Quyết định594/QBan hành: 31/12/2021Còn hiệu lực
Quyết định số 594/QĐ-CA về việc công bố án lệ.
Tải PDF
File phục vụ qua máy chủ VietLex. Miễn phí, không cần đăng ký.0 lượt tải0 lượt xem
Mục lục - 5 điều ▼
Điều 1. Công bố 09 (chín) án lệ đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao thông qua (có án lệ kèm theo).
Điều 2. Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự có trách nhiệm nghiên cứu, áp
dụng các án lệ trong xét xử kể từ ngày 01 tháng 02 năm 2022.
Việc áp dụng án lệ được thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 8 Nghị quyết
số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18 tháng 6 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
CHÁNH ÁN
Nguyễn Hòa Bình
CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022 5
ÁN LỆ SỐ 44/2021/AL 1
Về việc xác định thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu phản tố
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25
tháng 11 năm 2021 và được công bố theo Quyết định số 594/QĐ-CA ngày 31
tháng 12 năm 2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số 10/2021/KDTM-GĐT ngày 14/9/2021 của Tòa
án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về vụ án kinh doanh thương mại “Tranh chấp hợp
đồng tư vấn thiết kế” tại Hà Nội, giữa nguyên đơn là Công ty cổ phần H với bị đơn
là Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 2 phần “Nhận định của Tòa án”.
Khái quát nội dung án lệ:
- Tình huống án lệ:
Trong vụ án dân sự, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Tòa án phải xác định yêu cầu phản tố của bị đơn chính là
yêu cầu khởi kiện và phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật về thời hiệu
khởi kiện.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
Khoản 4 Điều 60, Điều 159, Điều 176, Điều 178 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2004 (tương ứng với khoản 4 Điều 72, Điều 184, Điều 200, Điều 202 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015); điểm e, khoản 1, Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015.
Từ khóa của án lệ:
“Yêu cầu phản tố”; “Xác định thời hiệu khởi kiện”.
1 Án lệ này do Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề xuất.
6 CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24/6/2010 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn
là Công ty cổ phần H do người đại diện trình bày:
Ngày 29/01/2008, Công ty cổ phần H và Công ty TNHH Thiết kế và Xây
dựng P ký Hợp đồng tư vấn thiết kế số 01-2008/PLC- HDC, với nội dung: Công ty
TNHH Thiết kế và Xây dựng P (bên Tư vấn) có trách nhiệm thiết kế toàn bộ Dự
án “Trung tâm Thương mại - Khách sạn 4 sao HD - Hotel” trên khu đất diện tích
8.971m2 tại D7, phường X, quận T, thành phố Hà Nội, do Công ty cổ phần H là
Chủ đầu tư. Tổng giá trị Hợp đồng là 1.754.550 USD (chưa bao gồm thuế giá trị
gia tăng), được phân bổ theo 3 giai đoạn thực hiện: Giai đoạn 1 - Thiết kế xây
dựng; Giai đoạn 2 - Thiết kế nội thất cảnh quan; Giai đoạn 3 - Giám sát tác giả.
Theo đó, Giai đoạn 1 (Thiết kế xây dựng), phí thiết kế là 1.191.822 USD
(được ký hiệu là A); phí giám sát tác giả là 62.728 USD (ký hiệu AA) được chia
làm 12 đợt (từ “Thanh toán lần 1” cho đến “Thanh toán lần 12”), trong đó:
- Thanh toán lần 1: 25% x A ngay sau khi ký Hợp đồng và bên Tư vấn đã
nộp Chứng thư Ngân hàng bảo lãnh Hợp đồng, các Hợp đồng bảo hiểm cho Chủ
đầu tư.
- Thanh toán lần 2: 5% x A sau khi nộp Hồ sơ thiết kế quy hoạch tổng mặt
bằng và phương án kiến trúc cho Chủ đầu tư và được Chủ đầu tư chấp thuận.
- Thanh toán lần 3: 10% x A sau khi nộp Hồ sơ thiết kế quy hoạch tổng mặt
bằng và phương án kiến trúc lên Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội hoặc các cơ quan
chức năng có thẩm quyền tương đương và Hồ sơ trên được thẩm tra phê duyệt.
Quá trình thực hiện ở Giai đoạn 1 (Thiết kế xây dựng), Công ty TNHH Thiết
kế và Xây dựng P đã giao nộp cho Công ty cổ phần H các Hợp đồng bảo hiểm,
Chứng thư Ngân hàng bảo lãnh Hợp đồng và Hồ sơ thiết kế quy hoạch tổng mặt
bằng và phương án kiến trúc của Dự án. Công ty cổ phần H đã chuyển tiền thanh
toán cho Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P được 02 đợt: Thanh toán lần 1
(25% x A và thuế giá trị gia tăng, theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 0081905 ngày
27/02/2008); thanh toán lần 2 (5% x A và thuế giá trị gia tăng, theo Hóa đơn giá trị
gia tăng số 0081909 ngày 18/8/2008). Tổng số tiền của 2 lần thanh toán nêu trên là
CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022 7
396.751,75 USD, tương đương với 6.374.689.675 đồng quy đổi theo tỷ giá
VND/USD tại thời điểm thanh toán. Sau đó, do thay đổi quy mô Dự án và hai bên
không thỏa thuận được với nhau về việc điều chỉnh giá trị hợp đồng cho thiết kế
mới nên Công ty cổ phần H đơn phương chấm dứt Hợp đồng và có tranh chấp với
Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P về giá trị thanh toán.
Công ty cổ phần H cho rằng ở đợt Thanh toán lần 1, Công ty cổ phần H đã tạm
ứng thanh toán thừa so với khối lượng công việc thực tế Công ty TNHH Thiết kế
và Xây dựng P đã thực hiện. Nay Công ty cổ phần H chỉ chấp nhận thanh toán cho
Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P số tiền chiếm khoảng 8% phí thiết kế xây
dựng (8% x A) cho cả 2 lần thanh toán (lần 1 và lần 2). Ngoài ra, Công ty cổ phần
H chấp nhận chịu khoản tiền phạt tương đương với 1% giá trị Hợp đồng do Công
ty cổ phần H đơn phương chấm dứt Hợp đồng. Do đó, Công ty cổ phần H khởi
kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P hoàn trả lại cho
Công ty cổ phần H số tiền mà Công ty cổ phần H đã thanh toán thừa cho Công ty
TNHH Thiết kế và Xây dựng P là 278.841,8 USD (sau khi đối trừ số tiền đã tạm
ứng với số tiền được thanh toán).
Bị đơn là Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P do người đại diện trình bày:
Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
đòi lại tiền của nguyên đơn với lý do đây là tiền Công ty cổ phần H đã thanh toán
cho Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P theo tiến độ thỏa thuận trong Hợp
đồng, không phải là tiền tạm ứng. Ngoài ra, Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng
P có Đơn phản tố, yêu cầu Công ty cổ phần H ngoài việc phải chịu khoản tiền phạt
tương đương với 1% giá trị Hợp đồng do đơn phương chấm dứt Hợp đồng, Công
ty cổ phần H phải tiếp tục thanh toán cho Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P
đợt Thanh toán lần 3 (10% phí thiết kế) do Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P
đã hỗ trợ xong về mặt kỹ thuật để phê duyệt Hồ sơ thiết kế của Dự án. Công ty
TNHH Thiết kế và Xây dựng P cho rằng việc không trình Hồ sơ thiết kế cho cấp
có thẩm quyền dẫn đến Hồ sơ thiết kế này không được phê duyệt là hoàn toàn do
lỗi của Công ty cổ phần H.
Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 01/2011/KDTM-ST ngày
20/6/2011, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội quyết định:
8 CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022
Chấp nhận đơn khởi kiện của Công ty cổ phần H đối với Công ty TNHH
Thiết kế và Xây dựng P. Buộc Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P phải hoàn
trả cho Công ty cổ phần H số tiền tạm ứng của Hợp đồng số 01-2008/PLC-HDC
ký ngày 29/01/2008 là 272.571,41 USD tương đương với 5.642.228.187 đồng. Bác
yêu cầu phản tố của Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P đối với Công ty cổ
phần H.
Ngày 01/7/2011, Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P kháng cáo toàn bộ
bản án sơ thẩm.
Tại Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 27/2011/KDTM-PT
ngày 21/9/2011, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:
Không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P. Giữ
nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.
Sau khi xét xử phúc thẩm, Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P có đơn đề
nghị giám đốc thẩm đối với bản án phúc thẩm nêu trên.
Tại Quyết định kháng nghị số 60/2014/KN-KDTM ngày 15/9/2014, Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm
số 27/2011/KDTM-PT ngày 21/9/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; đề
nghị Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm theo hướng hủy
bản án phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số
01/2011/KDTM-ST ngày 20/6/2011 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành
phố Hà Nội; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố
Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 18/2015/KDTM-GĐT ngày 26/3/2015, Tòa
Kinh tế Tòa án nhân dân tối cao quyết định: Hủy Bản án kinh doanh, thương mại
phúc thẩm số 27/2011/KDTM-PT ngày 21/9/2011 của Tòa án nhân dân thành phố
Hà Nội và Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 01/2011/KDTM-ST
ngày 20/6/2011 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; giao hồ
sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm
lại theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 32/2019/KDTM-ST ngày
25/11/2019, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội quyết định:
CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022 9
1. Bác yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần H đối với Công ty TNHH Thiết
kế và Xây dựng P về việc buộc Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P phải trả lại
cho Công ty cổ phần H số tiền 6.308.478.665 đồng.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Công ty TNHH Thiết kế và Xây
dựng P buộc Công ty cổ phần H thanh toán cho Công ty TNHH Thiết kế và Xây
dựng P (tính đến ngày 20/11/2019), số tiền cụ thể sau:
+) Tiền thanh toán lần 03 (theo Hợp đồng tư vấn thiết kế số 01/2008/PLC-
HDC ngày 29/01/2008): 1.599.420.000 đồng.
+) Tiền bồi thường (theo Điều 2.8.5b, điều kiện chung của Hợp đồng tư vấn
thiết kế số 01/2008/PLC-HDC ngày 29/01/2008) là: 406.704.690 đồng.
+) Tiền lãi của số tiền 1.599.420.000 đồng là 2.080.735.870 đồng.
Tổng cộng là: 4.086.860.560 đồng.
3. Ngoài số tiền Công ty cổ phần H phải thanh toán cho Công ty TNHH Thiết
kế và Xây dựng P như trên, Công ty cổ phần H còn phải thanh toán cho Công ty
TNHH Thiết kế và Xây dựng P số tiền lãi của số tiền 1.599.420.000 đồng kể từ
ngày 21/11/2019 cho đến khi thanh toán xong theo mức lãi suất chậm thanh toán
mà các bên đã thỏa thuận là 12%/năm.
4. Đối với số tiền bồi thường (theo Điều 2.8.5b, điều kiện chung của Hợp đồng
tư vấn thiết kế số 01/2008/PLC-HDC ngày 29/01/2008) là 406.704.690 đồng thì kể
từ ngày Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P có đơn yêu cầu thi hành án cho
đến khi Công ty cổ phần H thanh toán xong, Công ty cổ phần H còn phải thanh
toán tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
Điều 357. , Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo
của các đương sự.
Ngày 09/12/2019, Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P và Công ty cổ phần
H đều có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm nêu trên.
Tại Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 82/2020/KDTM-PT
ngày 15+19/6/2020, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:
Sửa Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 32/2019/KDTM-ST ngày
25/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm về cách tuyên đối với nghĩa vụ
chịu lãi chậm thi hành án.
10 CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần H đối với Công ty
TNHH Thiết kế và Xây dựng P về việc buộc Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P
phải trả lại số tiền 6.308.478.665 đồng.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Công ty TNHH Thiết kế và Xây
dựng P. Công ty cổ phần H phải thanh toán cho Công ty TNHH Thiết kế và Xây
dựng P các khoản: 1.599.420.000 đồng (tiền thanh toán giai đoạn 03 của Hợp đồng
tư vấn thiết kế) + 2.080.735.870 đồng (lãi suất chậm trả) + 406.704.690 đồng (tiền
phạt do đơn phương chấm dứt hợp đồng). Tổng cộng: 4.086.860.560 đồng.
Ngày 02/11/2020, Công ty cổ phần H có đơn đề nghị giám đốc thẩm đối với
bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.
Tại Quyết định kháng nghị số 02/KNGĐT-VC1-KDTM ngày 02/3/2021, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội kháng nghị Bản án kinh doanh,
thương mại phúc thẩm số 82/2020/KDTM-PT ngày 15+19/6/2020 của Tòa án nhân
dân thành phố Hà Nội; đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà
Nội hủy bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án kinh
doanh, thương mại sơ thẩm số 32/2019/KDTM-ST ngày 25/11/2019 của Tòa án
nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân quận
Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà
Nội đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội chấp nhận
kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tại Giấy ủy quyền ngày 01/10/2015 và Giấy ủy quyền
ngày 16/3/2016 thể hiện ông S là người đại diện theo pháp luật của Công ty
TNHH Thiết kế và Xây dựng P ủy quyền cho ông D và ông N tham gia tố tụng với
tư cách là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn. Tuy nhiên, theo kết quả xác
minh tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh tại Công văn số 9089/A72-P4 ngày
10/8/2015, Công văn số 14733/A72-P4 ngày 11/12/2015 và Công văn số
9443/QLXNC-P4 ngày 12/6/2019 xác định “ông S xuất cảnh ngày 18/10/2014,
không có thông tin liên quan đến nhập, xuất cảnh của ông S trong khoảng thời gian
từ 01/8/2015 đến ngày 07/6/2019”. Như vậy, có căn cứ xác định thời điểm ông S
ký giấy ủy quyền cho ông D, ông N tham gia tố tụng thì ông S không có mặt tại
CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022 11 \
Việt Nam. Trong trường hợp, các giấy ủy quyền này được lập, gửi về từ nước
ngoài thì theo quy định tại Điều 478 Bộ luật Tố tụng dân sự phải được công chứng,
chứng thực và hợp pháp hóa lãnh sự mới có giá trị pháp lý. Bên cạnh đó, việc xác
định vào thời điểm lập giấy ủy quyền, ông S đang ở Việt Nam hay ở nước ngoài
còn liên quan đến việc xem xét, xác định thẩm quyền giải quyết vụ án. Tòa án cấp
sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa làm rõ các nội dung này mà đã chấp nhận
giá trị và nội dung của giấy ủy quyền (trong khi nguyên đơn cũng có yêu cầu Tòa
án xác minh tính xác thực và tính hợp pháp của các giấy ủy quyền này) là vi phạm
nghiêm trọng tố tụng.
[2] Về yêu cầu phản tố, nhận định của Tòa án cấp phúc thẩm tại Bản án
số 82/2020/KDTM-PT về việc yêu cầu phản tố không bị giới hạn bởi thời hiệu
khởi kiện (tr. 15) là không đúng. Theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2004 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, yêu cầu phản tố là yêu cầu không
nằm trong yêu cầu của nguyên đơn, có thể được giải quyết bằng một vụ án độc lập;
việc giải quyết yêu cầu phản tố trong cùng vụ án là để kết quả giải quyết chính xác
và nhanh hơn. Yêu cầu phản tố cũng chính là yêu cầu khởi kiện nên phải tuân thủ
quy định về thời hiệu khởi kiện. Do đó, trường hợp có yêu cầu phản tố và có
đương sự trong vụ án đề nghị áp dụng thời hiệu khởi kiện thì Tòa án cấp sơ thẩm
và Tòa án cấp phúc thẩm phải xác định xem yêu cầu phản tố có còn thời hiệu khởi
kiện hay không mới đúng quy định pháp luật.
[3] Về nội dung: Theo Hợp đồng tư vấn thiết kế giữa hai bên, điều kiện để
được Thanh toán lần 3 là: “Sau khi nộp Hồ sơ thiết kế quy hoạch tổng mặt bằng và
phương án kiến trúc lên Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội hoặc các cơ quan chức
năng có thẩm quyền tương đương và Hồ sơ trên được thẩm tra phê duyệt”. Tài liệu
hồ sơ vụ án cho thấy, sau khi nhận được Công văn số 99-2008/CV- HĐ/QLDA
ngày 03/9/2008 của Công ty cổ phần H thông báo về việc dừng in bản vẽ thiết kế
do thay đổi quy mô Dự án (nâng số tầng), Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P
đã chấp thuận nội dung thông báo này của Công ty cổ phần H nên ngày 29/9/2008,
Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P đã gửi Văn bản số MLS/HD/29/9/08 về
việc “Chào giá thiết kế phí công trình khách sạn cao cấp H” để điều chỉnh giá cho
phương án thiết kế mới. Do không thỏa thuận được với nhau về việc điều chỉnh giá
trị hợp đồng nên Công ty cổ phần H đã đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời
hạn. Hai bên tranh chấp về việc giải quyết hậu quả của việc đơn phương chấm dứt
12 CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022
hợp đồng. Công ty cổ phần H cho rằng đã thanh toán thừa cho Công ty TNHH
Thiết kế và Xây dựng P số tiền 278.841,8 USD (sau khi đối trừ số tiền đã tạm ứng
với số tiền được thanh toán) nên khởi kiện đòi lại. Công ty TNHH Thiết kế và Xây
dựng P không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần H và có yêu cầu
phản tố buộc Công ty cổ phần H thanh toán tiền lần 3 theo hợp đồng và khoản tiền
phạt vi phạm. Thấy rằng, Công ty cổ phần H đã đơn phương chấm dứt hợp đồng
(theo quy định tại điểm g Điều 2.8.1 Phần II) nên theo điểm a Điều 2.8.5 Phần II
của Hợp đồng tư vấn thiết kế quy định: “Khi chấm dứt hợp đồng theo các
Điều 502. , Điều 503 Bộ luật Dân sự năm 2015);
- Khoản 1 Điều 106; điểm b khoản 1 Điều 129 Luật Đất đai năm 2003 (tương
ứng với khoản 1 Điều 95, khoản 3 Điều 167; khoản 1, 3 Điều 188 Luật Đất đai
năm 2013);
1Án lệ này do Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao đề xuất
84 CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022
- Điều 146 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về
thi hành Luật Đất đai năm 2003.
Từ khóa của án lệ:
“Tặng cho quyền sử dụng đất”; “Chưa đăng ký quyền sử dụng đất”; “Trở
ngại khách quan”; “Người tặng cho đã chết”; “Hợp đồng tặng cho có hiệu lực
pháp luật”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Tống Thị U (bà U) trình bày yêu cầu khởi kiện như sau:
Cha, mẹ bà Tống Thị U là cụ Tống Văn T (chết vào năm 2007) và cụ Nguyễn
Thị C1 (chết vào năm 2011), có 11 người con.
Vào năm 2007, cụ T chết, không có di chúc.
Vào ngày 16/11/2009, cụ C1 và những người con thỏa thuận lập văn bản phân
chia di sản thừa kế của cụ T. Theo sự thỏa thuận, cụ C1 được phân chia nhiều thửa
đất và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó có thửa số 257, tờ
bản đồ số 16, diện tích đất 4.149 m2 và các thửa số 6, 18, 31, 32, 51 và 52, tờ bản
đồ số 15, diện tích 12.883 m2 cùng tọa lạc tại khu phố X, phường Y, thị xã Z, tỉnh
Bình Dương.
Lợi dụng việc cụ C1 già yếu, bệnh tật, không còn minh mẫn và không biết
chữ, ông Tống Thanh V (ông V) đã lừa gạt, để cụ C1 ký vào duy nhất trang 03 của
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 14/6/2010. Cụ C1 không có mặt tại trụ
sở của Ủy ban nhưng Chủ tịch Ủy ban nhân nhân (UBND) thị trấn (nay là phường)
Y vẫn chứng thực vào hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
Sự việc chứng thực nói trên đã vi phạm quy định về công chứng, chứng thực.
Từ hợp đồng tặng cho xác lập trái pháp luật, ông V đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đối với diện tích đất 12.883 m2.
Hiện nay, thửa đất số 257 có diện tích 4.149 m2, vẫn do cụ C1 đứng tên là chủ
sử dụng.
Bà U khởi kiện, yêu cầu như sau:
- Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất có số chứng thực 111, quyển
1/2010TP/CC-SCT/HĐGD do Ủy ban nhân dân thị trấn (nay là phường) Y chứng
thực vào ngày 14/6/2010 là vô hiệu;
CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022 85
- Xác định phần đất có diện tích 9.839,9 m2 (đã trừ phần diện tích của ông
Tống Văn L1 và Tống Văn P1 đang sử dụng) thuộc các thửa 6, 18, 31, 32, 51 và 52
tờ bản đồ số 15 và phần đất có diện tích 3.786,1 m2 (theo kết quả đo đạc thực tế
ngày 08/3/2013) thuộc thửa số 257, tờ bản đồ số 16 tại phường Y, thị xã Z là di sản
do cụ C1 để lại;
- Phân chia di sản của cụ C1 để lại nói trên theo quy định của pháp luật; bà U
yêu cầu được nhận thừa kế bằng hiện vật.
Bị đơn ông Tống Thanh V (ông V) trình bày ý kiến như sau:
Cụ C1 đã tặng cho ông V tất cả những phần đất mà bà U nêu trên; việc tặng cho
được thực hiện bằng hợp đồng có chứng thực hợp pháp và hiện nay, ông V đã được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 12.883 m2
.
Sau khi được tặng cho đất, ông V đã phân chia lại cho các anh, chị, em khác
trong gia đình, mỗi người được một phần và đã chuyển nhượng cho một số người
bằng giấy viết tay. Hiện ông Tống Văn L1 (ông L1) sử dụng 1.597 m2 đất, ông
Tống Văn P1 (ông P1) sử dụng 2.418 m2 đất trong tổng số 12.883 m2 đất mà ông V
đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng; ông V đồng ý để ông L1 và ông P1 tiếp tục
sử dụng diện tích đất này.
Đối với phần đất thuộc thửa 257, sau khi hợp đồng tặng cho được chứng thực,
ông V đã nộp hồ sơ đăng ký sang tên quyền sử dụng đất nhưng cho đến nay, ông V
chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lý do là vì: do bản đồ tổng thể
khu vực này bị sai sót, Ủy ban nhân dân địa phương phải chỉnh sửa và tiếp sau đó,
phát sinh tranh chấp quyền sử dụng đất.
Những phần đất nói trên đều do ông V sử dụng từ khi cụ C1 còn sống cho
đến nay.
Theo ông V, quyền sử dụng đất diện tích 3.786,1 m2 thuộc thửa số 257, tờ bản
đồ số 16 tại phường Y không còn là di sản của cụ C1 vì đã chuyển nhượng cho
đương sự.
Vì vậy, ông V không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà U.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Tống Hữu H1 (ông H1), bà
Nguyễn Thị G (bà G) và ông Tống Văn P1 (ông P1) trình bày ý kiến như sau:
Quyền sử dụng diện tích đất 3.786,1 m2 thuộc thửa số 257, tờ bản đồ số 16 và
quyền sử dụng diện tích đất 9.839,9 m2 thuộc các thửa 6, 18, 31, 32, 51 và 52 tờ
86 CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022
bản đồ số 15 tại phường Y là di sản do cụ C1 để lại; yêu cầu Tòa án chia thừa kế
theo pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Tống Thị Thu T1 (bà T1) trình
bày ý kiến như sau:
Quyền sử dụng diện tích đất 3.786,1 m2 thuộc thửa số 257 là di sản do cụ C1 để
lại nên yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo quy định của pháp luật. Đối với quyền sử
dụng diện tích đất 9.839,9 m2 thuộc các thửa 6, 18, 31, 32, 51 và 52, cụ C1 đã tặng
cho ông V. Sau đó, ông V đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông V
đã phân chia đất cho bà T1 nên bà T1 không có yêu cầu gì đối với phần đất này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tống Thị N1 (bà N1), bà Tống Thị
N2 (bà N2), bà Tống Thị Kim A (bà A), bà Tống Thanh N3 (bà N3) và ông Tống
Phước T2 (ông T2) trình bày ý kiến như sau:
Những tài sản mà bà U yêu cầu chia nói trên, đã được cụ C1 tặng cho ông V
theo hai hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, được Ủy ban nhân dân thị trấn (nay
là phường) Y chứng thực vào ngày 14/6/2010. Do đó, các đương sự không yêu cầu
chia thừa kế. Trong trường hợp Tòa án có phân chia thừa kế, thì các đương sự
đồng ý giao di sản lại cho ông V.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Tống Văn L1 (ông L1) trình bày
ý kiến như sau:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông, bà nội của ông L1 để lại cho cha,
mẹ ông L1. Trong thời gian ông L1 tham gia cách mạng, cụ Tống Văn T (là anh
của ông L1) kê khai, đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau
đó, cụ T chia lại cho ông L1 phần đất mà hiện nay, ông L1 đang ở, có chiều dài 80 m
thuộc thửa 18 theo giấy viết tay ngày 10/12/2002; còn các phần đất tranh chấp
khác, ông L1 không liên quan gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị C2 (bà C2) và ông
Tống Thành T3 (ông T3) trình bày ý kiến như sau:
Bà C2 là vợ của ông V; anh T3 là con của ông V. Các đương sự không đồng ý
với yêu cầu khởi kiện của bà U.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Tống Ngọc L2 (chị L2) trình bày
ý kiến như sau:
CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022 87
Chị L2 là con của ông Tống Phước T2 và bà Nguyễn Thị H2; nếu là tài sản
của cha, mẹ thì chị L2 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Tống Thiên K1 (chị K1) trình
bày ý kiến như sau:
Chị K1 là con của ông Tống Văn L1; đương sự không có yêu cầu gì trong vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H2 (bà H2) trình bày
ý kiến như sau:
Bà H2 là vợ của ông Tống Phước T2; bà H2 không tranh chấp với ông V.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Thành L3 (anh L3)
trình bày ý kiến như sau:
Anh L3 là con của bà Tống Thanh N3; nếu là tài sản của bà N3, đề nghị Tòa án
giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Võ Văn T4 (ông T4) và anh Võ
Văn M (anh M) trình bày ý kiến như sau:
Ông T4 là chồng bà N2; anh M là con bà N2, ông T4 và anh M không đồng ý
với yêu cầu khởi kiện của bà U.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Tống Thị Tuyết N4 (chị N4) và
anh Tống Thành P2 (anh P2) trình bày ý kiến như sau:
Chị N4, anh P2 là con của ông Tống Văn P1 và bà Võ Thị B; nếu là tài sản của
cha, mẹ, thì đương sự không có yêu cầu gì.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Võ Thị B (bà B) trình bày ý kiến
như sau:
Ông Tống Văn P1, bà Nguyễn Thị K2, chị Tống Thị Tuyết N4, ông Tống
Thành P2, ông Tống Thanh T5, bà Tống Thị Mộng T6, bà Tống Thị Thùy D1 đồng
ý với ý kiến của bà B đã trình bày và đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà U.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn D2 (ông D2), bà Trương
Thị L4 (bà L4), bà Trần Thị Mộng T7 (bà T7), ông Nguyễn Văn C3 (ông C3), ông
Trương Đình P3 (ông P3), bà Phạm Thị T8 (bà T8), ông Hồ Bá H3 (ông H3), bà
Nguyễn Thị T9 (bà T9), ông Lê Chí V1 (ông V1), bà Võ Thị Thanh T10 (bà T10),
bà Lương Thị T11 (bà T11), ông Lương Thể T12 (ông T12), ông Nguyễn Đức T13
(ông T13), bà Lê Thị H4 (bà H4), bà Lương Thị M1 (bà M1), ông Lê Doãn T14
88 CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022
(ông T14), ông Lại Văn T15 (ông T15), bà Đỗ Thị H5 (bà H5) và bà Chu Thị Kim
X (bà X) cùng có ý kiến như sau:
Các đương sự đã nhận chuyển nhượng đất từ ông V bằng giấy viết tay, đã
thanh toán xong tiền và đã xây dựng nhà ở trên đất; việc chuyển nhượng là sự thỏa
thuận riêng với ông V. Nếu việc giải quyết vụ án này có ảnh hưởng đến quyền lợi
của mình thì các đương sự sẽ khởi kiện và tranh chấp với ông V bằng vụ án khác.
Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân thị xã Z, tỉnh Bình Dương trình
bày ý kiến như sau:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00091 và CH 00092 ngày
02/3/2010 do Ủy ban nhân dân huyện Z cấp cho cụ Nguyễn Thị C1 trên cơ sở thừa
kế quyền sử dụng đất; việc cấp giấy thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định
tại Điều 23 Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH0539 ngày 16/8/2010 do
Ủy ban nhân dân huyện Z cấp cho ông Tống Thanh V trên cơ sở nhận tặng cho
quyền sử dụng đất, được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 23
Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất.
Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân phường Y, thị xã Z, tỉnh Bình
Dương trình bày ý kiến như sau:
Theo yêu cầu của cụ Nguyễn Thị C1, công chức Tư pháp - Hộ tịch của Ủy ban
nhân dân thị trấn (nay là phường) Y đã đến nhà cụ C1 để giải thích và soạn thảo
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất theo mẫu quy định; công chức Tư pháp - Hộ
tịch có đọc lại toàn bộ nội dung hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho các bên
cùng nghe. Sau đó, cụ C1 và ông V ký tên, điểm chỉ vào hợp đồng trước mặt công
chức Tư pháp - Hộ tịch. Tại thời điểm kí tên, điểm chỉ, cụ C1 và ông V hoàn toàn
minh mẫn và tự nguyện, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp
luật. Sau khi các bên ký tên và điểm chỉ, Ủy ban nhân dân thị trấn (nay là phường)
Y đã lập thủ tục chứng thực hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, số chứng thực
là 111 và 112, quyển sổ 1.2010/TP/CC-SCT/HĐGD cùng ngày 14/6/2010 theo
đúng quy định của pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2019/DS-ST ngày 09/5/2019, Tòa án nhân
dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương quyết định như sau:
CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022 89
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tống Thị U đối
với bị đơn ông Tống Thanh V về tranh chấp về thừa kế tài sản.
Chia di sản của cụ Nguyễn Thị C1 là quyền sử dụng diện tích đất theo đo đạc
thực tế 3.786,1 m2 thuộc thửa số 257, tờ bản đồ số 16 tại khu phố X, phường Y, thị
xã Z đã được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) Z cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH00091 ngày
02/3/2010 đứng tên cụ Nguyễn Thị C1 như sau:
Bà Tống Thị U được hưởng di sản thừa kế là quyền sử dụng đất diện tích đất
344,1 m2.
Các thừa kế của ông Tống Văn H6 gồm bà Nguyễn Thị G, Tống Minh H7,
Tống Thị Kim T16, Tống Thị Kim P4, Tống Thị Kim L5 được hưởng di sản thừa kế
là quyền sử dụng đất diện tích đất 344,1 m2.
Bà Tống Thị Thu T1 được hưởng di sản thừa kế là quyền sử dụng đất diện tích
đất 344,1 m2.
Ông Tống Văn P1 được hưởng di sản thừa kế là quyền sử dụng đất diện tích
đất 344,1 m2.
Ông Tống Hữu H1 được hưởng di sản thừa kế là quyền sử dụng đất diện tích
đất 344,1 m2.
Ông Tống Thanh V, bà Tống Thị N1, bà Tống Thị N2, bà Tống Thị N3, ông
Tống Phước T2 và bà Tống Thị Kim A mỗi người được hưởng di sản thừa kế là
quyền sử dụng đất diện tích đất 344,1 m2.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Tống Thị N1, bà Tống Thị N2, bà Tống Thị N3,
ông Tống Phước T2 và bà Tống Thị Kim A về việc giao kỷ phần được hưởng cho
ông Tống Thanh V. Như vậy, kỷ phần ông V được hưởng di sản thừa kế là quyền
sử dụng đất diện tích đất 2.065,6 m2.
Đối với cây trồng có trên đất của ai thì người đó quản lý, sử dụng.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tống Thị U về việc
yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, số chứng thực là 111,
quyển sổ 1/2010/TP/CC-SCT/HĐGD do Ủy ban nhân dân thị trấn (nay là phường)
Y chứng thực ngày 14/6/2010 vô hiệu; xác định diện tích 9.839,9 m2 thuộc các
thửa 6, 18, 31, 32, 51 và 52, tờ bản đồ số 15 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số CH00539 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) Z cấp ngày 16/8/2010
90 CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022
cho ông Tống Thanh V là di sản của cụ Nguyễn Thị C1 và chia di sản do cụ
Nguyễn Thị C1 là quyền sử dụng diện tích đất 9.839,9m2, thuộc các thửa 6, 18, 31,
32, 51 và 52 tờ bản đồ số 15 tại phường Y, thị xã Z, tỉnh Bình Dương.
3. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tống Thị U đối với
phần diện tích 1.597 m2 thuộc thửa 18 và diện tích 2.418 m2 thuộc thửa số 6 tại
phường Y, thị xã Z, tỉnh Bình Dương.
Ngoài ra, Tòa án còn tuyên về án phí, chi phí đo đạc, định giá, giám định,
trách nhiệm chậm thi hành và quyền kháng cáo của các đương sự.
Vào ngày 20/5/2019, ông Tống Thanh V kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ
thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà U.
Vào ngày 22/5/2019, bà U kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của đương sự.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 276/2019/DS-PT ngày 27/11/2019, Tòa án
nhân dân tỉnh Bình Dương quyết định như sau:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Tống Thị U, bị đơn
ông Tống Thanh V.
Sửa một phần bản án sơ thẩm (về phần án phí) các nội dung khác của Bản án
dân sự sơ thẩm số 17/2019/DS-ST ngày 09/5/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Tân
Uyên, tỉnh Bình Dương giữ nguyên.
Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn tuyên về án phí, quyền và nghĩa vụ thi
hành án, hiệu lực của bản án.
Vào ngày 06/01/2020, ông Tống Thanh V có đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.
Tại quyết định kháng nghị số 96/2020/KN-DS ngày 22/6/2020, Chánh án Tòa
án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị một phần bản án dân
sự phúc thẩm nêu trên; đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí
Minh xét xử giám đốc thẩm hủy một phần bản án dân sự phúc thẩm về phần chia
di sản của cụ Nguyễn Thị C1 là quyền sử dụng diện tích đất (theo đo đạc thực tế)
là 3.786,1m2 thuộc thửa số 257, tờ bản đồ số 16 tại khu phố X, phường Y, thị xã Z,
tỉnh Bình Dương; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử
lại theo thủ tục phúc thẩm.
CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022 91
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố
Hồ Chí Minh đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố
Hồ Chí Minh chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh, hủy một phần bản án dân sự phúc thẩm về phân chia di
sản của bà Nguyễn Thị C1 là quyền sử dụng diện tích đất (theo đo đạc thực tế) là
3.786,1m2 thuộc thửa số 257, tờ bản đồ số 16 tại khu phố X, phường Y, thị xã Z,
tỉnh Bình Dương; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử
lại theo thủ tục phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Cụ Tống Văn T (chết vào năm 2007) và cụ Nguyễn Thị C1 (chết vào ngày
08/9/2011), là vợ chồng, có 11 người con, kể ra như sau: Bà Tống Thị U (là
nguyên đơn), ông Tống Thanh V (là bị đơn), ông Tống Văn P1, ông Tống Văn H6
(chết vào ngày 18/02/2012, có vợ là bà Nguyễn Thị G và có những người con như
sau: Tống Minh H7, Tống Thị Kim T16, Tống Thị Kim P4, Tống Thị Kim L5), bà
Tống Thị N1, ông Tống Hữu H1, bà Tống Thị N2, bà Tống Thị Kim A, bà Tống
Thanh N3, ông Tống Phước T2, bà Tống Thị Thu T1.
[2] Sau khi cụ T chết (năm 2007), vào ngày 16/11/2009, cụ C1 và những người
con (của cụ T, cụ C1) lập văn bản, thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế là quyền sử
dụng đất; văn bản có sự chứng thực của Ủy ban nhân dân thị trấn Y, huyện Z, tỉnh
Bình Dương vào cùng ngày 16/11/2009.
[3] Theo văn bản phân chia tài sản thừa kế nói trên, cụ C1 được chia 03 phần
đất tại thị trấn Y, gồm có: (a) 854m2 đất thuộc các thửa số 31, 32, 51 tờ bản đồ số
15; (b) 17.762m2 đất thuộc các thửa số 06, 108, 109, 110, 115, 18, 52, 128, 129,
135, 136, 35, 38, 40, 54, 55 tờ bản đồ số 15, 16; (c) 4.119m2 đất thuộc thửa 257, tờ
bản đồ số 16.
[4] Sau khi được chia tài sản nói trên, cụ C1 đã kê khai, đăng ký và được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 02/3/2010. Như vậy, kể từ ngày được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp, các phần đất này trở thành tài
sản riêng của cụ C1 và đương sự có quyền định đoạt đối với số tài sản này theo
quy định của pháp luật dân sự.
[5] Xét, vào cùng ngày 14/6/2010, cụ C1 lập 02 hợp đồng để tặng cho ông V
02 phần đất trong số tài sản nói trên, như sau: Phần đất thứ nhất có diện tích
92 CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022
12.883m2 thuộc các thửa 6, 18, 31, 32, 51, 52 tờ bản đồ số 15 thị trấn Y; Phần đất
thứ hai có diện tích 4.119m2 thuộc thửa 257 tờ bản đồ số 16 thị trấn Y. Hai hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất đều được Ủy ban nhân dân thị trấn Y chứng thực
hợp pháp vào cùng ngày 14/6/2010.
[6] Sau khi được tặng cho quyền sử dụng đất, ông V đã thực hiện các thủ tục
hành chính theo quy định của pháp luật để chuyển tên chủ sử dụng đất từ cụ C1
sang cho đương sự. Vào ngày 16/8/2010, ông V đã được Ủy ban nhân dân huyện Z
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với phần đất có diện tích 12.883m2 thuộc
các thửa 6, 18, 31, 32, 51, 52 tờ bản đồ số 15 thị trấn Y (giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số CH00539 ngày 16/8/2010). Trong phần đất này, phía bà U chỉ đòi chia
thừa kế đối với diện tích đất 9.839,9m2 (bởi vì bà U đồng ý trừ ra diện tích đất còn
lại mà ông V đã phân chia cho ông L1 và ông P1).
[7] Đối với phần đất có diện tích 4.119m2 thuộc thửa 257, tờ bản đồ số 16, thị
trấn Y (theo kết quả đo đạc thực tế vào ngày 08/3/2013 của Tòa án cấp sơ thẩm,
diện tích đất là 3.786,1m2), hiện nay ông V vẫn chưa được đứng tên là chủ sử dụng
đất. Lý do ông V nêu ra là, sau khi nộp hồ sơ kê khai, đăng ký để chuyển tên từ cụ
C1 sang cho đương sự, thì Ủy ban nhân dân địa phương cần chỉnh sửa bản đồ tổng
thể đất đai và tiếp sau đó, có sự tranh chấp từ phía bà U, nên việc chuyển tên chưa
thực hiện được cho đến nay.
[8] Xét, đối với phần đất có diện tích 12.883m2 thuộc các thửa 6, 18, 31, 32,
51, 52 tờ bản đồ số 15 thị trấn Y (trong phần đất này, phía bà U chỉ đòi chia thừa
kế đối với diện tích đất 9.839,9m2 bởi vì bà U đồng ý trừ ra diện tích đất còn lại mà
ông V đã phân chia cho ông L1 và ông P1):
[9] Theo văn bản phân chia tài sản thừa kế ngày 16/11/2009 và hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất ngày 14/6/2010, thì phần đất này là tài sản riêng của cụ C1
đã tặng cho ông V và ông V đã được Ủy ban nhân dân huyện Z cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất hợp pháp vào ngày 16/8/2010 (Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số CH00539 ngày 16/8/2010).
[10] Khi giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác
định rằng phần đất có diện tích 12.883m2 thuộc các thửa 6, 18, 31, 32, 51, 52 tờ
bản đồ số 15 thị trấn Y là tài sản hợp pháp của ông V, không chấp nhận yêu cầu
chia thừa kế đối với phần đất này là có căn cứ pháp luật.
CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022 93
[11] Xét, đối với phần đất có diện tích 4.119m2 thuộc thửa 257 tờ bản đồ số 16,
thị trấn Y (theo kết quả đo đạc thực tế vào ngày 08/3/2013 của Tòa án cấp sơ thẩm,
diện tích đất là 3.786,1m2):
[12] Tại thời điểm xác lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày
14/6/2010 (từ cụ C1 chuyển cho ông V), Bộ luật Dân sự năm 2005 có hiệu lực
pháp luật.
[13] Điều 692 của Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về hiệu lực của giao dịch
chuyển quyền sử dụng đất như sau: “Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể
từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai”.
[14] Như vậy, về mặt pháp lý, cho đến khi người nhận chuyển quyền sử dụng
đất (theo giao dịch tặng cho) chưa kịp đăng ký quyền sử dụng đất cho mình, mà
người chuyển quyền sử dụng đất đã chết, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất sẽ
không có hiệu lực pháp luật.
[15] Nếu xét theo lập luận nói trên, việc Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp
phúc thẩm xác định rằng phần đất có diện tích 4.119m2 thuộc thửa 257, tờ bản đồ
số 16, thị trấn Y, cho đến nay vẫn là di sản của cụ C1 chưa chuyển dịch cho ông V
và chấp nhận yêu cầu thừa kế tài sản, là đúng.
[16] Xét về bản chất pháp lý, hợp đồng tặng cho tài sản là loại hợp đồng đơn
vụ, nghĩa là trong loại hợp đồng này, chỉ một bên có nghĩa vụ đối với bên kia. Vì
thế, trong một số trường hợp như trường hợp cụ thể nói trên (người được tặng cho
quyền sử dụng đất chưa kịp đăng ký quyền sử dụng đất cho mình, mà người tặng
cho quyền sử dụng đất đã chết), Tòa án có thể xem xét và công nhận hiệu lực pháp
luật của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất xác lập vào ngày 14/6/2010 khi xác
định rằng hợp đồng này là văn bản thể hiện ý chí sau cùng của cụ C1 đối với tài
sản của đương sự, là văn bản thể hiện quyền định đoạt tài sản của đương sự trước
khi chết, vì đã có những điều kiện cần và đủ như sau:
[17] Hợp đồng đã thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật về
quyền tặng cho quyền sử dụng đất;
[18] Cho đến khi chết, người tặng cho tài sản không có văn bản nào để thay thế
hợp đồng tặng cho tài sản đã ký kết trước đó và không có hành động nào thể hiện
sự thay đổi ý chí đã thể hiện tại hợp đồng tặng cho tài sản đã ký kết;
94 CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022
[19] Người được tặng cho tài sản không thực hiện được việc đăng ký tài sản
(quyền sử dụng đất) là do trở ngại khách quan về thủ tục hành chính (hoặc do trở
ngại khách quan khác), không phải do ý chí chủ quan của người tặng cho tài sản.
[20] Về mặt thực tế, ông V là người đã chiếm hữu, quản lý, sử dụng phần đất
được tặng cho kể từ khi cụ C1 còn sống cho đến nay bởi vì đương sự là người con
út, sống với cụ T, cụ C1 từ nhỏ cho đến khi cụ T, cụ C1 chết.
[21] Lập luận nói trên cũng đã được Tòa án nhân dân tối cao thừa nhận tại
quyết định kháng nghị số 470/2013/KN-DS ngày 03/10/2013 và quyết định giám
đốc thẩm số 76/2014/DS-GĐT ngày 05/3/2014 của Tòa Dân sự Tòa án nhân dân
tối cao khi giải quyết trường hợp tương tự (vụ án tranh chấp về hợp đồng tặng cho
tài sản giữa nguyên đơn là bà Đoàn Việt T17; bị đơn là ông Đoàn Phong B1 và ông
Đoàn Văn K3 xảy ra tại tỉnh Cà Mau).
[22] Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đều chưa đánh giá
đúng và toàn diện các tài liệu, chứng cứ, cũng như chưa thu thập đầy đủ các tài
liệu, chứng cứ để xét xử đúng về việc tranh chấp phần đất có diện tích 4.119m2
thuộc thửa 257, tờ bản đồ số 16, thị trấn Y, huyện Z, tỉnh Bình Dương, theo sự
phân tích nói trên. Do đó, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh hủy phần bản án phúc thẩm giải quyết về việc tranh chấp phần
đất có diện tích 4.119m2 thuộc thửa 257 tờ bản đồ số 16 thị trấn Y, huyện Z, tỉnh
Bình Dương, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại theo thủ tục
phúc thẩm.
[23] Khi xét xử lại vụ án, nếu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất xác lập
vào ngày 14/6/2010 giữa cụ C1 (bên tặng cho) và ông V (bên được tặng cho) có đủ
các điều kiện cần và đủ liệt kê dưới đây, thì phải công nhận hiệu lực của hợp đồng;
các điều kiện đó là:
[24] Hợp đồng đã thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật về
quyền tặng cho quyền sử dụng đất;
[25] Cho đến khi chết, người tặng cho tài sản không có văn bản nào để thay thế
hợp đồng tặng cho tài sản đã ký kết trước đó và không có hành động nào thể hiện
sự thay đổi ý chí đã thể hiện tại hợp đồng tặng cho tài sản đã ký kết;
[26] Người được tặng cho tài sản không thực hiện được việc đăng ký tài sản
(quyền sử dụng đất) là do trở ngại khách quan về thủ tục hành chính (hoặc do trở
ngại khách quan khác), không phải do ý chí chủ quan của người tặng cho tài sản.
CÔNG BÁO/Số 125 + 126/Ngày 22-01-2022 95
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 325; Điều 334; Điều 337; Điều 342 và Điều 343 của Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015;
1. Chấp nhận kháng nghị số 96/2020/KN-DS ngày 22/6/2020 của Chánh án
Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 276/2019/DS-PT ngày 27/11/2019 của Tòa
án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử vụ án “Tranh chấp về thừa kế tài sản; tranh
chấp về yêu cầu tuyên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu” giữa nguyên
đơn là bà Tống Thị U; bị đơn là ông Tống Thanh V, về phần giải quyết tranh chấp
phần đất có diện tích 4.119m2 thuộc thửa 257, tờ bản đồ số 16, thị trấn Y, huyện Z,
tỉnh Bình Dương (theo kết quả đo đạc thực tế vào ngày 08/3/2013 của Tòa án cấp
sơ thẩm, diện tích đất là 3.786,1m2).
2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử lại theo thủ
tục phúc thẩm đối với bản án bị hủy nói trên.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“[23] Khi xét xử lại vụ án, nếu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất xác lập
vào ngày 14/6/2010 giữa cụ C1 (bên tặng cho) và ông V (bên được tặng cho) có đủ
các điều kiện cần và đủ liệt kê dưới đây, thì phải công nhận hiệu lực của hợp
đồng; các điều kiện đó là:
[24] Hợp đồng đã thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật về
quyền tặng cho quyền sử dụng đất;
[25] Cho đến khi chết, người tặng cho tài sản không có văn bản nào để thay
thế hợp đồng tặng cho tài sản đã ký kết trước đó và không có hành động nào thể
hiện sự thay đổi ý chí đã thể hiện tại hợp đồng tặng cho tài sản đã ký kết;
[26] Người được tặng cho tài sản không thực hiện được việc đăng ký tài sản
(quyền sử dụng đất) là do trở ngại khách quan về thủ tục hành chính (hoặc do trở
ngại khách quan khác), không phải do ý chí chủ quan của người tặng cho tài sản.”
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.