Thông tư liên tịch06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-Ban hành: 02/08/2013Còn hiệu lực
Thông tư liên tịch Hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tiếp nhận,
Mục lục - 13 điều ▼
Chương I QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Thông tư liên tịch này hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.
Chương I QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Thông tư liên tịch này áp dụng đối với các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự,
người tiến hành tố tụng hình sự và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan
đến việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.
-- 1 of 19 --
CÔNG BÁO/Số 505 + 506/Ngày 28-8-2013 3
Chương I QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Thông tư liên tịch này, những từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Tố giác về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do
cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm
tiếp nhận, giải quyết.
2. Tin báo về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm trên
các phương tiện thông tin đại chúng hoặc do cơ quan, tổ chức cung cấp cho cơ
quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết.
3. Kiến nghị khởi tố là việc các cơ quan nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ của
mình phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm và có văn bản kiến nghị Cơ quan điều
tra xem xét khởi tố vụ án hình sự.
Chương I QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 4. Nguyên tắc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và
kiến nghị khởi tố
1. Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
phải tuân theo quy định của pháp luật. Không được vì bất cứ lý do gì mà từ chối
việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.
2. Chỉ những cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và
kiến nghị khởi tố mới được tiến hành giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và
kiến nghị khởi tố. Người làm trái pháp luật trong giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm và kiến nghị khởi tố thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ
luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
3. Khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, cá nhân, đơn
vị tiếp nhận không được tiết lộ nội dung tiếp nhận được cho cá nhân, cơ quan, tổ
chức không có thẩm quyền.
4. Cơ quan tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi
tố có trách nhiệm trả lời cho cơ quan, tổ chức đã báo tin, kiến nghị khởi tố hoặc
người đã tố giác tội phạm. Cơ quan tiếp nhận, giải quyết phải giữ bí mật cho cơ
quan, tổ chức, người cung cấp tin và hướng dẫn họ biện pháp, cách thức giữ bí mật
những thông tin đã cung cấp, tố giác.
5. Trường hợp xét thấy cần thiết, cơ quan tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm và kiến nghị khởi tố có trách nhiệm áp dụng hoặc đề nghị áp dụng các
biện pháp cần thiết để bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm, tài sản cho cơ quan, tổ chức đã báo tin, kiến nghị khởi tố; người đã tố giác
tội phạm và những người thân thích của họ.
6. Mọi trường hợp không làm hoặc làm trái các quy định về tiếp nhận, giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố dẫn đến không kịp thời ngăn
chặn, khắc phục hậu quả của hành vi phạm tội, người phạm tội bỏ trốn, tiêu
hủy chứng cứ, xóa dấu vết phải bị xử lý theo quy định của pháp luật.
-- 2 of 19 --
4 CÔNG BÁO/Số 505 + 506/Ngày 28-8-2013
Chương I QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 5. Trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị
khởi tố
1. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm bao gồm:
a) Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân;
b) Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân;
c) Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
d) Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát quân sự Trung ương;
đ) Bộ đội Biên phòng;
e) Cơ quan Hải quan;
g) Cơ quan Kiểm lâm;
h) Lực lượng Cảnh sát biển;
i) Các cơ quan khác của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra;
k) Các cơ quan khác của Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra;
l) Viện kiểm sát;
m) Công an xã, phường, thị trấn, đồn, trạm Công an;
n) Tòa án;
p) Cơ quan báo chí;
q) Các cơ quan, tổ chức khác.
2. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận kiến nghị khởi tố bao gồm:
a) Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân;
b) Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân;
c) Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
d) Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát quân sự Trung ương;
đ) Viện kiểm sát tiếp nhận và chuyển ngay đến Cơ quan điều tra có thẩm
quyền giải quyết.
Chương I QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 6. Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị
khởi tố
1. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm bao gồm:
a) Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân;
b) Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân;
c) Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
-- 3 of 19 --
CÔNG BÁO/Số 505 + 506/Ngày 28-8-2013 5
d) Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát quân sự Trung ương;
đ) Bộ đội Biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm, lực lượng Cảnh
sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh
vực quản lý mà tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thuộc quyền hạn điều tra của
cơ quan mình thì tiến hành giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đó.
2. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết kiến nghị khởi tố bao gồm:
a) Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân;
b) Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân;
c) Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
d) Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát quân sự Trung ương.
3. Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của
các cơ quan được xác định theo thẩm quyền điều tra.
Chương II
QUY ĐỊNH CỤ THỂ
Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ
Điều 7. Nhiệm vụ tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị
khởi tố
1. Cơ quan điều tra sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị
khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình phải tiến hành kiểm tra, xác
minh. Những tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố không thuộc thẩm
quyền giải quyết của cơ quan mình thì ngay sau khi tiếp nhận phải chuyển tố giác,
tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đó kèm theo các tài liệu có liên quan đến
Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết.
2. Các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra sau khi
tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc tự phát hiện dấu hiệu của tội phạm
thuộc quyền hạn điều tra của cơ quan mình thì thông báo cho Viện kiểm sát cùng
cấp, Cơ quan điều tra có thẩm quyền và tiến hành kiểm tra, xác minh. Trường hợp
tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố không thuộc thẩm quyền giải
quyết của cơ quan mình thì phải chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và
kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm
quyền giải quyết.
3. Viện kiểm sát sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị
khởi tố phải chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết kèm theo
các tài liệu có liên quan.
-- 4 of 19 --
6 CÔNG BÁO/Số 505 + 506/Ngày 28-8-2013
4. Các cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm m, n, p, q khoản 1 Điều 5 Thông
tư liên tịch này, sau khi nhận được tố giác về tội phạm có trách nhiệm báo ngay tin
đã nhận được cho Cơ quan điều tra bằng văn bản. Trường hợp khẩn cấp có thể báo
tin trực tiếp hoặc qua điện thoại và các hình thức liên lạc khác nhưng sau đó phải
thể hiện bằng văn bản.
5. Đối với tố giác, tin báo về tội phạm được nêu trên các phương tiện thông tin
đại chúng thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan, đơn vị nào thì cơ quan, đơn vị
đó ghi nhận và giải quyết theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
6. Các cơ quan, tổ chức sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm không
thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức mình phải chuyển ngay đến cơ
quan có thẩm quyền giải quyết; đồng thời, nếu xét thấy không gây khó khăn cho cá
nhân, cơ quan, tổ chức báo tin hoặc không làm ảnh hưởng đến việc kiểm tra, xác
minh, ngăn chặn ngay tội phạm thì hướng dẫn họ đến đúng cơ quan có thẩm quyền
để tố giác, báo tin về tội phạm. Trường hợp cấp bách, cần ngăn chặn ngay tội
phạm, thu thập chứng cứ, bảo vệ hiện trường thì phải có biện pháp giải quyết kịp
thời theo quy định của pháp luật.
Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ
Điều 8. Tổ chức tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
1. Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân và Viện kiểm sát các cấp phải tổ
chức trực ban hình sự để tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm và kiến
nghị khởi tố; phân loại và chuyển ngay cho các đơn vị có thẩm quyền giải quyết.
Địa điểm tiếp nhận phải đặt ở nơi thuận tiện, có biển ghi tên cơ quan và thông báo
rộng rãi để mọi người biết. Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân, Bộ đội Biên
phòng, cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác
của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra phân công cán bộ để tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và
kiến nghị khởi tố. Các cơ quan, tổ chức khác có trách nhiệm tiếp nhận mọi tố giác
về tội phạm.
2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Bộ đội Biên phòng, cơ quan Hải quan,
Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân,
Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận
được tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố qua đơn thư, công văn kiến
nghị hoặc nêu trên phương tiện thông tin đại chúng thì phải tiếp nhận và vào sổ
tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Nếu cá nhân trực tiếp
đến tố giác về tội phạm hoặc đại diện cơ quan, tổ chức trực tiếp đến báo tin về tội
phạm thì lập biên bản tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm. Nếu cá nhân tố giác
về tội phạm hoặc đại diện cơ quan, tổ chức báo tin về tội phạm qua điện thoại, các
phương tiện thông tin khác thì phải tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận tố giác, tin
-- 5 of 19 --
CÔNG BÁO/Số 505 + 506/Ngày 28-8-2013 7
báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, nếu là tin quan trọng hoặc thấy cần thiết thì
có thể ghi âm, ghi hình. Trường hợp người phạm tội đến tự thú thì phải lập biên
bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú.
Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ
Điều 9. Giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
1. Sau khi tiếp nhận thông tin liên quan đến tội phạm, Cơ quan điều tra phải
tiến hành phân loại, xác minh sơ bộ ban đầu. Nếu xác định thông tin đó là tố giác,
tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan
mình thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải ra
Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi
tố và gửi ngay một bản đến Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát việc giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo quy định của pháp luật. Đối
với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố sau khi tiếp nhận đã rõ về dấu
hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và thực
hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003, không phải ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm hoặc kiến nghị khởi tố.
2. Bộ đội Biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm, lực lượng Cảnh
sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh
vực quản lý mà tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thuộc quyền hạn điều tra của
cơ quan mình thì khẩn trương tiến hành kiểm tra, xác minh, quyết định khởi tố
hoặc không khởi tố vụ án hình sự; đồng thời, phải thông báo ngay bằng văn bản
cho Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt
động điều tra của cơ quan mình. Trường hợp ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự
thì thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2003.
3. Trường hợp sau khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi
tố, cơ quan tiến hành giải quyết ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự và xác
định có hành vi vi phạm pháp luật khác xảy ra thì trong thời hạn 3 ngày làm việc,
kể từ khi Viện kiểm sát có văn bản đồng ý về kết quả giải quyết theo quy định tại
khoản 1 Điều 13 Thông tư liên tịch này, cơ quan tiến hành giải quyết sao hồ sơ để
lưu và chuyển ngay hồ sơ, tài liệu (bản chính) có liên quan đến cơ quan có thẩm
quyền để xử lý.
Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ
Điều 10. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan
điều tra, Điều tra viên
1. Trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Thủ
trưởng Cơ quan điều tra có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo việc kiểm tra, xác minh nguồn tin;
-- 6 of 19 --
8 CÔNG BÁO/Số 505 + 506/Ngày 28-8-2013
b) Quyết định phân công Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố;
c) Kiểm tra các hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin của Phó Thủ trưởng
Cơ quan điều tra và Điều tra viên;
d) Quyết định thay đổi Điều tra viên;
đ) Quyết định trưng cầu giám định, định giá; quyết định khai quật tử thi;
e) Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền Cơ quan điều tra;
g) Quyết định khởi tố vụ án; quyết định không khởi tố vụ án;
h) Trực tiếp tiến hành các biện pháp kiểm tra, xác minh nguồn tin;
i) Những nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Khi Thủ trưởng Cơ quan điều tra vắng mặt, một Phó Thủ trưởng được Thủ
trưởng ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng. Phó Thủ trưởng
chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng về nhiệm vụ được giao.
2. Khi được phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị
khởi tố, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra có những nhiệm vụ và quyền hạn quy
định tại các điểm a, đ, e, g, h, i khoản 1 Điều này.
3. Điều tra viên được phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc
kiến nghị khởi tố có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
a) Lập hồ sơ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố;
b) Triệu tập và lấy lời khai của những người có liên quan nhằm kiểm tra, xác
minh nguồn tin;
c) Tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng;
d) Tiến hành các hoạt động khác thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra theo
sự phân công của Thủ trưởng Cơ quan điều tra.
4. Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải chịu trách nhiệm trước
pháp luật về những hành vi và quyết định của mình.
Điều tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Thủ trưởng Cơ
quan điều tra về những hành vi và quyết định của mình.
Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ
Điều 11. Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị
khởi tố
1. Sau khi nhận được Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm hoặc kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra theo quy định tại khoản 1 Điều 9
Thông tư liên tịch này, trong thời hạn 3 ngày làm việc, Viện trưởng Viện kiểm sát
phải ra Quyết định phân công kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
hoặc kiến nghị khởi tố và gửi ngay một bản cho Cơ quan điều tra đã ra Quyết định
-- 7 of 19 --
CÔNG BÁO/Số 505 + 506/Ngày 28-8-2013 9
phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố. Đối với tố
giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đã rõ về dấu hiệu của tội phạm mà
Cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự thì Viện trưởng Viện kiểm
sát phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án
hình sự theo trình tự, thủ tục quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003.
2. Sau khi nhận được văn bản thông báo của Bộ đội Biên phòng, cơ quan
Hải quan, cơ quan Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của
Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Thông tư liên tịch này, Viện kiểm
sát tiến hành kiểm sát theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ
Điều 12. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện
kiểm sát, Kiểm sát viên
1. Khi thực hiện công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố, Viện trưởng Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền hạn
sau đây:
a) Tổ chức và chỉ đạo các hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm và kiến nghị khởi tố;
b) Quyết định phân công Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên kiểm
sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố;
c) Chỉ đạo, kiểm tra các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Phó Viện trưởng Viện
kiểm sát và Kiểm sát viên;
d) Quyết định thay đổi Kiểm sát viên;
đ) Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát;
e) Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra khắc phục các vi phạm pháp luật trong giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố;
g) Giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm và kiến nghị khởi tố.
Khi Viện trưởng Viện kiểm sát vắng mặt, một Phó Viện trưởng được Viện
trưởng ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng. Phó Viện trưởng
chịu trách nhiệm trước Viện trưởng về nhiệm vụ được giao.
2. Khi được phân công kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
hoặc kiến nghị khởi tố, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có những nhiệm vụ và
quyền hạn được quy định tại các điểm a, đ, e, g khoản 1 Điều này.
-- 8 of 19 --
10 CÔNG BÁO/Số 505 + 506/Ngày 28-8-2013
3. Khi được phân công kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
hoặc kiến nghị khởi tố, Kiểm sát viên có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
a) Kiểm sát việc kiểm tra, xác minh nguồn tin của Cơ quan điều tra theo quy
định của pháp luật tố tụng hình sự;
b) Kiểm sát việc lập hồ sơ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến
nghị khởi tố;
c) Kiểm sát kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị
khởi tố.
4. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát phải chịu trách nhiệm trước
pháp luật về những hành vi và quyết định của mình.
Kiểm sát viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Viện trưởng, Phó
Viện trưởng Viện kiểm sát về những hành vi và quyết định của mình.
Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ
Điều 13. Thông báo kết quả tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm và kiến nghị khởi tố
1. Khi kết thúc việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi
tố, trong thời hạn 03 ngày làm việc, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố phải gửi kết quả giải quyết cùng hồ sơ giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố cho Viện kiểm sát cùng
cấp; trong thời hạn 06 ngày làm việc, Viện kiểm sát phải có văn bản thể hiện
quan điểm đồng ý hoặc không đồng ý về kết quả giải quyết.
Trường hợp đã hết thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị
khởi tố quy định tại Điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 mà cơ quan có
thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.