tra 01 (một) hộp điện thoại Iphone 11 Pro Max, 256GB, màu
-- 4 of 49 --
52 CÔNG BÁO/Số 613 + 614/Ngày 16-3-2023
xanh, số IMEI: 353923106193341, còn nguyên seal. B kiểm tra hộp điện thoại và
có hỏi T3 cách sử dụng điện thoại, tình trạng của điện thoại. Sau đó, B lấy lý do là
tránh đường cho xe tải vào nhà nên nói T3 cùng di chuyển sang bên đường để giao
dịch. B để hộp điện thoại xuống dưới sàn để chân phía trước của xe Lead, mở khóa
xe, ngồi trên xe dùng chân đẩy xe còn T3 dắt bộ xe đến trước địa chỉ số 07 đường L,
phường N, quận T để giao dịch. Tại đây, B lấy trong túi xách đeo chéo ra 01 (một)
xấp tiền mệnh giá 50.000 đồng Việt Nam (gồm 50 tờ do B chuẩn bị từ trước) đưa
cho T3 nói T3 kiểm tra lại tiền. Khi T3 đang đếm tiền thì B lấy trong túi xách ra
xấp tiền do B chuẩn bị trước đó (phía trên để 01 (một) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng
Việt Nam, ở giữa để 100 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng tiền âm phủ, phía dưới
để 01 (một) tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng Việt Nam) ném về phía của T3 rồi
nhanh chóng nổ máy xe tăng ga bỏ chạy. T3 đuổi theo nhưng không kịp nên đã đến
Công an phường Phú Thạnh trình báo sự việc.
Sau đó, B mang điện thoại chiếm đoạt được đến cửa hàng điện thoại N số 31/15
đường U, phường G, quận T bán lại cho anh Lưu Thành N với giá 31.000.000 đồng.
Do không có tiền mặt nên N dùng tài khoản ngân hàng V số: 0721000616605
chuyển số tiền này vào tài khoản ngân hàng C của B số 10236697. Số tiền này B
đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 763/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 29/04/2020
của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận Tân Phú xác định 01 (một) điện
thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max, 256GB trị giá 34.990.000 đồng.
Vụ 4: Ngày 29/01/2020, B sử dụng điện thoại Redmi đăng nhập vào ứng dụng
mua bán hàng qua mạng K để đặt mua 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11
Pro Max, 256GB, giá tiền 35.990.000 đồng. B cung cấp thông tin người nhận hàng
tên To Hoang G, số điện thoại liên hệ: 0563667801, địa chỉ giao hàng 46 đường T,
phường E, quận T.
Khoảng 14 giờ ngày 30/01/2020, anh Trần Huệ C đến kho hàng của công ty K
nhận đơn hàng 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Pro Max, 256GB, Gold, số
IMEI: 353909101879836 giao cho khách tên To Hoang G thu tiền theo đơn hàng
35.990.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì anh C đến địa chỉ giao hàng
số 46 đường T, phường E, quận T. Anh C điện thoại vào số 0563667801 thì gặp B,
thông báo giao hàng theo đơn đặt hàng tên To Hoang G. Lúc này, B nói anh C thay
đổi địa điểm giao hàng đến số 86 đường M, phường E, quận T (do B thấy tại số 46
đường T, phường E, quận T đường đông người). Sau đó anh C đến trước số 86
đường M, phường E, quận T thì B điều khiển xe gắn máy Lead BS: 59L1-88433 đến.
Tại đây, anh C đưa cho B kiểm tra gói hàng mà B đặt trước đó của công ty K. B
tháo gói hàng ra thì thấy bên trong có 01 (một) hộp điện thoại Iphone nguyên seal,
đúng với thông tin B đặt hàng. Sau khi kiểm tra xong B xác nhận với anh C đúng
-- 5 of 49 --
CÔNG BÁO/Số 613 + 614/Ngày 16-3-2023 53
là sản phẩm B đặt, nhưng B nói là không đủ tiền và kêu anh C đứng đợi để B đi rút
thêm tiền đồng thời B đưa hộp điện thoại lại cho anh C. B điều khiển xe đi được 5 phút
thì quay trở lại. B ngồi trên xe Lead, dừng phía trước đầu xe của anh C nên anh C
mang gói hàng đến cho B kiểm tra thêm lần nữa xác nhận đúng sản phẩm. B bỏ
hộp điện thoại vào trong túi nylon màu vàng được treo ở móc treo phía trước xe. B
mở túi xách đeo chéo vai lấy ra 02 (hai) xấp tiền mà B chuẩn bị từ trước 01 xấp
tiền gồm 27 tờ mệnh giá 50.000 đồng Việt Nam; 01 xấp tiền gồm: 01 tờ mệnh giá
500.000 đồng Việt Nam phía trên, ở giữa là tiền âm phủ, ở dưới cùng để tờ tiền
mệnh giá 500.000 đồng. B đưa cho anh C xấp tiền mệnh giá 50.000 đồng nói anh C
đếm lại. Trong lúc anh C đang đếm tiền không để ý, B nhanh chóng mở khóa xe nổ
máy điều khiển xe bỏ chạy ra hướng đường H tẩu thoát. Anh C đuổi theo nhưng
không kịp nên đã đến Công an phường Hiệp Tân trình báo.
Sau đó, B mang điện thoại vừa cướp giật được đến cửa hàng điện thoại N
số 31/15 đường U, phường G, quận T bán cho chị Lê Hoàng L, (là nhân viên của
cửa hàng) với giá là 31.000.000 đồng. Do không đủ tiền mặt nên chị L sử dụng tài
khoản ngân hàng T số 19021002760019 chuyển số tiền 26.000.000 đồng vào tài
khoản ngân hàng T của B số 19033815560015 và đưa cho B thêm 5.000.000 đồng
tiền mặt. Số tiền này B đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 763/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 30/01/2020
của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận Tân Phú xác định 01 (một) điện
thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max, 256GB trị giá 35.990.000 đồng.
Vụ 5: Khoảng 16 giờ 00 ngày 04/02/2020, B sử dụng điện thoại Redmi đăng
nhập vào ứng dụng bán hàng qua mạng L và đăng ký mua 01 (một) điện thoại di
động hiệu Iphone 11 Pro max, màu xanh, dung lượng 512Gb với giá tiền là
44.001.000 đồng. B cung cấp thông tin người mua hàng tên Tô Hoàng G, số điện
thoại liên hệ 0563667873 và nơi giao hàng tại số 04 đường L, phường N, quận T.
Đến khoảng 8 giờ ngày 05/02/2020, anh Trần Thế V (nhân viên giao hàng) đến
công ty X nhận 01 (một) gói hàng (số đơn hàng LRT0002895925, tên hàng hóa
Apple Iphone 11 Pro Max, kèm sạc nhanh 18W), tiền thu hộ là 44.001.000 đồng
giao cho khách hàng Tô Hoàng G, số điện thoại liên hệ 0563667873 và nơi giao
hàng tại số 04 đường L, phường N, quận T. Anh V điện thoại liên lạc số 0563667873
thì gặp B và thông báo cho B biết sẽ giao hàng trong buổi sáng, B đồng ý. Đến
khoảng 10 giờ 50 phút cùng ngày, V điện thoại cho B nói đã đến địa điểm giao
hàng, B nói anh V đứng đợi. B điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Lead biển số
59L1-88433 đến trước số 07 đường L, phường N, quận T thì gặp V đang đứng đợi.
Lúc này, B lấy trong túi xách ra 02 (hai) xấp tiền chuẩn bị từ trước (trong đó 01 (một)
xấp tiền để 01 (một) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng phía trên, ở giữa để tiền âm phủ,
-- 6 of 49 --
54 CÔNG BÁO/Số 613 + 614/Ngày 16-3-2023
ở dưới cùng để 01 (một) tờ mệnh giá 100.000 đồng; xấp tiền còn lại là tiền thật có
nhiều mệnh giá từ 50.000 đồng đến 500.000 đồng) B lấy từ trong túi xách đeo chéo
vai ra cầm trên tay rồi bỏ lại vào trong túi xách mục đích cho anh V thấy, tạo lòng tin
cho anh V. Sau đó, anh V lấy 01 (một) gói hàng (số đơn hàng LRT0002895925, tên
hàng hóa Apple Iphone 11 Pro Max, kèm sạc nhanh 18W) đưa cho B và đề nghị phải
thanh toán tiền trước khi kiểm tra hàng. B không đồng ý và yêu cầu phải được kiểm
tra hàng trước mới đưa tiền nên anh V điện thoại về công ty xin ý kiến. Lợi
dụng lúc V không để ý, B để gói hàng xuống dưới sàn để chân phía trước của xe gắn
máy Lead đồng thời mở khóa xe và nói với anh V để đẩy xe vào lề rồi tiếp tục giao
dịch. B ngồi trên xe đẩy xe lên phía trước rồi bất ngờ tăng ga điều khiển xe tẩu thoát.
Anh V tri hô và chạy bộ đuổi theo nhưng không kịp. B điều khiển xe qua nhiều tuyến
đường, khi đến đối diện số nhà 1446 đường S, phường A, quận T thì B dừng xe lại xé
bỏ bao bì giao hàng của công ty L. B thấy bên trong là 01 (một) hộp điện thoại
Iphone 11 Pro Max trên hộp điện thoại có ghi thông tin MWHR2VN/A; Iphone 11
Pro Max, Midnight Green, 512 Gb, seri No: FK1ZJ1G5N715; IMEI: 35392525102781896
còn nguyên seal niêm phong FPT.
B mang điện thoại vừa cướp giật được đến cửa hàng điện thoại N số 31/15
đường U, phường G, quận T để bán. Chị Lê Hoàng L, (là nhân viên của cửa hàng)
đồng ý mua điện thoại với giá tiền là 33.500.000 đồng. Do không đủ tiền mặt nên L
sử dụng tài khoản ngân hàng T số 19021002760019 chuyển số tiền 33.500.000
đồng vào tài khoản ngân hàng T của B số 19033815560015. B đã giao nộp số tiền
này cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú.
Theo bản kết luận định giá tài sản số 763/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 29/4/2020
của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận Tân Phú xác định 01 điện thoại
di động hiệu Iphone 11 Pro max, màu xanh, dung lượng 512Gb trị giá 43.990.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 111/2020/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2020
của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.