Nghị quyếtBan hành: 24/11/2010Còn hiệu lực
Nghị quyết VỀ VIỆC THI HÀNH LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH
Mục lục - 4 điều ▼
Điều 1. Luật Tố tụng hành chính được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2010, có
hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011.
Điều 2. 1. Kể từ ngày Luật Tố tụng hành chính được công bố đến ngày Luật này có
1. Kể từ ngày Luật Tố tụng hành chính được công bố đến ngày Luật này có
hiệu lực:
a) Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Luật Tố tụng hành chính được công
bố thì áp dụng theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 69 của Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án hành chính;
b) Thời hạn đề nghị xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, thời hạn
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định có hiệu
lực pháp luật từ ngày Luật Tố tụng hành chính được công bố thì áp dụng theo quy
định tại các điều 211, 215 và 236 của Luật Tố tụng hành chính;
c) Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định nêu tại điểm a và điểm b
khoản này được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án
hành chính.
-- 1 of 3 --
CÔNG BÁO/Số 169 + 170 ngày 04-4-2011 119
2. Kể từ ngày Luật Tố tụng hành chính có hiệu lực:
a) Đối với những vụ án hành chính đã được Tòa án thụ lý trước ngày Luật Tố
tụng hành chính có hiệu lực, nhưng kể từ ngày Luật Tố tụng hành chính có hiệu lực
mới xét xử sơ thẩm thì áp dụng Luật Tố tụng hành chính để giải quyết;
b) Đối với những vụ án hành chính đã được Tòa án xét xử sơ thẩm trước ngày
Luật Tố tụng hành chính có hiệu lực mà có kháng cáo, kháng nghị, nhưng kể từ ngày
Luật Tố tụng hành chính có hiệu lực mới xét xử phúc thẩm thì áp dụng Luật Tố tụng
hành chính để giải quyết;
c) Đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà bị kháng nghị
giám đốc thẩm, tái thẩm trước ngày Luật Tố tụng hành chính có hiệu lực nhưng kể
từ ngày Luật Tố tụng hành chính có hiệu lực mới xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm thì
áp dụng Luật Tố tụng hành chính để giải quyết;
d) Đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có đơn đề nghị
giám đốc thẩm, tái thẩm trong thời gian kể từ ngày Luật Tố tụng hành chính được
công bố cho đến ngày Luật này có hiệu lực mà chưa có kháng nghị của người có
thẩm quyền, thì việc kháng nghị được thực hiện theo Luật Tố tụng hành chính;
đ) Đối với những vụ án hành chính đã được Tòa án xét xử và bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Luật Tố tụng hành chính có hiệu lực
mà kể từ ngày Luật này có hiệu lực mới kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm thì căn
cứ để thực hiện việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định
của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
3. Đối với các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày
Luật Tố tụng hành chính có hiệu lực, nhưng đến ngày Luật Tố tụng hành chính có
hiệu lực vẫn chưa được thi hành hoặc chưa thi hành xong thì được thi hành theo quy
định của Luật Tố tụng hành chính.
Điều 3. Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Luật Tố tụng hành chính có hiệu lực,
người khiếu nại đã thực hiện việc khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành
chính về quản lý đất đai đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương từ
ngày 01 tháng 6 năm 2006 đến ngày Luật này có hiệu lực, nếu khiếu nại không được
giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng người khiếu nại không đồng ý với quyết
định giải quyết khiếu nại thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định
của Luật Tố tụng hành chính.
-- 2 of 3 --
120 CÔNG BÁO/Số 169 + 170 ngày 04-4-2011
Điều 4. 1. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chính phủ trong
1. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chính phủ trong
phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình khẩn trương củng cố cơ sở vật chất; bổ sung,
đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ đối với đội ngũ công chức của Tòa án nhân dân, Viện
kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự để bảo đảm đáp ứng yêu cầu giải
quyết các vụ án và thi hành án hành chính khi Luật Tố tụng hành chính có hiệu lực
thi hành.
2. Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận tuyên
truyền, phổ biến rộng rãi Luật Tố tụng hành chính trong cán bộ, công chức, viên
chức và nhân dân nhằm góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, phát huy
tác dụng của Luật Tố tụng hành chính trong bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
3. Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện và hướng dẫn thi
hành Nghị quyết này.
___________________________
Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2010./.
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
Nguyễn Phú Trọng
-- 3 of 3 --
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.