|
Trăm năm trong cơi người ta: Câu này ư nói: Người có tài th́ thường gặp mệnh bạc h́nh như Tài, Mệnh ghét nhau, xung khắc với nhau, hễ được hơn cái này th́ phải chịu kém cái kia. Đây là quan niệm “số mệnh” sai lầm của người xưa. bể dâu: Sách Thần tiên truyện chép lời Ma Cô, một tiên nữ, như sau: Dĩ kiến Đông hải tam vi tang điền. (Ta đă ba lần thấy biển Đông biến thành nương dâu), do đó, trong văn chương cổ của ta thường dùng thành ngữ “băi bể nương dâu”, hoặc nói tắt là “bể dâu” để chỉ những sự biến đổi của cuộc đời. bỉ sắc tư phong: Cái kia kém th́ cái này hơn, nghĩa là: được hơn điều này th́ bị kém điều kia. ở đây ư nói: đă hơn Tài th́ ắt kém Mệnh. hồng nhan: Tạo vật đố hồng nhan (Tạo hoá ghen với người đàn bà đẹp). ư nói: người đàn bà đẹp thường gặp cảnh ngộ không hay. cảo thơm hay kiểu thơm: Do chữ Phương cảo, nghĩa là pho sách thơm, pho sách hay. phong t́nh: Truyện ái t́nh trai gái. phong t́nh có lục: Có bản truyện phong t́nh. sử xanh: Do chữ thanh sử. ở Trung Quốc thời xưa, khi chưa biết chế ra giấy, người ta chép sử bằng cách khắc chữ vào những thanh trúc, cật trúc màu xanh, nên gọi là thanh sử. Gia tĩnh: Niên hiệu vua Thế tông, nhà Minh (1522-1566) hai kinh: Tức Bắc kinh và Nam kinh (Trung-quốc) viên ngoại: Một chức quan giữ việc sổ sách tại các bộ, đặt ra từ đời Lục triều. Viên ngoại nguyên có thực chức, nhưng là ngoại ngạch, về sau có thể bỏ tiền ra mua được, do đó “Viên ngoại” dần dần trở thành một hư hàm. Chữ “Viên ngoại” ở đây được dùng theo nghĩa này. chữ: tức là tên chữ, do chữ Hán là “tự”. Theo lễ nghi Trung-quốc xưa, người nào cũng có “danh” là tên chính, và “tự” là tên chữ (“danh” đặt từ khi mới sinh ra, c̣n “tự” th́ đến tuổi trưởng thành mới dựa theo “danh” mà đặt ra. “Danh” với “tự” khác nhau, nhưng trong văn chương, nhiều khi dùng không phân biệt. Chữ “chữ” ở đây có nghĩa như tên họ). Tố nga: theo truyền thuyết xưa, cung trăng có Hằng Nga, trăng sắc trắng nên gọi là “Tố nga”. Trong văn thơ cổ, người ta thường dùng chữ “tố nga” để chỉ người con gái đẹp. Mai cốt cách, tuyết tinh thần: Câu này chiếu xuống ư “mỗi người một vẻ” ở câu dưới, ư nói Thuư Kiều và Thuư Vân mỗi người có một vẻ riêng ví như mai có “cốt cách” của mai, tuyết có “tinh thần” của tuyết vậy. khuôn trăng: Khuôn mặt nét ngài: Nét lông mày. Ngài: Con ngài, tức con bướm tằm, ở đầu nó có hai cái râu, dài, thanh, cong cong h́nh bán nguyệt. Lông mày người con gái đẹp trông giống cái râu ngài, nên người ta thường gọi là “mày ngài”. thốt: Tiếng cổ, nghĩa là nói. hoa cười ngọc thốt: Miệng cười tươi như hoa nở, giọng nói trong như tiếng ngọc chạm vào nhau. thu thuỷ: nước mùa thu. Xuân sơn: Núi mùa xuân. Câu này v́ mắt Kiều trong sáng như làn nước mùa thu, lông mày xanh, đẹp như màu núi mùa xuân Một hai nghiêng nước nghiêng thành: Bài ca của Lư Diên Niên, đời Hán, ca ngợi sắc đẹp của một mỹ nhân có câu: "Nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc". Nghĩa là: "Quay lại nh́n một lần th́ làm nghiêng thành người, Quay lại nh́n lần nữa th́ làm nghiêng nước người". Do đó, người sau thường dùng chữ nghiêng nước (khuynh quốc), nghiêng thành (khuynh thành) để chỉ sắc đẹp phi thường của phụ nữ. Hai chữ "một hai" trong câu này là dịch mấy chữ nhất cố, tái cố ở trên (có sách chép là nhất tiếu, tái tiếu: một lần cười, hai lần cười) Sắc đành đ̣i một, tài đành hoạ hai: Câu này có nghĩa là về “sắc” th́ chỉ có một ḿnh Kiều là nhất, c̣n về “tài” th́ may lắm mới có người thứ hai. cung, thương: Tên hai âm đứng đầu năm âm (ngũ âm) trong cung bậc nhạc cổ của Trung-quốc: Cung, thương, giốc, chuỷ, vũ hồ cầm: Một loại đàn tỳ bà. hồ cầm một chương: một cây đàn hồ cầm. bạc mệnh: Tên bản đàn do Thuư Kiều sáng tác. “Bạc mệnh” nghĩa là số mệnh bạc bẽo, mỏng manh. hồng quần: Cái quần màu hồng. Phụ nữ Trung-quốc thời xưa thường mặc quần hồng, v́ thế hai chữ này được dùng để chỉ nữ giới. cập kê: Nghĩa là đến tuổi cài trâm (kê nghĩa là cài trâm). Theo lễ cổ Trung-quốc, con gái đến khoảng mười lăm tuổi th́ hứa gả chồng nên bắt đầu búi tóc cài trâm. tường đông: bức tường nhà xóm đông. Bài Đăng Đồ tử hiếu sắc phú của Tống Ngọc đời chiến quốc có câu: Thiên hạ chi giai nhân, mạc nhược Sở quốc, Sở quốc chi lệ giả, mạc nhược thần lư, thần lư chi mỹ giả, mạc nhược thần đông gia chi tử... (người đẹp trong thiên hạ, không đâu bằng nước Sở, người đẹp trong nước Sở, không đâu bằng làng thần, người đẹp trong làng thần không ai bằng người con gái nhà xóm đông...). Do đó, người sau thường dùng chữ “đông gia, đông lân” (nhà đông, xóm đông) để chỉ nơi có con gái đẹp ở. Đường thi có câu: Đông lân Tống Ngọc tường (tường nhà xóm đông của Tống Ngọc). con én đưa thoi: Cảnh mùa xuân có chim én bay đi bay lại như chiếc thoi đưa, tác giả nhân đó đặt thành câu văn tả cảnh, để diễn ư thời gian ngày xuân thấm thoắt qua nhanh. thiều quang: ánh sáng tươi đẹp, chỉ tiết mùa xuân. Mùa xuân có 90 ngày (ba tháng), mà đă ngoài 60, tức là đă bước sang tháng ba. thanh minh: Theo âm lịch Trung-quốc: Một năm chia làm bốn mùa, mỗi mùa chia làm sáu “tiết”. Thanh minh là một tiết của mùa xuân nhằm vào đầu tháng ba. tảo mộ: Quét mồ. Theo tục cổ, đến tiết Thanh minh con cháu đi viếng và sửa sang lại phần mộ của cha mẹ tổ tiên. đạp thanh: Giẫm lên cỏ xanh, chỉ việc trai gái đi chơi xuân, giẫm lên cỏ xanh ngoài đồng do đó mà gọi hội Thanh minh là hội Đạp thanh. yến anh: Chim yến (én), chim anh (cũng đọc là oanh), hai loài chim về mùa xuân, thường bay ríu rít từng đàn. Đây ví với cảnh từng đoàn người rộn ràng đi chơi xuân. ngựa xe như nước: Ngựa xe qua lại như nước chảy, hết lớp này đến lớp khác. áo quần như nen: Chưa thực rơ nghĩa. ư nói người đông đúc, chen chúc. Ngổn ngang g̣ đống kéo lên: Từng đoàn người kéo nhau lên nơi g̣ đống. vàng vó: Một loại vàng giấy, dùng trong việc đưa ma hoặc lễ mộ (tục cổ). tiểu khê: Ng̣i nước nhỏ. ca nhi: Con hát. Xôn xao ngoài cửa hiếm ǵ yến anh: "yến anh" ở đây chỉ những khách làng chơi. hồng nhan: Sắc mặt đỏ, má hồng, chỉ người đẹp. cành thiên hương: Cành hoa thơm của trời, ví với người đẹp. Trong văn thơ cổ người ta thường dùng chữ “quốc sắc thiên hương” (sắc nước hương trời) để chỉ người con gái có nhan sắc đẹp và phẩm giá cao. trâm găy b́nh rơi: ư nói người đẹp đă chết. dấu xe ngựa: Chỉ dấu vết xe ngựa của những khách đến chơi bời khi trước. bấy: Tiếng cổ, nghĩa là biết bao... chút đích: Nghĩa cũng như “chút đỉnh”. nếp tử xe châu: Quan tài bằng gỗ tử và xe đưa đám tang có rèm hạt châu. ư nói người khách mua quan tài và thuê xe tang để chôn cất Đạm Tiên. bụi hồng: Do chữ hồng trần, nghĩa là đám bụi đỏ, trong văn học cổ thường dùng chữ “bụi hồng” để chỉ cuộc đời phồn hoa náo nhiệt. Câu này, vừa có nghĩa đen chỉ nấm mộ nằm bên đường, vừa có nghĩa bóng là một nấm mộ lưu lại trong cơi trần. thỏ: Con thỏ, do chữ ngọc thỏ (thỏ ngọc), chỉ mặt trăng. ác: con quạ, do chữ kim ô (quạ vàng) chỉ mặt trời. Người xưa cho rằng trong mặt trăng có con thỏ giă thuốc, trong mặt trời có con quạ vàng ba chân. châu: Hạt ngọc châu, đây chỉ nước mắt. Theo sách Thuật dị kư: ở bể Nam có giống người gọi là giao nhân, ở dưới nước như cá, biết khóc, nước mắt chảy ra, hoá thành hạt ngọc châu. hoá công: Thợ tạo hoá, tức là trời. Người xưa ví trời như một người thợ, tạo ra muôn vật, rồi lại hoá đi... phượng: Chim phượng trống. Loan: chim phượng mái. Trong văn cổ, dùng “loan phượng” để chỉ đôi lứa vợ chồng. ở đây chỉ khách làng chơi đi lại, chung chạ ái ân với Đạm Tiên ngày trước. tiếc lục tham hồng: Tiếc màu lục, ham màu hồng: ư nói luyến tiếc, ham mê sắc đẹp của giai nhân. suối vàng: Do chữ hoàng tuyền, ở dưới đất có mạch suối và đất màu vàng, nên gọi là hoàng tuyền. vận vào: ư nói lời nào cũng như ám chỉ vào ḿnh. âm khí: Khí âm, khí lạnh lẽo, ảm đạm chỉ không khí băi tha ma. thể: Thể xác (hữu h́nh). Phách: Chỉ những cái ǵ vô h́nh, chỉ dựa vào thể xác mà tồn tại. Chữ thể phách ở đây chỉ chung thể xác con người. hiển linh: Tỏ sự linh thiêng cho mọi người biết. tinh thành: Ḷng thành thuần khiết, ḷng chí thành. u hiển: U là tối, chỉ cơi chết. Hiển là sáng rơ, chỉ cơi sống. ư nói: Chớ nề kẻ sống, người chết, kẻ cơi âm, người cơi dương. tay khấu: Tay cầm cương ngựa. ư nói buông lỏng dây cương cho ngựa đi thong thả. dặm băng: Như nói dặm đường đi. Băng là lướt đi (chứ không phải là dặm đi băng, đi tắt). Đề huề lưng túi gió trăng: Câu này hàm ư nói phong thái tao nhă của chàng “văn nhân” Kim Trọng. câu: Con ngựa non. Gịn: hàm ư non trẻ, xinh đẹp. tự t́nh: Chuyện tṛ, bày tỏ tâm t́nh. hài văn: Thứ giày thêu mà nho sĩ thời xưa thường dùng. dặm xanh: Dặm cỏ xanh. cây quỳnh, cành giao: Cây ngọc quỳnh và cành ngọc giao. ư nói vẻ khôi ngô tuấn tú của Kim Trọng như cây ngọc đẹp nổi bật giữa một vùng phong cảnh ấy. hai Kiều: Hai người con gái xinh đẹp, tức hai chị em Thuư Kiều. trâm anh: Trâm là cái trâm để cài búi tóc, anh là cái dải mũ, hai thứ dùng trang sức cho cái mũ đội của người sĩ tử, quan chức. Nhà trâm anh: Nhà thế tộc phong kiến, có người đỗ đạt, làm quan. phú hậu: Giàu có. nết đất: Theo lối nhà, theo ḍng dơi trong nhà. đồng thân: Bạn cùng học, như nói đồng học, đồng song. hương lân: Làng xóm. Đây dùng như nghĩa lân cận (gần quanh). Đồng-tước: Đời Tam quốc, Tào Tháo đào sông Chương-hà, bắt được một con chim sẻ bằng đồng, bèn cho xây ở gần đó một toà lâu đài, đặt tên là đài Đồng-tước (sẻ đồng), và định là hễ đánh thắng Đông Ngô th́ bắt hai chị em Đại Kiều và Tiểu Kiều (là vợ Tôn Sách và vợ Chu Du) đem về đấy để vui thú cảnh già. Khoá xuân ở đây là khoá kín tuổi xuân, tức cấm cung. Hai Kiều tức Đại Kiều, Tiểu Kiều. ở đây tác giả mượn điển cũ để nói bóng rằng: nhà họ Vương có hai cô gái đẹp cấm cung. buồng thêu: Buồng người con gái. Do chữ tú pḥng, tú khuê. Tú là vóc, thêu. ư nói pḥng ở của phụ nữ trang sức đẹp đẽ như gấm vóc. (Thêu ở đây không phải là thêu thùa). giải cấu tương phùng: Cuộc gặp gỡ t́nh cờ. đố lá: Hội đố lá, c̣n gọi là diệp hư, một tục chơi xuân có từ đời nhà Đường. Vào khoảng tháng ba, trai gái đi du xuân, bẻ một cành cây rồi đố nhau xem số lá chẵn hay lẻ để đoán việc may rủi. Đây là dịp tốt để họ làm quen và t́m hiểu nhau. bóng hồng: Bóng người con gái. xuân lan, thu cúc: Hai chị em Kiều, mỗi người có một vẻ đẹp riêng, người như lan mùa xuân, người như cúc mùa thu. quốc sắc: Sắc đẹp nhất nước. Chỉ Thuư Kiều. chỉn khôn: Tiếng cổ, nghĩa là vốn chẳng xong. gương nga: Tức là mặt trăng. Theo truyền thuyết xưa, trong cung trăng có chị Hằng Nga, nên thường gọi trăng là “gương nga”. đông lân: Xóm bên đông. Người mà đến thế th́ thôi: "người mà" tức chỉ Đạm Tiên. Người đâu gặp gỡ làm chi: "người đâu" tức chỉ Kim Trọng. triện: lan can. sen vàng: Chỉ gót chân người đẹp. Đông Hôn Hầu, đời Tề (Nam Bắc triều), rất yêu quư nàng quí phi họ Phan, từng đúc hoa sen bằng vàng lát xuống nền nhà, để cho nàng đi lên rồi khen rằng: “Bộ bộ sinh liên hoa” (mỗi bước đi nở ra một hoa sen). lăng đăng: Tiếng cổ, như nói lửng đửng, đi từ từ chậm chạp. đào nguyên: Nguồn đào, nơi tiên ở. Đời Tấn, một người đánh cá chèo thuyền ngược theo một ḍng suối đi măi tới một khu rừng trồng toàn đào, thấy nơi đó có một cảnh sống êm đẹp như nơi tiên ở. Người sau thường dùng chữ “đào nguyên” (nguồn đào) hay “đào hoa động” (động đào) để chỉ cảnh tiên. thanh khí: Kinh Dịch: Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu (cùng một thứ tiếng th́ ứng với nhau, cùng một loại khí th́ t́m đến nhau). Câu này ư nói: cùng tâm t́nh, cùng cảnh ngộ th́ cảm thông nhau và t́m đến với nhau. hàn gia: Nhà hèn mọn, nhà xoàng, lời nói khiêm tốn. tây thiên: Cánh đồng phía tây. hạ cố: Trông xuống, đoái tới, chiếu cố tới. hạ tứ: Ban xuống, ban cho. Cả câu: Hai bài thơ của Kiều ban xuống, lời đẹp, ư hay, thật quư báu như là ném cho những hạt châu, gieo cho những thoi vàng vậy. đoạn trường: Đứt ruột, chỉ sự đau đớn bi thương. Sổ đoạn trường: Sổ ghi tên những người phụ nữ bạc mệnh. quả kiếp nhân duyên: Quả là kết quả. Nhân là nguyên nhân, ư nói duyên (tốt), hay kiếp (xấu) cũng là có nhân với quả cả. Theo giáo lư đạo Phật: cái “quả” biểu hiện ra ở kiếp này là do cái “nhân” từ kiếp trước gây nên. tú khẩu, cẩm tâm: Miệng thêu, ḷng gấm. ư nói thơ Kiều làm tuyệt hay. đ̣i cơn: Tiếng cổ, nghĩa là nhiều cơn. trướng loan: Màn có thêu chim loan. nhà huyên: Tức mẹ. Huyên là cây hoa hiên, theo thuyết cổ, nó có tính chất làm quên sự lo phiền. Kinh thi: Yên đắc huyên thảo, ngôn thụ chi bối (ước ǵ được cây cỏ huyên để trồng ở nhà phía bắc). Nhà phía bắc là nơi ở của phụ nữ, do đó người sau gọi mẹ là nhà huyên, huyên đường. "Màu hoa lê hăy dầm dề giọt mưa?": Hoa lê ví với mặt người đẹp; giọt mưa ví với giọt nước mắt. Bài Trường hận ca của Bạch Cư Dị có câu: Ngọc dung tịch mịch lệ lan can, lê hoa nhất chi xuân đới vũ (mặt ngọc ủ ê, lệ rơi lă chă, như cành hoa lê đẫm những giọt mưa xuân). dưỡng sinh: Sinh ra và nuôi dưỡng, chỉ công ơn cha mẹ. mộng triệu: Điềm thấy trong mộng. mạch tương: Ḍng nước mắt. Tương là tên một con sông ở tỉnh Hồ-nam (Trung-quốc) chảy vào hồ Động-đ́nh. Ngày xưa, vua Thuấn đi tuần thú, chết ở phương xa, hai người vợ vua là Nga Hoàng và Nữ Anh đi t́m, đến bờ sông Tương, ngồi khóc rất thảm thiết, nước mắt vẩy ra những khóm trúc chung quanh, làm cho trúc đó hoá thành những điểm lốm đốm. Về sau, các nhà văn thường dùng chữ mạch Tương, giọt Tương để chỉ nước mắt phụ nữ. thư song: Chỗ cửa sổ ngồi đọc sách, pḥng đọc sách. mây Tần: Chưa thực rơ nghĩa (chữ Mây Tần ở đây khác với chữ Mây Tần trong các câu: 1239, 2236). Câu này ư nói: Cửa sổ pḥng Kiều h́nh như có mây che khuất khiến cho chàng Kim không thấy được nàng. tuần trăng khuyết: Khuyết hết cả một tuần trăng (cứ mỗi kỳ trăng tṛn, gọi là một tuần trăng). Ba chữ này chỉ thời gian suốt cả tháng. đĩa dầu hao: Đĩa dầu hao cạn (v́ đèn thắp khuya). Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan: ư cả câu: Bút để lâu không viết đến ngọn khô đi, đàn để lâu không gẩy đến, dây chùng lại. ư nói Kim Trọng buồn tương tư, bỏ cả việc học hành và gẩy đàn. mành Tương: Mành làm bằng trúc sông Tương. ba sinh: Do chữ tam sinh, nghĩa là ba kiếp luân hồi: “Quá khứ”, “hiện tại” và “vị lai” của con người (theo giáo lư đạo Phật). kỳ ngộ: Cuộc gặp gỡ kỳ lạ. vi lô: Cây lau, cây sậy. Lam-kiều: Tên đất, thuộc huyện Lam-điền, tỉnh Thiểm-tây (Trung-quốc). Bùi Hàng, đời Đường, khi thi hỏng về, gặp Vân Kiều tặng bài thơ, có câu: Lam-kiều thiện thị thần tiên quật, hà tất khi (kỳ) khu thướng ngọc kinh (cầu Lam là cái tổ thần tiên đó, hà tất phải vất vả lên đế đô để thi cử làm ǵ). Về sau, Hàng đi qua một nơi, gọi là Lam-kiều, khát nước, vào xin nước một nhà bà lăo gần đấy thấy Vân Anh (em Vân Kiều), cháu gái bà, người tuyệt đẹp, Hàng ngỏ ư cầu hôn, bà lăo bảo: Bà cần dùng cối ngọc và chầy ngọc để giă thuốc huyền sương (thứ thuốc tiên) nếu có những thứ ấy làm sính lễ sẽ gả cho. Hàng về t́m được cối chầy ngọc đưa đến, và ở đấy giă thuốc cho bà một trăm ngày, rồi lấy Vân Anh, sau hai vợ chồng cùng thành tiên. ở đây, Lam-kiều chỉ chỗ nhà ở của Kiều. lá thắm: Do chữ hồng diệp. Vu Hựu đời Đường, một hôm đi chơi, bắt được chiếc lá đỏ trôi trên một ng̣i nước từ cung vua chảy ra. Trên lá có đề một bài thơ. Vu Hựu bèn đề lại hai câu thơ vào chiếc lá đỏ khác, rồi đem thả nơi đầu ng̣i nước, cho trôi vào cung vua. Hàn thị, người cung nữ thả lá đỏ khi trước, lại bắt được lá đỏ của Vu Hựu. Về sau, nhờ dịp vua phóng thích cung nữ. Vu Hựu lấy được Hàn thị. chim xanh: Do chữ thanh điểu. Theo sách Hán vũ cố sự: Hán Vũ đế đang ngồi chơi bỗng có hai chim xanh bay đến. Đông Phương Sóc tâu: “Đó là sứ giả báo tin có Tây vương mẫu sắp tới”. Người ta nhân gọi sứ giả đưa tin là “chim xanh”. Câu này ư nói: Khó thông tin tức mối manh với Thuư Kiều. Ngô Việt thương gia: Nhà đi buôn ở nước Ngô, nước Việt (đi buôn xa, nay Ngô, mai Việt). đá: Đây chỉ núi giả (ta thường gọi là núi non bộ) do những tảng đá xếp thành. lăm thuư: Tên cái hiên của nhà Ngô Việt thương gia. V́ có chữ Thuư trùng với một chữ trong tên Kiều nên Kim Trọng mới mừng thầm là có duyên số tiền định. bài: Bày ra, xếp đặt sẵn, như chữ “an bài”. Nhưng ở đây có nghĩa là đề chữ bài trong các câu 2036, 2975 cũng nghĩa như thế. song hồ: Cửa sổ dán giấy. Cánh mây: Cánh cửa sổ. Tấc gang động khoá nguồn phong, Tuyệt mù nào thấy bóng hồng vào ra: Hai câu ư nói: Cửa động bị khoá, cửa nguồn bị ngăn, cho nên tuy nhà Kiều gần có gang tấc, mà vẫn là xa xôi cách trở. nhẫn từ: Tiếng cổ, nghĩa là kể từ khi. tường gấm: Do chữ cẩm tường, bức tường gạch có vẽ hoa như gấm. Chữ gấm là đặt cho đẹp lời. kim thoa: Cái thoa gài tóc bằng vàng. khuê các: Buồng, lầu, nơi ở của con gái nhà sang trọng. hư không: Bỗng không, tự nhiên. Hợp-phố: Tên một quận, trước thuộc Giao-châu, nay thuộc tỉnh Quảng-đông (Trung-quốc). Theo Hán sử: ngày xưa, ven bể quận Hợp-phố có loại trai sinh ra ngọc quư, nhưng v́ bọn quan trước đó tham nhũng, bắt nhân dân đi ṃ ngọc cho chúng, dân t́nh khổ cực, nên ngọc trai biến đi nơi khác hết. Về sau, có vị quan thanh liêm là Mạnh Thường đến nhậm chức, cải cách chính sự, băi lệnh ṃ ngọc, th́ ngọc trai lại dần dần trở về. Do đó, người ta thường nói “Châu về Hợp-phố” (Hợp-phố châu hoàn), để chỉ những trường hợp vật báu đă bị mất, lại trở về với chủ cũ. lân lư: Nguyên nghĩa là xóm và làng, đây dùng như nghĩa bà con láng giềng. niềm tây: Nỗi ḷng, chút tâm sự riêng. thang mây: Do chữ vân khê. ở đây chỉ cái thang, chữ mây là đặt cho đẹp lời. Phải người hôm nọ rơ ràng chẳng nhe: "người hôm nọ" tức là người gặp gỡ ở mả Đạm Tiên dạo trước (Kiều). kẻ: Chỉ Kim Trọng. Người: Chỉ Kiều. ngẫu nhĩ: t́nh cờ, cũng như “ngẫu nhiên”. xương mai: Xương vóc gầy. Cây mai, thân và cành nhỏ bé, nên người ta thường gọi những người xương vóc gầy là mai cốt (xương mai). đài gương: Cái giá, trên có đặt chiếc gương lớn và hộp đựng đồ trang sức của phụ nữ. Trong văn cổ, thường mượn chữ đài gương để chỉ người phụ nữ. dấu bèo: Do chữ b́nh tung. Nguyên dùng để chỉ hành tung người lữ khách ví như cánh bèo trôi nổi mặt nước. ở đây là lời Kim Trọng tự nói khiêm. băng tuyết: ư nói trong sạch thanh bạch. Chất hằng: Một thể chất lúc nào cũng như thế (tựa như nói bản chất) phỉ phong: Hai thứ rau, người ta dùng làm món ăn hàng ngày. ư cả câu: Gia đ́nh vốn thanh bạch, mà tư chất th́ cũng dung thường, không có tài sắc ǵ, lời Kiều tự khiêm. chỉ hồng: Do chữ xích thằng (sợi dây đỏ). Theo sách Tục U quái lục: Vi Cố, người đời Đường, đi cầu hôn, vào nghỉ quán trọ, gặp một ông già ngồi dưới bóng trăng, mở cái túi vải, đang kiểm sổ sách. Vi Cố hỏi, ông già trả lời: Đây là sổ sách hôn nhân, và chiếc túi vải này đựng những dây đỏ (xích thằng) dùng để buộc chân đôi vợ chồng. Do điển này mà có những danh từ: “chỉ hồng”, “tơ hồng” để chỉ việc nhân duyên vợ chồng, và “Nguyệt lăo” (ông già dưới trăng), “Trăng già”, “ông Tơ”, để chỉ người làm mối mai. Tục xưa: khi cưới vợ, thường làm lễ Tơ hồng để tế ông Nguyệt lăo xe dây đỏ đó. khuôn thiêng: Khuôn Tạo hoá, chỉ trời. Khuôn do chữ quân, tức cái khuôn dùng để nặn đồ gốm. Người xưa ví Tạo hoá đúc nặn ra muôn vật, như cái khuôn nặn ra các đồ gốm, nên gọi Tạo hoá là Đại quân, Hồng quân, Thiên quân (khuôn trời). tấc thành: Tấc ḷng chân thành. lượng xuân: Nguyên nghĩa là tấm ḷng tốt đẹp như mùa xuân, đây chỉ độ lượng rộng răi, bao dung của Kiều. chiều xuân: Như nói tứ xuân (Xuân tứ). nét thu: Nét thu ba, tức nét sóng mùa thu, tức con mắt. đá vàng: Do chữ kim thạch. Kim đây là loài đồng, chỉ chuông đồng, vạc đồng; thạch là đá, chỉ bia đá. Thời xưa những việc lớn, những công đức to, thường được người ta khắc vào chuông đồng, bia đá để lưu truyền thiên cổ. Do đó, người ta thường dùng danh từ kim thạch để chỉ cái ǵ có tính cách bền vững dài lâu. Câu này ư nói: Kiều nhận lời gắn bó với Kim Trọng, và xin ghi tạc lấy lời đó, như ghi tạc vào vàng đá. bả: Tiếng cổ, nghĩa là cầm. quạt hoa qú: Chiếc quạt bằng lá qú vẽ hoa. Qú tức bồ qú, một loại cây cọ, lá thường dùng làm quạt, gọi là bồ qú phiến (quạt bồ qú). tất giao: Sơn và keo. Người ta thường nói “giao tất” hay “tất giao” để chỉ t́nh nghĩa gắn bó bền chặt với nhau như hai chất keo và sơn. lầu trang: Lầu điểm trang, chỉ chung lầu ở của phụ nữ. đá biết tuổi vàng: Muốn xem vàng bao nhiêu tuổi, tốt xấu thế nào, người ta thường dùng thứ đá cuội đen để thử, gọi là ḥn đá thử vàng. ư nói qua sự trao đổi, gắn bó, Kim-Kiều đă hiểu biết và yêu nhau, như đá đă biết rơ tuổi vàng. Sông Tương một dải nông sờ, Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia: Hai câu này lấy ư ở bài thơ trong T́nh sử:
"Quân tại tương giang đầu, Dịch nghĩa:
"Chàng ở đầu sông Tương, tuyết trở sương che: ư nói bức tường của nhà Kiều với nhà Kim Trọng như có tuyết sương ngăn trở, che khuất khiến cho hai người khó gặp gỡ trao đổi tin tức. thưa hồng rậm lục: Màu đỏ ít đi, màu xanh rậm thêm. ư nói hoa tàn dần, mà lá cây thêm xanh tốt rậm rạp, tức là mùa xuân sắp qua, mùa hạ sắp tới. hai đường: Do chữ song đường (xuân đường và huyên đường) chỉ cha mẹ. nhà lan: Do chữ lan thất. Nhà có mùi thơm của hoa lan. ư nói nhà thanh nhă. th́ trân: Những thức ăn quư đương mùa. Tục Trung-quốc xưa, khi trai gái gặp nhau, thường đem theo các thức ăn như rượu thịt, hoa quả... để cùng nhau ăn uống trong lúc tṛ chuyện. lửa hương: Do chữ hương hoả. Tục cổ: khi làm lễ thề ước với nhau, thường đốt đèn thắp hương. Về sau hai chữ lửa hương thường dùng để chỉ t́nh duyên vợ chồng. tri âm: Hiểu biết tiếng đàn. Nghĩa rộng: Tri kỷ, người biết ḿnh, hiểu rơ ḿnh, người bạn thân thiết, bạn t́nh. Đời Xuân thu, Bá Nha, một người giỏi đàn, Chung Tử Kỳ, một người giỏi nghe đàn, đều nổi tiếng, cùng làm bạn với nhau. Tử Kỳ hiểu được tâm hồn bạn trong tiếng đàn, khi Bá Nha gẩy đàn, nghĩ đến non cao (cao sơn), Tử Kỳ lắng nghe, khen: “Tiếng đàn cao ṿi vọi như núi Thái-sơn, khi Bá Nha nghĩ đến ḍng nước chảy (lưu thuỷ), th́ Tử Kỳ khen: “Tiếng đàn cuồn cuộn như sông Giang, sông Hà”. Sau Tử Kỳ chết, Bá Nha dứt dây, đập đàn ra, và than rằng: “Trong thiên hạ không c̣n ai là tri âm (người hiểu biết tiếng đàn của ḿnh) nữa”. núi giả: Do chữ giả sơn, tức núi non bộ. động Đào: Tức động Đào nguyên. Thiên-thai: Tên một núi ở tỉnh Chiết-giang, Trung-quốc. Tương truyền đời Hán, Lưu Thần và Nguyễn Triệu lên núi Thiên-thai hái thuốc, gặp tiên nữ rồi cùng nhau kết duyên ở đấy. vạn phúc: Lời chào hỏi chúc mừng khi gặp nhau. hàn huyên: Lời hỏi thăm sức khoẻ. yên: Một loại bàn cổ, chân cao, bề mặt hẹp và dài, các thư sinh xưa thường dùng để sách và làm bàn viết. bút giá: Cái giá để gác bút. Thi đồng: Cái ống đựng thơ. ở đây bút giá, thi đồng là nói cái giá trên có gác bút và cái ống trong có đựng thơ. đạm thanh: Màu xanh nhạt, chỉ màu vẽ bức tranh cây thông của Kim Trọng. phong sương: Gió và sương. Bức tranh cây thông vẽ rất tự nhiên như đượm vẻ phong sương. phẩm đề: Đề lời b́nh, lời vịnh bức tranh. Thêm hoa: Thêm vẻ đẹp. ư nói bức tranh mới vẽ xong, xin đề mấy vần thơ vịnh cho tăng thêm vẻ đẹp. Tay tiên gió táp mưa sa: câu này ư nói Kiều đề thơ một cách mau lẹ, ư tứ dạt dào. nhả ngọc phun châu: Tài xuất khẩu thành thơ hay, như nhả ngọc, phun ra châu. nàng Ban: Nàng Ban Chiêu, đời Đông Hán. Nàng học rộng tài cao, được vua Hán vời đến toà Đông quán (toà chứa sách) hoàn thành nốt pho sử Hán thư do người anh là Ban Cố soạn chưa xong th́ đă chết. ả Tạ: Nàng Tạ Đạo Uẩn, đời Tấn, là người thông minh, học thức, có tài biện luận. dung quang: Diện mạo con người. ngọc bội: Đồ đeo bằng ngọc. Theo sách Lễ kư: Thời xưa, các quan chức, từ hàng sĩ trở lên, được phép đeo ngọc. Đây dùng chỉ chung người đă hiển đạt và có quan chức. Kim môn: Tức Kim mă môn nói tắt, tên cửa cung Vị ương của vua nhà Hán (cửa cung có để tượng ngựa đồng nên gọi là Kim mă). Đời Hán Vũ đế, thường cho những người có văn tài đến đợi ở đấy, để chờ nhà vua hỏi han về chính sự. Trong câu này ư Kiều muốn nói: Sau này Kim Trọng, nếu không phải là người có quan chức cao quư th́ cũng là bậc có văn tài được nhà vua trọng dụng. tướng sĩ: Thầy xem tướng. giải cấu: Chữ này nguyên nghĩa là cuộc gặp gỡ t́nh cờ, ở đây, ư nói về nhân duyên kết hợp. nhân định thắng thiên: ư nói người ta cũng có thể làm thay đổi được cả số trời (lời Kim Trọng an ủi Kiều). giải kết: Giải là cởi, kết là mối buộc. ư cả hai câu 421-422: Ví dù mối nhân duyên bị chia rẽ, th́ cũng quyết liều thân để giữ lấy lời thề nguyền vàng đá. trung khúc: Những sự uỷ khúc ở trong ḷng, như nói tâm t́nh, tâm sự. song sa: Cửa sổ có che vải sa, cũng như song the. ở đây chỉ pḥng ở của Kiều, ư nói Kiều kíp dời về pḥng ḿnh. hai thân: Cha mẹ, do chữ song thân, tức thân phụ (cha) và thân mẫu (mẹ). Nhặt thưa, gương giọi bóng cành: Câu này ư nói: ánh trăng giọi bóng cành lá cây xuống làm cho mặt đất chỗ sáng, chỗ tối, chỗ sáng nhiều, chỗ sáng ít. trướng huỳnh: Trướng là cái màn, huỳnh là con đom đóm. Đời Tấn, Xa Dận ham học, nhà nghèo, đêm không có đèn, phải bắt đom đóm đựng vào túi lụa thưa để soi mà đọc sách. ở đây chỉ pḥng học của Kim Trọng. tiếng sen: Tiếng bước chân của người đẹp. Xem chú thích 190. Giấc hoè: Theo sách Nam kha kư: Thuần Vu Phần đời Đường, ngày sinh nhật, uống rượu say nằm ngủ dưới gốc cây hoè già ở phía nam nhà ông, mộng thấy đến một nước gọi là “Đại Hoè An”, được vua nước ấy gả công chúa, và cho làm quan Thái thú quận Nam-kha, vinh hiển hơn hai mươi năm. Khi tỉnh dậy, chỉ thấy dưới gốc hoè một tổ kiến lớn, trong có con kiến chúa, mới hiểu đó là nước và vua Hoè An (gốc hoè yên ổn), c̣n Nam kha tức là cành hoè phía nam nhằm thẳng xuống tổ kiến. Do đó, người ta nói “giấc Nam kha” hay “giấc hoè” để chỉ cuộc phú quư hư ảo. Nhưng ở đây giấc hoè chỉ có nghĩa là giấc ngủ. Bóng trăng đă xế hoa lê lại gần: Đây nói: Khi tỉnh dậy, Kim Trọng đă thấy ánh trăng đưa bóng hoa lê tới gần. Chữ “hoa lê” tuy tả cái bóng hoa, nhưng cũng ngụ ư người ngọc. đỉnh Giáp: Đỉnh núi Vu-giáp (hay Vu-sơn, một núi cao có nhiều cảnh đẹp, thuộc tỉnh Tứ-xuyên, Trung-quốc). Cao đường phú: Vua Sở Hoài vương đi chơi quán Cao đường, mộng thấy một người đàn bà đẹp đến hầu chăn gối và tự xưng là thần nữ núi Vu-sơn, sớm làm mây, chiều làm mưa. Do tích này, người ta thường dùng chữ “mây mưa” để chỉ việc ân ái giữa trai gái. non Thần: núi Thần nữ. Đây nói Kim Trọng mới tỉnh dậy, c̣n bâng khuâng mơ màng về cuộc hội ngộ với Kiều, như truyện Sở Hoài vương với thần nữ núi Vu-giáp (chỉ ngụ ư hội ngộ, mơ màng, chứ không ngụ ư ân ái trai gái). đài sen: Cái đế thắp nến làm h́nh hoa sen. song đào: Chưa thực rơ nghĩa. Có bản giải là chỗ cửa sổ có trồng cây đào. tiên thề: Giấy hoa tiên (giấy viết thư từ có vẽ hoa) ghi chép lời thề. đồng: Đồng tâm, cùng một ḷng với nhau. Người xưa, thường tặng nhau dây lưng gấm, kết thành ṿng hồi văn, ngụ ư thân yêu quấn quít, gọi là cái “đồng tâm kết” (mối buộc đồng tâm). hà: Ráng mặt trời. Chén hà do chữ hà bôi, thứ chén bằng ngọc màu ráng đỏ, đây dùng nói chén quí. quỳnh tương: Nước ngọc, ví thứ rượu ngon quư. Giải là hương lộn, b́nh gương bóng lồng: ư nói Kiều với Kim Trọng, ngồi kề bên nhau, mùi hương giải là như hoà lộn với nhau, mà trong b́nh gương, bóng hai người cũng như lồng đôi với nhau. tương tri: Biết ḷng nhau, thông cảm nhau. điều nguyệt nọ, hoa kia: Chuyện trai gái bất chính. cầm đài: Cái đài ngồi gẩy đàn của Tư Mă Tương Như, một nhà từ phú và giỏi đàn đời Tây Hán. Đây mượn chữ cầm đài, để nói người giỏi đàn. nước non: Do chữ lưu thuỷ, cao sơn (nước chảy, non cao), những tiếng đàn của Bá Nha mà Chung Tử Kỳ nghe và phân biệt được. Đây Kim Trọng đề cao Kiều lên ngang tài với Bá Nha, và tự cho ḿnh là Chung Tử Kỳ. tiện kỹ: Nghề mọn, lời nói nhún. cầm trăng: Do chữ nguyệt cầm, tức là đàn nguyệt. tay nâng ngang mày: Thái độ tỏ ư trân trọng. dây vũ dây văn: Vũ là dây đàn to, văn là dây đàn nhỏ. Trước khi đánh đàn, Kiều so dần các dây to nhỏ xem tiếng đă đúng cung bực chưa. Hán Sở chiến trường: Băi chiến trường giữa nước Hán, và nước Sở. Cuối đời Tần, Lưu Bang (Hán Cao tổ) và Hạng Vũ (Sở Bá vương) cùng khởi binh đánh Tần, sau lại tranh nhau thiên hạ, đánh nhau nhiều trận kịch liệt. tiếng sắt tiếng vàng: Tiếng khí giới bằng kim loại va chạm nhau. Hai câu này tả tiếng đàn mạnh mẽ, hùng tráng. Tư mă phượng cầu: Tư Mă Tương Như người đời Hán, có văn tài, ở đất Lâm-cùng đến chơi nhà Trác Vương Tôn. Vương Tôn có con gái là Trác Văn Quân, người đẹp mà mới goá chồng, Tương Như gẩy khúc đàn “Phượng cầu hoàng” để tỏ t́nh với Văn Quân, Văn Quân cảm tiếng đàn, đêm ấy, bỏ nhà trốn theo Tương Như. Kê Khang, Quảng lăng: Kê Khang, đời Tam quốc, đêm gẩy đàn cầm ở đ́nh Hoa-dương, bỗng có người khách lạ tới, dạy cho khúc “Quảng lăng tán”, âm điệu tuyệt hay. lưu thuỷ, hành vân: Nước chảy, mây bay. ư nói khúc đàn thanh thoát lưu loát, lúc th́ nghe như nước chảy, lúc th́ nghe như mây bay. Lưu thuỷ, Hành vân cũng là tên của hai điệu đàn. quá quan: Đi qua cửa ải. Chiêu Quân: Tên chữ của Vương Tường, một cung nữ đời Hán Nguyên đế, sắc tuyệt đẹp, bị gả cho chúa Hung nô, khi qua cửa ải, vào đất Hung-nô, Chiêu Quân gẩy khúc đàn tỳ bà để tỏ nỗi ḷng nhớ nhà nhớ nước.
"Trong như tiếng hạc bay
qua, Bốn câu này dựa theo những câu tả đàn “Cầm” ở thơ Đường:
"Sơ nghi táp táp lương
phong động, Dịch nghĩa:
“thoạt đầu nghe phây phẩy
như làn gió mát thổi đến, Hoặc hai câu thơ cổ sau đây:
“Thanh như hạc lệ phi
thiên thượng Dịch nghĩa:
"Trong như tiếng hạc bay
trên trời cao. Lại cũng phảng phất ư những câu tả đàn “tỳ bà” ở bài Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị. chín khúc: Chỉ các khúc ruột, chứ không nhất thiết phải đúng chín khúc ruột. Chữ “chín hồi” trong câu 570: “Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ” cũng như thế. dột: ủ dột. hoa hương: Hoa có hương thơm. Thức hồng: vẻ hồng, chỉ vẻ đẹp của hoa. ư nói: Kiều đă có sắc, lại có tài (hay thơ giỏi đàn) càng tăng thêm giá trị, ví như đoá hoa, đă đẹp lại thơm. yêu đào: Cây đào non, lấy chữ ở thơ “Đào yêu”, Kinh Thi; Đào chi yêu yêu (cây đào non mơn mởn) ví với người con gái trẻ mà đẹp, đă đến tuổi đi lấy chồng. bố kinh: Do chữ kinh thoa bố quần. Bố quần là quần vải. Kinh thoa là thoa bằng cành cây kinh. Kinh là một loại cây mọc thành cụm, hoa màu tía nhạt, cành và thân cứng rắn, thời xưa, những phụ nữ nghèo thường dùng cành nó làm trâm cài tóc. liệt nữ truyện: Nàng Mạnh Quang, vợ Lương Hồng, đời Hán, là người vợ hiền, cần kiệm, thường chỉ mặc quần vải thô, dùng thoa bằng cành cây kinh. ở đây, ư Kiều nói: Đă cho là vợ chính thức... (không phải là nhân t́nh, nhân ngăi). ṭng phu: Theo chồng, chỉ đạo làm vợ, theo quan niệm Nho giáo xưa. Sách Nghi lễ: Phụ nhân hữu tam ṭng chi nghĩa, vị giá ṭng phụ, kư giá ṭng phu, phu tử ṭng tử (người đàn bà có đạo “tam ṭng”, khi chưa lấy chồng theo cha, lấy chồng rồi theo chồng, chồng chết theo con). trên Bộc, trong dâu: Trong băi dâu, trên sông Bộc. Xưa ở nước Vệ, đời Xuân thu, có tục trai gái hẹn ḥ, tụ hội nhau ở băi dâu trên sông Bộc để hát hổng, đùa bỡn, làm việc dâm đăng bất chính. Thôi, Trương: Theo Hội chân kư: Thôi Oanh Oanh và Trương sinh, đời Đường, là một đôi trai tài, gái sắc, đẹp đôi vừa lứa, đă gặp gỡ và yêu nhau ở chái tây chùa Phổ-cứu, đất Bồ, nhưng v́ đă đi lại tự t́nh với nhau, nên về sau chán mà bỏ nhau. dá vàng: Đây chỉ t́nh vợ chồng chung thuỷ, đoan chính. yến anh: Đây ví với cặp trai gái. chắp cánh liền cành: Thương yêu gắn bó với nhau. Theo bài Trường hận ca của Bạch Cư Dị, vua Đường Huyền tông và Dương quư phi nguyện với nhau trong đêm “thất tịch”: Tại thiên nguyện tác tị dực điểu, tại địa nguyện vi liên lư chi (trên trời nguyện làm đôi chim liền cánh, dưới đất nguyện làm hai cây liền cành). mái tây: Do chữ tây sương, tức chái tây chùa Phổ cứu, nơi Thôi, Trương gặp gỡ nhau. hương nguyền: Nén hương thề nguyền. gieo thoi: Chưa thực rơ nghĩa. Các sách thường dẫn điển sau đây: Tạ Côn đời Tấn, ghẹo người con gái đang ngồi dệt cửi, bị cô ta cầm cái thoi ném vào mặt, gẫy mất hai cái răng (Tấn thư). v́: Nể, tiếng cổ, cũng có nghĩa là yêu (yêu v́ -câu 335: Nặng ḷng xót liễu v́ hoa). bóng tàu: Bóng mái nhà (Tàu: Thanh gỗ dài đặt dọc ở mái hiên, để đỡ lấy mái nhà, gần chỗ giọt tranh). vẻ ngân: Vẻ sáng như bạc, chỉ ánh trăng. sân đào: Sân có trồng cây đào. gia đồng: Người phục dịch công việc ở trong nhà. thúc phụ: Chú ruột. từ đường: Từ bỏ nơi nhà ở, tức là chết. lữ thấn: Chết nhưng mà chưa chôn, quan tài c̣n quàn tạm ở nơi đất khách. Liêu-dương: Tên đất, nay là huyện, thuộc tỉnh Liêu-ninh (Trung-quốc) nơi chú ruột Kim Trọng chết. sơn khê: Núi và khe ng̣i. xuân đường: Cha. Theo Trang tử: “Thời thượng cổ có giống cây “đại xuân”, cứ 8.000 năm là một mùa xuân, 8.000 năm là một mùa thu. Người sau nhân gọi cha là xuân hay Xuân đường (nhà xuân), có ư mong cha được tuổi thọ như cây ấy. mảng tin: Tiếng cổ, nghĩa là mới nghe tin. đài trang: Do chữ trang đài, nơi trang điểm của phụ nữ. đinh ninh: Nói đi nói lại, cặn kẽ tỉ mỉ, đến nơi đến chốn. đôi hồi: Giăi bày, tṛ chuyện với nhau. trao tơ: Chỉ việc kết hôn. Theo sách Khai nguyên Thiên bảo di sự: Trương Gia Trinh, tể tướng nhà Đường, có năm con gái, muốn gả một người cho Quách Nguyên Chấn, đô đốc Lương-châu, người đẹp mà có tài nghệ, bèn bảo năm con đứng sau một bức màn, mỗi người cầm một sợi tơ dài, ḍng ra ngoài, và cho Nguyên Chấn tuỳ ư kéo lấy một sợi, trúng sợi nào th́ lấy người cầm sợi ấy. Nguyên Chấn kéo được sợi tơ đỏ, lấy người con gái thứ ba, rất đẹp. ba đông: Ba năm. Có ư kiến cho rằng: Có lẽ Kim Trọng là con thừa tự của ông chú nên phải để tang ba năm như để tang bố. Có ư kiến cho rằng: Con số ba năm chỉ có ư nói thời gian xa cách đằng đẵng. ǵn vàng giữ ngọc: Giữ ǵn thân thể cho được khoẻ mạnh, và cũng ngụ ư giữ ǵn mối t́nh cho được thuỷ chung. ôm cầm thuyền ai: Ôm đàn sang thuyền của người khác, ư nói đi lấy người khác. quyên: Chim đỗ quyên, tức chim quốc. Đây tả cảnh cuối hè, sang thu: Tiếng quyên kêu c̣n ra rả (nhặt) đầu cành, và bóng nhạn đă thấy bay loáng thoáng (thưa) ở chân trời (chim nhạn thường xuất hiện về mùa thu). cữ, tuần: Người xưa thường tính bảy ngày là một cữ, và mười ngày là một tuần. tương tư: Nguyên nghĩa là ở xa cách mà cùng nhớ nhau, sau người ta mượn để nói sự nhớ nhau của đôi trai gái yêu nhau. chín hồi: Do chữ cửu hồi, ruột chín lần bị đau quặn lại, đây dùng như nghĩa chín khúc ruột. ngoại hương: Làng ngoại, quê ngoại. giăi dề: Giăi bày, chuyện tṛ. thước: Tay thước, một thứ vơ khí cổ, bằng gỗ, dài độ một thước tây, cạnh vuông bốn góc, dùng để đánh người. nách thước: Nách cắp tay thước. đao: Dao to, mă tấu, thứ vơ khí bằng sắt, lưỡi to. già: Cái gông. Giang: Khiêng đi, giải đi. ở đây nói cha con viên ngoại bị đóng gông lại. tế nhuyễn: Nhỏ bé, mềm mại, chỉ chung những đồ vàng ngọc quí giá và trang sức, quần áo dễ mang đi. bay buộc: ư nói cái tai vạ tự đâu bay đến, buộc đến. dậm: Một dụng cụ đánh cá. giàm: Bẫy đánh loài vật. Đan dậm, giật giàm: ư nói vu oan giá hoạ. loà mây: Như nói làm mờ cả bầu trời. ư nói một vụ án hết sức oan uổng. hạ từ: Hạ lời, nói lời hạ ḿnh để kêu cầu van xin. lân tuất: Thương xót, thương t́nh. "tồi tàn" có nghĩa là đánh đập. ư cả câu: tụi sai nha cứ phũ phàng đánh đập trước những lời kêu van của nhà Kiều, chúng chỉ làm điếc làm ngơ. rường cao: Cái rường nhà ở trên cao. Dây oan: Dây trói oan uổng. Tụi sai nha trói và treo ngược hai cha con họ Vương lên rường nhà. cốt nhục: Ruột thịt, chỉ Vương ông và Vương Quan. ngộ biến ṭng quyền: Gặp cảnh biến phải theo đạo “quyền” (không thể giữ nguyên đạo “kinh” như lúc b́nh thường được). ư nói: Phải tuỳ theo hoàn cảnh mà xử sự cho thích hợp. hội ngộ: Gặp gỡ gắn bó với nhau. Chỉ mối t́nh duyên giữa Kiều với Kim Trọng. cù lao: Công ơn sinh dưỡng khó nhọc của cha mẹ. thệ hải minh sơn: Chỉ non thề bể. sinh thành: Công cha mẹ sinh ra và nuôi dưỡng nên người. hạ t́nh: Tỏ bày ư nghĩ. dẽ cho: Lời gạt đi ư kiến những người khác để nói lên ư kiến của ḿnh một cách cương quyết. nha dịch: Người làm việc ở nơi nha môn, tức nơi công sở của các phủ huyện, cũng như nói “nha lại”. qui liệu: Thu xếp, lo liệu. tử biệt sinh ly: Chết rồi vĩnh biệt nhau gọi là “tử biệt”, sống mà xa ĺa nhau gọi là “sinh ly”. Đó là hai cảnh thương tâm lớn của đời người. Tuy là hai cảnh, nhưng người ta thường dùng làm một thành ngữ, để nói chung cho người gặp cảnh “tử biệt” cũng như người gặp cảnh “sinh ly”. hạt mưa: ở đây chỉ thân phận người con gái. tấc cỏ, ba xuân: Do chữ thốn thảo, tam xuân. Bài thơ tả t́nh đi chơi xa nhớ mẹ của Mạnh Giao đời Đường có câu: Thuỳ ngôn thốn thảo tâm, báo đắc tam xuân huy (Ai bảo cái ḷng của ngọn cỏ một tấc (ngọn cỏ ngắn) báo đáp được ánh sáng ấm áp của ba tháng xuân). Tấc cỏ: Ví với người con. Ba xuân: Ví với công ơn cha mẹ. băng nhân: Người làm mối. tin sương: Theo sách Ngũ kinh câu trầm: Khi tiết trời bắt đầu có sương lạnh, th́ chim nhạn ở phương Bắc bay xuống phương Nam. Có sương th́ có nhạn, mà có nhạn th́ có sương, sương và nhạn ứng theo thời tiết với nhau, nên nói tin sương là ngụ ư tin nhạn chỉ tin tức truyền đi. ở đây (chữ tin sương cũng mượn ở chữ sương tin, một tên khác của chim nhạn). viễn khách: Khách phương xa. vấn danh: Nhà trai hỏi tên người con gái. Một trong sáu hôn lễ thời xưa. giám sinh: Sinh viên học tại Quốc tử giám, một thứ trường đại học của triều đ́nh phong kiến, lập ở kinh đô để đào tạo người ra làm quan. Lâm-thanh: Một huyện thuộc tỉnh Sơn-đông (Trung-quốc). tứ tuần: Bốn mươi tuổi (mỗi một tuần là mười tuổi). nỗi ḿnh: Nỗi riêng của ḿnh, chỉ cuộc t́nh duyên dở dang với Kim Trọng. Nỗi nhà: Nỗi tai vạ của toàn gia đ́nh họ Vương. điệu: Cách điệu, cốt cách. Gầy như mai: Xem chú thích 325. sính nghi: Đồ dẫn cưới, tiền dẫn cưới. ngh́n vàng: Đời Hán, một ngh́n vàng tức là một cân vàng, sau dùng để chỉ ngh́n lạng vàng. rớp nhà: Hoạn nạn trong nhà, nhà gặp lúc hoạn nạn. êm dằm: ư nói sự việc đă lo lót xong xuôi, êm thấm, giống như chiếc thuyền đă đứng êm dằm, không c̣n tṛng trành nữa. canh thiếp: Lá thiếp biên tên, tuổi (nhân trong thiếp có biên tuổi, tức niên canh, nên gọi là canh thiếp). Theo hôn lễ xưa, khi bắt đầu giạm hỏi, nhà trai, nhà gái trao đổi canh thiếp của trai gái để đính ước với nhau. nạp thái: Xem chú thích 624. Đây dùng chỉ lễ dẫn đồ cưới, tiền cưới. vu qui: Về nhà chồng. Đây dùng chỉ lễ đón dâu. khất từ: Đơn xin (Nhà Kiều làm đơn xin tạm tha cho Vương ông). gieo cầu: Theo sách Tam hợp bảo kiếm: Hán vũ đế kén pḥ mă, cho công chúa ngồi trên lầu, ném quả cầu xuống, ai cướp được th́ làm pḥ mă. vu thác: Vu là đổ tội cho, thác là đặt điều ra. một mảnh hồng nhan: Như nói một mụn con gái. nàng Oanh: Nàng Đề Oanh. Theo Liệt nữ truyện: Đề Oanh người đời Hán, khi cha nàng là Thuần Vu ư, phạm tội, bị hạ ngục ở Tràng-an, chờ ngày hành h́nh, Đề Oanh dâng thư lên vua Văn đế, xin nộp ḿnh làm gái hầu các nhà quan để chuộc tội cho cha, Văn đế cảm động, xuống chiếu tha cho cha nàng. ả Lư: Nàng Lư Kư. Theo sách Đường đại tùng thư: Lư Kư, nhà nghèo, tự nguyện bán ḿnh cho người làng đem cúng thần rắn, để lấy tiền nuôi cha mẹ. Về sau nàng chém chết thần rắn, rồi lấy được vua. cỗi xuân: Gốc cây xuân, chỉ người cha. tuổi hạc: Tuổi con chim hạc, tức tuổi thọ. Lục Cơ Mao thi sớ: Chim hạc sống lâu một ngh́n năm. gió mưa: ở đây chỉ những tai biến xảy đến. nước non: ở đây chỉ cơ nghiệp nhà. Hoa dù ră cánh, là c̣n xanh cây: Câu này ư nói: Dù Kiều phải bán ḿnh, cuộc đời tan tác, nhưng gia đ́nh Vương ông khỏi bị tai vạ. đậu: Một cái hoa kết được thành quả, hay một cái quả giữ được đến lúc chín, không bị nửa chừng rụng đi, th́ người ta gọi là cái hoa đậu, cái quả đậu. Cả câu ư nói: Cũng xem như là đă chết ngay từ lúc c̣n nhỏ tuổi. lễ tâm: Lễ vật của dân sự “thành tâm” đem đút lót cho bọn quan lại. tụng kỳ: Kỳ xử kiện, tức phiên xử án. tinh kỳ: Người ta thường dùng chữ tinh kỳ để chỉ ngày thành hôn, v́ theo hôn lễ xưa, người ta đón dâu vào buổi tối lúc sao bắt đầu mọc. dầu: Cũng nghĩa như đành (dầu ḷng, đành ḷng). một lời: Một lời thề nguyền. ư Kiều nói: Số phận ra sao cũng đành, nhưng chỉ đau ḷng là trót đeo đẳng lời thề với Kim Trọng. trời Liêu: Liêu-dương. tái sinh: Một kiếp sống nữa, kiếp sau, cũng như nói lai sinh. hương thề: Mảnh hương thề nguyền. trâu ngựa: Theo thuyết luân hồi nhà Phật: Người nào kiếp này mắc nợ ai mà chưa trả được, th́ kiếp sau phải hoá làm thân trâu ngựa nhà người ta để đền trả cho xong. ngh́: Tức là chữ “nghĩa” đọc chạnh ra. trúc mai: T́nh nghĩa bền chặt thân thiết như cây trúc, cây mai thường được trồng gần nhau. khối t́nh: T́nh sử: Xưa có một cô con gái yêu một người lái buôn. Người lái buôn đi măi chưa về, cô ta ốm tương tư mà chết. Khi hoả táng, quả tim kết thành một khối rắn, đốt không cháy, đập không vỡ. Sau người lái buôn trở về, thương khóc, nước mắt nhỏ vào khối ấy liền tan ra thành huyết. tuyền đài: Nơi ở dưới suối vàng, tức cơi chết. bàn hoàn: ở đây có nghĩa là nghĩ quanh, nghĩ quẩn măi không dứt. cơ trời: Tức thiên cơ, máy trời, máy tạo hoá. dâu bể: Cũng như “bể dâu”. đa đoan: Nhiều mối, nhiều việc (hàm ư rắc rối lôi thôi). nhẫn: Tiếng cổ. ở đây có nghĩa là suốt đến, suốt tới. keo loan: Do chữ loan giao, tức thứ keo chế bằng máu chim loan. Tương truyền người xưa thường dùng để nối dây đàn và dây cung. Sách Hán vũ ngoại truyện chép: Đời Hán, miền Tây-hải tiến thứ “loan giao”. Vũ đế đứt dây cung, lấy loan giao nối lại, dây liền hẳn, rồi bắn suốt ngày mà không đứt. lời nước non: Lời thề nguyền chỉ non thề bể. tờ mây: Tờ giấy vẽ mây, tức tờ giấy ghi lời thề nguyền của Kim, Kiều. mảnh hương nguyền: Những mảnh gỗ thơm đă đốt dở trong cuộc thề nguyền của Kim, Kiều. Thời xưa, khi thề nguyền với nhau, người ta thường đốt hương. bồ liễu: Tức cây thuỷ dương, một loài dương ưa mọc gần nước (Dương cũng giống như liễu, chỉ khác dương th́ cành cứng mà mọc đâm lên, c̣n liễu th́ cành mềm mà mọc rủ xuống). Cây bồ liễu rụng lá sớm hơn hết các loài cây, v́ cái thể chất yếu đuối đó nên trong văn cổ thường dùng để ví với người phụ nữ. dạ đài: Đài đêm tối, nghĩa bóng là cơi chết. trâm gẫy, b́nh tan: Thơ Bạch Cư Dị, đời Đường: B́nh truỵ trâm chiết thị hà như, tự thiếp kiêm triêu dữ quân biệt (Cái cảnh b́nh rơi trâm gẫy là thế nào? nó giống như cảnh biệt ly của thiếp với chàng buổi sáng nay). Đây dùng chỉ cuộc t́nh duyên tan vỡ. t́nh quân: Người t́nh, cũng như t́nh lang. nước chảy hoa trôi: Hoa rụng xuống, nước trôi đi, nguyên chỉ cảnh xuân tàn. ở đây dùng h́nh ảnh đó để nói sự lỡ làng tan vỡ của mối t́nh đẹp đẽ giữa Thuư Kiều và Kim Trọng. xuân huyên: Xuân đường, huyên đường, tức cha mẹ. dầu: Nguội, dịu. vựng: Cơn ngất, bất tỉnh nhân sự. giọt hồng: Giọt nước mắt có máu, giọt lệ thảm. cải, kim: Hạt cải và cái kim. Sơn hải kinh đồ tán của Quách Phác đời Tấn chép: Đá nam châm hút kim, hổ phách hút cỏ (Từ thạch dẫn châm, hổ phách thập giới). Nguyên là nói tính chất hấp dẫn, giữa các vật này, sau người ta mượn dùng để chỉ t́nh duyên kết hợp. Chữ giới chính là lá cỏ nhỏ, rác nhỏ, nhưng ta quen giải là hạt cải, do đó ở đây tác giả dùng chữ cải, kim rơi rụng để nói t́nh duyên nửa chừng bị chia ĺa, tan vỡ. ṃn bia đá: Chỉ một khoảng thời gian rất lâu. tấc vàng: Tấc ḷng bền vững như vàng. chiềng: Tiếng cổ, nghĩa là tŕnh. nam lâu: Lầu phía nam, chỉ cái gác canh gần nơi Kiều ở. mấy hồi: Mấy hồi trống tan canh, ư nói trời đă gần sáng. quản huyền: Chính nghĩa là ống trúc và dây đàn, thường dùng chỉ sáo và đàn. Đây nói họ Mă đưa các đồ âm nhạc đến đón dâu (đón Kiều). Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm: Đại ư cả câu: Giọt lệ rơi xuống, có thể thấm qua cả đá, mối t́nh dứt ra, như tơ ruột rút ra, có thể làm chết rũ cả con tằm. trú phường: Chỗ phố trọ, nhà trọ. xuân khoá: Chưa thực rơ nghĩa. Có lẽ xuân là chỉ cảnh náo nhiệt vui tươi ở chỗ phường trọ, ví như một cảnh xuân khoá kín lấy nàng Kiều trong căn “trú phường” ấy. (Chữ xuân đây, không phải là mùa xuân. Chú ư: lúc Mă Giám sinh đón Kiều là mùa thu: Đêm thu một khắc một chầy. Một trời thu để riêng ai một người. lục hồng: Màu lá xanh, màu hoa đỏ thường dùng để chỉ sắc đẹp của phụ nữ. đ̣i phen: Tiếng cổ, nghĩa là nhiều phen, nhiều lúc. phẩm tiên: Của trên cơi tiên. nắng giữ mưa ǵn: ư nói giữ ǵn trinh tiết. nhị đào: Nhị hoa đào c̣n phong kín, ví với người con gái c̣n trinh. gió đông: Tiếp ư chữ nhị đào ở trên. ư nói: Không để cho người t́nh chung bẻ nhị đào, giống như ngăn đón gió đông không cho đến với nhị đào vậy. trùng phùng: Gặp gỡ lần thứ hai, ư nói đến sau này lại gặp Kim Trọng. phong t́nh: Chữ phong t́nh ở đây hàm ư ăn chơi phóng đăng, bất chính. lầu xanh: Do chữ thanh lâu: Cái lầu sơn màu xanh. Chữ thanh lâu nguyên chỉ lầu ở của phái quyền quí hay vua chúa, hoặc chỉ lầu ở của mỹ nhân. Về sau thanh lâu mới có nghĩa là nhà hát, nhà điếm. làng chơi: Chỉ chung những gái điếm và khách chơi ở chốn thanh lâu. mạt cưa mướp đắng: Chuyện cổ tích: “Một người lấy mạt cưa làm cám, đợi lúc nhá nhem tối, đem ra chợ bán, lại gặp một người đem mướp đắng giả làm dưa chuột ra bán. Hai người bán lẫn cho nhau, thế là bợm lại mắc bợm”. Đây nói Mă Giám sinh và Tú bà cùng là phường bịp bợm, lừa dối. buôn phấn bán hương: ư nói mua những con gái ở các nơi về làm gái điếm. Phấn và hương là hai thứ nữ giới dùng để trang điểm, nên mượn để chỉ chung sắc đẹp nữ giới. đă lề: ư nói đă thành nề nếp, đă quen nghề. chợ: Kẻ chợ, tức nơi thành thị, đô hội. Khắp chợ th́ quê: Lối nói cổ, có nghĩa là: Khắp chợ cùng quê, khắp vùng kẻ chợ đến miền thôn quê. giả danh hầu hạ: Mượn tiếng là t́m nàng hầu vợ lẽ để về hầu hạ. Dạy nghề ăn chơi: Dạy nghề làm gái điếm kiếm tiền. thuyền quyên: Nguyên nghĩa là óng ả, xinh đẹp. Trong văn cổ thường dùng để chỉ người phụ nữ xinh đẹp. khuôn: Như nói vành, đă mắc vào vành không ra được nữa. nghinh hôn: Đón dâu. vẻ ngọc: Vẻ mặt đẹp như ngọc. khúc vàng: Khúc ḷng. quốc sắc thiên hương: Xem chú thích 66. Một cười này, hẳn ngh́n vàng chẳng ngoa: Câu này do chữ nhất tiếu thiên kim: Một nụ cười của người đẹp đáng giá ngh́n vàng. bẻ hoa: Phá trinh tiết của Kiều. vương tôn: Chỉ con cháu các nhà quư phái. ba trăm lạng: Đoạn trên nói sính nghi “ngoài bốn trăm lạng”, sao đây lại nói “ba trăm lạng” cũng đà vừa vốn. Mă tính lầm hay tác giả sơ ư? Th́ vin cành quít cho cam sự đời: Câu này mỗi bản chú giải một cách. Theo thiển ư chúng tôi, th́ có lẽ chữ “ quưt” cũng như chữ “cam”, chỉ là một lối chơi chữ cho văn thêm màu sắc. Vậy câu này và câu trên có thể giải là: Đào tiên đă tới tay, th́ vin cành bẻ phắt đi, cho thoả sự đời, (tức là làm ngay cái việc “nước trước bẻ hoa” ở trên). Nước vỏ lựu, máu mào gà: Theo sách Bắc lư chí: Gái thanh lâu tiếp khách xong, lại lấy nước vỏ lựu, máu mào gà sống để rửa, giả làm gái có tân, để đánh lừa khách chơi. chiêu tập: Dùng cách sửa chữa làm như c̣n nguyên vẹn. con đen: Những người c̣n trẻ tuổi mà khờ dại, đây chỉ những khách chơi không sành sỏi. trà mi: Một thứ hoa nở về cuối xuân đầu hạ, hoa màu vàng nhạt, rất đẹp. ngọc, hương: Ngọc đẹp, hương thơm, ví với người đẹp. đuốc hoa: Do chữ hoa chúc: đuốc hoa, nến hoa. Chữ chúc thời cổ là đuốc, mà thời sau là nến. ở đây chỉ ngọn nến trong đêm tân hôn. hai t́nh: Chỉ cha mẹ. ư nói: Một ḿnh th́ tự tử chẳng sao, nhưng c̣n cha mẹ th́ làm thế nào? truy nguyên: T́m đến căn nguyên, gốc rễ của sự việc. giăn: Nới ra. Nỗi ḷng của Kiều lúc trước rối bời, nay nghĩ đi nghĩ lại, thấy nới dần ra. một lần: Một lần chết, Kiều nghĩ, chóng hay chậm cũng một lần chết, nếu bây giờ nàng chết đi tất liên luỵ đến cha mẹ. lầu mai: Cḥi canh về sáng. c̣i sương: Tiếng tù và thổi lúc sớm tinh sương. đoạn trường: Đứt ruột, có nghĩa đau đớn quá (như đứt từng khúc ruột). phân kỳ: Chia đường, chia ĺa mỗi người một ngả, như nói “chia tay”. vó câu: Vó ngựa (Câu: Ngựa non đang sức lớn). Những chữ “khấp khểnh”, “gập gềnh”, rất gợi h́nh, vừa tả con đường đi gồ ghề khó khăn, vừa ngụ ư thân thế Kiều đă long đong, vất vả ngay từ lúc mới bước chân ra đi... trường đ́nh: Đời Tần, Hán, người ta chia đường ra từng cung, cứ năm dặm là một cung ngắn, có một cái quán, gọi là “đoản đ́nh” (quán ngắn), mười dặm là một cung dài, lại có một cái quán nữa, gọi là “trường đ́nh” (quán dài). Tục cổ, chủ thường tiễn khách ra khỏi mười dặm đường, làm việc tiễn hành ở trường đ́nh rồi mới trở về. chủ khách: Chỉ Vương ông và Mă Giám sinh. thơ đào: Đây có nghĩa là con gái ít tuổi ngây thơ. dùng dắng: Dùng dằng, do dự. Khi Mă vào trong pḥng Kiều th́ do dự mà khi ở pḥng ra th́ vội vàng. tuần: Tuần rượu, mỗi chén rượu uống cạn là một tuần. chén khuyên: Chén khuyên mời, đây là chén rượu tiễn. nghỉ: Nó, hắn, y, (thổ âm Nghệ-Tĩnh). Đây chỉ Mă Giám sinh. trước yên: Trước yên ngựa của mă. yếu liễu, thơ đào: ư nói Kiều c̣n yếu ớt thơ dại, ví như cây liễu yếu, cây đào non. tầm: Một đơn vị đo lường cổ của Trung-quốc, dài tám thước. Ngh́n tầm: 8000 thước, nghĩa bóng: cao lắm! tùng quân: Tùng là cây thông, một thứ cây cao lớn, thân thẳng và cứng cáp, mùa đông lá vẫn xanh tươi, trong văn cổ, thường dùng để tượng trưng cho người trượng phu. Quân là cây trúc, róng thẳng đốt ngay, thân rỗng mà không cong queo, thường dùng để tượng trưng cho người quân tử. tuyết sương che chở: Tức che chở cho khỏi tuyết sương. cát đằng: Dây sắn, dây b́m, những loại dây phải leo bám vào các cây to, người ta thường nói “cát đằng”, “cát luỹ” hay “sắn b́m” để chỉ người vợ thiếp. nhiệm trao: chưa rơ nghĩa, mỗi bản chú một khác. Theo ư chúng tôi, nhiệm đây có thể là mầu nhiệm, ư nói số trời mầu nhiệm đă buộc sợi “xích thằng” như thế. gương nhật nguyệt: Gương mặt trời, mặt trăng. Chữ “gương” hàm ư soi tỏ tội lỗi. Dao quỉ thần: Gươm dao của quỉ thần, hàm ư trừng phạt. ư Mă nói: nếu sau này ăn ở không thuỷ chung, sẽ có trời soi tỏ tội lỗi và bị quỉ thần trừng phạt. gió giục mây vần: Tả xe Kiều đi mau lẹ, vội vă, hô ứng với chữ “như bay” ở câu dưới. Đùng dùng gió giật mây vần, Một xe trong cơi hồng trần như bay: Hai câu này chuyển xuống cuộc hành tŕnh của Mă với Kiều, lời văn rất mạnh. Mă muốn gấp rút đưa Kiều về, nên khi đáp lời Vương ông xong, th́ cho xe đi ngay và đi rất nhanh. bạc phau: Trắng phau, trắng xoá. cầu giá: Váng sương đóng trên mặt cầu buổi sớm mai. ngàn mây: Những đám mây ở nơi rừng núi. Câu này tả cảnh cuối thu, bắt đầu sang đông. hơi may: Hơi gió heo may. ngất tạnh: Bầu trời cao ngất mà tạnh ráo. mù khơi: Mù mịt xa khơi, tả “sương thu” ở chân trời. Thấy trăng mà thẹn những lời non sông: Cây này ư nói: Kiều thấy trăng mà nhớ đến cái “vầng trăng” đêm nào đă chứng kiến cuộc thề nguyền với Kim Trọng. từng biếc xen hồng: Rừng cây mùa thu có những lá úa màu đỏ xen giữa từng lá màu xanh. thần hôn: Sớm hôm, chỉ sự sớm hôm chăm sóc thăm hỏi cha mẹ. Lâm-tri: Tên huyện, thuộc tỉnh Sơn-đông. xe châu: Xe có rèm hạt châu, thứ xe phụ nữ ngồi. mày ngài: Tức mấy ả gái điếm. tượng: Bức tranh vẽ. Tượng trắng đôi lông mày tức tranh thần “Bạch mi”. Theo sách Dă hoạch biên: Các nhà thanh lâu có tục thờ tranh thần “Bạch mi”. đổi hoa: Như nói thải hoa, tức lấy hoa mới để thờ, thải hoa cũ lót xuống dưới chiếu nằm. hàn thực: Ăn lạnh, ăn đồ nguội. Giới Tử Thôi giúp Tấn Văn Công khôi phục lại ngôi vua, nhưng lúc thưởng công các bề tôi, Văn Công lại quên mất Tử Thôi. Tử Thôi bất b́nh trốn vào núi ở ẩn. Đến lúc Văn Công nghĩ lại, muốn vời Tử Thôi, nhưng Tử Thôi quyết chí ở ẩn. Văn Công sai đốt núi, Tử Thôi quyết tâm chịu chết cháy ở trong núi. Văn Công hối hận vô cùng, ra lệnh hàng năm đúng ngày Tử Thôi chết, cấm không được đốt lửa. Do đó mà có tục hàn thực, cứ trước tiết thanh minh hai ngày (có sách chép một ngày), người ta cấm đốt lửa, ăn đồ nguội, và tổ chức nhiều cuộc vui: đá cầu, đánh đu, chọi gà, kết xe hoa đi rong chơi, rất tưng bừng. Nguyên tiêu: Đêm tiết thượng nguyên, tức đêm ngày rằm tháng giêng đầu năm. Đây Tú bà khấn thần phù hộ cho cửa hàng lầu xanh của mụ, ngày lại đêm, lúc nào khách chơi cũng ra vào đông đúc, tấp nập, như những ngày hội hàn thực, nguyên tiêu. tin nhạn: Tô Vũ, người đời Hán, đi sứ Hung-nô, không chịu khuất phục, bị chúa Hung-nô đầy lên Bắc-hải chăn dê, nhà Hán hỏi, th́ bảo là chết rồi, sau sứ Hán phải nói thác là vua Hán săn được con chim nhạn ở vườn thượng lâm, chân nó có buộc một bức thư lụa của Tô Vũ gửi về, khi ấy Hung-nô mới chịu trả lại Tô Vũ cho nhà Hán. Do đó, người ta thường nói “tin nhạn” để chỉ tin thư. ở đây, tác giả dùng như nghĩa “tin tức” đơn thuần. hương hoả gia đường: Bốn chữ này nguyên là chỉ nhà hay bàn thờ cúng gia tiên, đây tác giả dùng chỉ bàn thờ thần Bạch mi, có nghĩa là Tú bà và Mă Giám sinh đă nhận tổ sư lầu xanh làm gia tiên của ḿnh! cậu mày: Chỉ Mă Giám sinh, Tú bà bắt Kiều lạy nhận mụ là mẹ nuôi, Mă Giám sinh là cha nuôi. tiểu tinh: Sao nhỏ, chỉ vợ lẽ. lấy yến làm anh: ư nói sự thay bậc đổi ngôi (như lấy “yến” làm “anh”) chẳng ra danh phận ǵ. tam bành: Theo các sách Đạo giáo “Trong người ta có ba thần Thi: Thượng Thi, tên Bành cứ, ở đầu; Trung Thi, tên Bành chất, ở bụng: Hạ Thi, tên Bành kiểu, ở chân, thường làm hại người”. Do đó, người ta cho rằng: những sự hung ác, giận dữ của người là do thần “Tam Thi” hay “Tam Bành” làm ra, và thường dùng chữ tam bành để chỉ cơn tức giận. min: Tiếng cổ, nghĩa là ta, tao. b́ tiên: Cái roi bằng da. phong trần: Cơi đời nhiễu nhương. ư nói: Một nhát dao oan nguyệt cắt đứt quan hệ với cuộc đời phong trần, tức là chết. trần duyên: Nhân duyên cơi trần, cơi đời. liễu bồ: Tức bồ liễu. Tiền đường: Tên một con sông chảy qua huyện Tiền-đường, tỉnh Chiết-giang (Trung-quốc). đá vàng: Đây chỉ ḷng kiên trinh của phụ nữ. khoá buồng xuân: Khoá kín vẻ xuân trong buồng, như nói cấm cung. đợi ngày đào non: Đợi ngày lấy chồng. thị phi rạch ṛi: Lẽ phải, lẽ trái phân minh. Đại ư: Kiều nghe lời Tú bà nói cũng có lư. thần mộng: Lời báo mộng của quỷ thần (tức Đạm Tiên). túc nhân: Nhân duyên có sẵn từ trước, như nói duyên số tiền định. đăi đằng: Tiếng cổ, nghĩa là giăi bày. Ca dao có câu: Cá buồn cá lội tung tăng, Em buồn em biết đăi đằng cùng ai. C̣n ở đây, chưa thực rơ nghĩa. Bản Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim giải là “lôi thôi”. thong dong: ở đây có nghĩa là khoan tâm, thư tâm. bụi hồng: Đây chỉ những đám bụi bốc lên ở trên đường. chén đồng: Chén đồng tâm, tức chén rượu thề nguyền đồng tâm với nhau. tấm son: Tấm ḷng son, đây chỉ tấm ḷng thuỷ chung. quạt nồng, ấp lạnh: Quạt khi nồng, ấp khi lạnh, do chữ đông ôn hạ sảnh ở Kinh Lễ. sân Lai: Sân Lăo Lai. Theo sách Cao sĩ truyện: “Lăo Lai tử, người nước Sở, đời Xuân thu, tuổi đă ngoài bảy mươi, mà c̣n cha mẹ già, ông thường mặc áo ngũ sắc sặc sỡ, ra múa ở trước sân, rồi giả cách ngă, khóc, như trẻ con, để làm cho cha mẹ vui.” Đây nói bóng sân nhà cha mẹ, tức nhà ḿnh. gốc tử: Gốc cây tử (loài cây thị). Thơ Tiểu biền Kinh Thi có câu: Duy tang dữ tử tất cung kính chi (ḱa cây dâu với cây tử, tất phải cung kính), ư nói dâu và tử là những cây do tay cha mẹ trồng ở quanh nhà, người làm con phải biết quí trọng nó. Đây dùng chỉ cha mẹ, “gốc tử đă vừa người ôm” nói bóng cha mẹ đă già rồi. ghềnh: Vực sâu, vùng biển. rèm châu: Do chữ châu liêm, rèm kết bằng ngọc châu. châu: ở đây chỉ là đặt cho đẹp lời. mạch: Ḍng dơi. thư hương: Hương thơm của sách vở, một danh từ dùng chỉ những nhà theo học nghiệp nho.Câu này ư nói: Tưởng cũng là ḍng dơi con nhà nho. Sở Khanh: Có lẽ là tên tự. (Chữ Sở Khanh đây, chỉ là cái tên, bản thân cái tên này không hàm ư ǵ xấu). bóng nga: Bóng Hằng nga, bóng người đẹp, chỉ Kiều. đeo đai: Vương vấn, quyến luyến (hàm ư không chân thật, chỉ làm ra vẻ quyến luyến thôi). sắc nước hương trời: Xem chú thích 66. trong nguyệt trên mây: ư nói có một phẩm giá khác đời, như Hằng nga trong cung nguyệt, hay tiên nữ trên cung mây. song thu: Cửa sổ mùa thu (nói thời tiết khi ấy). tế độ: Cứu vớt (tiếng nhà Phật). trầm luân: Ch́m đắm, đắm đuối. ư Kiều muốn nhờ Sở Khanh cứu ḿnh thoát nạn thanh lâu, như Phật cứu vớt chúng sinh khỏi bể trầm luân. mảnh tiên: Mảnh giấy hoa tiên, tức tờ thư. nỗi nhà báo đáp: Nông nỗi phải bán ḿnh để báo đáp ơn nhà. tiện hồng: Thuận tiện cánh chim hồng, tức là nhân có người mà gửi thư. Chữ hồng đây dùng như chữ nhạn, chỉ tin tức thư từ. tiên mai: Do chữ mai tiên, tờ hoa tiên có vẽ cành mai. tuất th́: Giờ Tuất, tức tám, chín giờ tối hiện nay. Hai chữ tích việt của Sở Khanh, đem tản ra, theo lối chiết tự, th́ thành những chữ Trấp nhất nhật tuất tẩu, nghĩa là ngày hai mươi mốt, giờ tuất, chạy trốn. Đó là Sở Khanh bí mật hẹn ngày giờ đi trốn mà Kiều đă lấy ư tứ suy đoán ra. thoi thót: Chim từng con lần lượt bay về, con này rồi đến con khác. ngậm gương nửa vành: Đây tả cảnh hoàng hôn. Khi ấy hoa trà mi đang cụp lại nửa chừng giống như nửa vành trăng. yến anh: Đây chỉ gái nhà chứa. Kiều nói: Nàng như con chim lạc đàn, lại phải mang lấy cái nợ làm gái nhà chứa. cốt nhục tử sinh: Do chữ sinh tử nhục cốt. Tả truyện: Sở vị sinh tử nhi nhục cốt dă (thế gọi là làm cho người đă chết sống lại, xương đă khô mọc thịt ra). Do đó, người ta thường dùng chỉ sự làm ơn rất sâu sắc, to lớn. kết cỏ ngậm vành: Tả truyện: Nguỵ Thù nước Tấn, có một người thiếp yêu, khi sắp chết, dặn con là Nguỵ Khoả phải đem cả người thiếp chôn theo. Nguỵ Thù chết, Nguỵ Khoả cho người thiếp về, không đem chôn theo. Sau Nguỵ Khoả làm tướng đi đánh nước Tần, gặp tướng Tần là Đỗ Hồi, khoẻ mạnh có tiếng, đang lúc đánh nhau, tự nhiên Đỗ Hồi vấp phải đám cỏ mà ngă, bị Nguỵ Khoả bắt được. Đêm về, Nguỵ Khoả mộng thấy một ông già đến nói rằng: “Tôi là cha người thiếp, cảm ơn ông không chôn con gái tôi, nên tôi kết cỏ quấn chân Đỗ Hồi cho nó vấp ngă, để báo ơn”. tục Tề hài kư: Dương Bảo đến chơi núi Hoa-âm, cứu sống được một con chim sẻ vàng. Đêm ấy có một đồng tử mặc áo vàng đến tặng bốn chiếc ṿng và nói rằng: “Ta là sứ giả của Tây vương mẫu, may được chàng cứu mạng, xin cảm đại ân”. Do đó, người ta thường nói “kết cỏ ngậm vành”, để chỉ sự đền ơn trả nghĩa. truy phong: Đuổi theo gió, nói con ngựa đi rất nhanh có thể đuổi theo được gió. dưới trướng: Do chữ trướng hạ, nguyên chỉ quân sĩ thuộc quyền chỉ huy của một vị tướng soái (nơi tướng soái đóng quân thường căng màn, nên gọi là dưới trướng). Đây dùng chỉ kẻ thủ hạ của Sở Khanh. Kiện nhi: Người trẻ tuổi mà có sức khoẻ. Sở Khanh khoe nhà y có ngựa tốt và thủ hạ khoẻ mạnh, là có ư bảo Kiều nếu chạy trốn th́ sẽ sẵn phương tiện và người hộ vệ chắc chắn, không phải lo ngại ǵ. ba mươi sáu chước: Nam sử: Vượng Kính Tắc nói: Tam thập lục sách, tẩu thị thượng kế (ba mươi sáu chước, chạy trốn là chước hay nhất). “Tam thập lục” là một danh từ chỉ chung tất cả các chước, các kế, chứ không phải có cụ thể ba mươi sáu chước. Câu này, Sở Khanh bảo Kiều chỉ có một kế hay nhất là chạy trốn. gió kép mưa đơn: ư nói những sự trở ngại bất trắc xảy ra. quá đỗi: Quá mức, quá đà, ư nói việc đă trót dở dang rồi. lậu: Nhỏ giọt (nói về đồng hồ nước). Thời xưa thường dùng “đồng hồ nước” để tính thời khắc. Đó là một cái đồng hồ bằng đồng, dưới đáy đục lỗ nhỏ, trong chứa nước, giữa đựng một cái tên có khắc từng độ; nước trong hồ do lỗ nhỏ giọt ra, th́ những độ ở cái tên cũng dần dần lộ ra, xem đó, biết được thời khắc của ngày đêm. Danh từ đồng hồ ngày nay c̣n quen gọi là gốc ở đó. ḷng quê: Ḷng nhớ quê hương. gan vàng: Có nghĩa như “ḷng vàng”. Câu này ư nói: Kiều đoán có người đuổi theo phía sau, nên hồi hộp sợ hăi... hoá nhi: Cũng như hoá công. vuốt: Móng sắc của loài thú. Cả câu ư nói không có vuốt để đào mà trốn xuống đất, không có cánh để bay trốn lên trời, tức là không thoát lối nào được. thú phục: Thú tội, chịu tội. nước non: ư nói cách trở nước non, tức là ở nơi xa xôi. bảo lĩnh: Người đứng ra bảo đảm, chịu trách nhiệm thay. cung chiêu: Cung khai, nhận mọi tội lỗi ḿnh đă phạm. Tú bà muốn thắt buộc Kiều giữ lời hứa, nên bắt nàng làm tờ cung chiêu nhận tội, và bắt người đứng bảo lĩnh về những lời cam kết của nàng. bày vai: Cùng hàng, cùng lứa. chịu đoan: Chịu nhận trách nhiệm về Kiều. phù dung: Hoa phù dung, ví với người đẹp. đà đao: Khi đánh giặc, giả thua chạy để cho đối phương đuổi theo, rồi th́nh ĺnh quăng đao lại chém, gọi là “đà đao”. “Đà đao” đây là “đà đao kế”, một chước lừa, một mẹo lừa, như miếng chém đà đao khi đánh giặc. một cốt một đồng: Nói Tú bà với Sở Khanh thông đồng, hiệp mưu với nhau để đánh lừa Kiều. sân si: Phân bua, căi cọ. Mă Kiều khuyên Kiều nên nén nỗi tức giận, chớ nên đôi co với Sở Khanh mà thiệt ḿnh. quyến gió rủ mây: Quyến rủ mây gió đi theo. ư nói quyến rủ Kiều đi theo. thị hùng: Cậy sức mạnh mà ra oai đánh đập người. anh, yến: Chỉ chung những người con gái. mặt ấy mặt này: Mấy tiếng này, Kiều xỉa xói vào mặt Sở Khanh mà nói, đối đáp lại tiếng “mặt này” của Sở Khanh ở trên. vô lương: Cũng như bất lương, không lương thiện, không có lương tâm. trong giá trắng ngần: Do câu tục ngữ: Trong như giá, trắng như ngần, trong như băng, trắng như bạc (ngần do chữ ngân là bạc). khép mở, riêng chung: Những mánh khoé quyến rủ ḷng khách của gái nhà chứa. vành ngoài bảy chữ: Bảy cách đối đăi với khách ở bề ngoài để làm cho khách say mê. vành trong tám nghề: Tám cách đối đăi trong khi ăn nằm với khách, đối với mỗi hạng người, dùng một lối riêng, để làm vừa ḷng họ. khoé hạnh: Khoé mắt, mắt sắc như lá hạnh. Khi khoé hạnh, khi nét ngài: ư nói khi mắt liếc, khi mày đưa. người soi: Người sành sỏi, lịch lăm, biết đủ ngón chơi. nét nguyệt: Nét lông mày h́nh vành trăng. vẻ hồng: Vẻ mặt hồng. khắt khe: ở đây như nói éo le, quái ác. các, khuê: Do chữ khêu các. trướng đào: Màn màu đỏ, phụ nữ thường dùng. lá gió cành chim: Lá đưa gió, cành đón chim, chỉ sự đưa đón khách chơi. Tống Ngọc: Người nước Sở, đời Chiến quốc, đẹp trai, có những bài Cao đường phú, Thần nữ phú, nói về chuyện “mây mưa” của thần núi Vu-sơn... tràng Khanh: (Chính là chữ Trưởng nhưng ta thường đọc là Trường hay Tràng). Tên tự của Tư Mă Tương Như, người Hán, yêu sắc đẹp của Trác Văn Quân, gẩy đàn cầm gợi t́nh, làm cho nàng đang đêm bỏ nhà trốn theo ḿnh. tống Ngọc và Tràng Khanh đều giỏi từ phú, là hai người tài khách thời xưa, do đó, câu này ngụ ư khách đến chơi toàn những hạng phong lưu quí phái. Mưa Sở, mây Tần: Chỉ sự ái ân trai gái. gió tựa, hoa kề: ư nói những cảnh vui thú ở chốn thanh lâu. tuyết ngậm: Tuyết đă ngậm vào nửa bức rèm. trăng thâu: Bóng trăng sáng tỏ, soi khắp bốn bề. Hai câu 1241-1242 tả bốn cảnh: “gió, hoa, tuyết, trăng” (phong, hoa, tuyết, nguyệt). "Đ̣i phen nét vẽ câu thơ, Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa": Hai câu này tả bốn thú chơi: gẩy đàn, đánh cờ, ngâm thơ, vẽ tranh, (cầm, kỳ, thi, hoạ). gió trúc mưa mai: Mưa gió chỉ sự ái ân (như nghĩa mưa gió dập vùi), trúc mai chỉ sự bầu bạn. chín chữ: Thơ Lục nga ở Kinh Thi nói về công ơn nuôi con khó nhọc của cha mẹ, có nêu lên chín chữ, người sau gọi là cửu tự cù lao (chín chữ khó nhọc). bóng dâu: Bóng mặt trời xế trên ngọn dâu. Sách Hoài nam tử nói: Mặt trời xế về phương Tây, gác bóng trên ngọn cây, gọi là “tang du” (cây dâu, cây du). Người sau mượn chữ bóng dâu để ví với tuổi già. sân hoè: Sân có trồng cây hoè. Vương Hựu đời Tống tự tay trồng ba cây hoè ở sân và nói: “Con cháu ta sau này thế nào cũng có người làm đến chức tam công”. (Thời xưa, ở phía trước sân chầu nhà vua, chỗ ngồi của tam công, có trồng ba cây hoè, nên Vương Hựu mới trồng hoè và nói như thế). Sau con Vương Hựu là Vương Đán làm đến tể tướng. Nhân đó, người ta thường nói sân hoè để chỉ những nhà có con cái hiển đạt. ở đây, tác giả dùng với nghĩa “con cái trong nhà” nói chung. đôi chút thơ ngây: Chỉ Thuư Vân và Vương Quan. trân cam: Những thức ăn quí báu, ngon ngọt. Hai câu này, ư Kiều nói: Cha mẹ mỗi ngày một già, mà con cái trong nhà, th́ sau khi nàng đi rồi, chỉ c̣n hai em nhỏ dại, lấy ai là người phụng dưỡng trân cam thay ḿnh. Chương-đài: Theo sách Thái b́nh quảng kư: Hàn Hoành, đời Đường, lấy một danh kỹ là Liễu thị ở đường phố Chương-đài, Trường-an, sau đi làm quan xa, để Liễu thị ở lại đó ba năm, không đón đi được, có gửi cho nàng bài từ rằng: Chương-đài liễu, Chương-đài liễu, tích nhật thanh thanh kim tại phủ? Túng sử trường điều tự cựu thuỳ, dă ưng phan chiết tha nhân thủ! (Cây liễu Chương-đài, cây liễu Chương-đài, ngày trước xanh xanh, nay c̣n không? Cho dù cành dài vẫn buông rủ như cũ, song có lẽ đă vin bẻ vào tay người khác rồi!). Đây ư nói: Khi Kim Trọng đi Liêu-dương, hộ tang chú trở về, sẽ hỏi lại người t́nh nhân cũ (là Thuư Kiều). t́nh sâu: Chỉ t́nh chị em, Nghĩa dày: Chỉ nghĩa vợ chồng. ư nói Kiều mong Thuư Vân lấy t́nh chị em thay ḿnh, trả nghĩa cho Kim Trọng. hoa kia, cành này: “Hoa kia” chỉ Thuư Vân, “cành này” chỉ Kim Trọng. giấc hương quan: Giấc mộng về quê hương. thỏ bạc, ác vàng: Như nói “thỏ lặn, ác tà”, tức ngày và đêm lần lượt qua đi. khách du: Khách đi chơi. Kỳ tâm: Theo Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân th́ Kỳ Tâm là tên tự của Thúc sinh. Huyện Tích, châu thường: Tức huyện Vô-tích, phủ Thường-châu, thuộc tỉnh Giang-tô (Trung-quốc). nghiêm đường: Tức cha. Cha tính nghiêm nghị, nên người ta gọi cha là “nghiêm phụ”, “nghiêm đường”. hoa khôi: Đứng đầu các hoa, nguyên là một danh từ chỉ hoa mai, v́ hoa mai nở trước mọi thứ hoa (mai nở hoa trước mùa xuân), sau mượn để chỉ người con gái có nhan sắc nhất trong các bè bạn chị em. thiếp hồng: Do chữ hồng tiên thứ thiếp hồng gửi vào thăm kỹ nữ. hương khuê: Pḥng hương, pḥng ở của phụ nữ. trướng tô: Do chữ lưu tô trướng, thứ màn có tua kết bằng lông chim năm sắc. lẽ hằng: Lẽ thường như thế. sớm đào, tối mận: ở đây ư nói qua lại gian díu với nhau. dá vàng: Chỉ sự đồng tâm gắn bó với nhau. chuốc: Do chữ Chước, rót rượu mời nhau. nối thơ: Nối câu thơ, do chữ “liên cú”, một lối chơi của các tao nhân mặc khách thời xưa, thường hai người, hoặc nhiều người nối lời nhau làm chung một bài thơ. hương sớm, trà trưa: Xông hương buổi sớm, uống trà buổi trưa. bàn vây: Bàn cờ vây. Trung-quốc có hai lối đánh cờ: vi kỳ: Cờ vây, có một chiếc bàn chia ngang dọc đều nhau 19 đường, và 300 quân cờ, nửa trắng nửa đen, hai bên dùng quân bao vây nhau. tượng kỳ: Tức cờ tướng. truy hoan: Theo đuổi sự vui chơi. sóng khuynh thành: Chỉ cái liếc nh́n của đàn bà đẹp, lấy ư ở câu ca của Lư Duyên Niên đời Hán. bốc rời: Tiền rời cứ bốc từng nắm mà chi, không cần đếm là bao nhiêu, ư nói tiêu vung phí, không tiếc tiền. hơi đồng: Tức mùi tiền bạc. Thời xưa, tiền tiêu đúc bằng đồng, nên nói “đồng” tức là tiền. lửa lựu: Một danh từ mà các nhà thơ dùng chỉ hoa lựu khi nó nở trông đỏ chói như lửa. luật Đường: Tức lối thơ ngũ ngôn luật (luật năm chữ) hay thất ngôn luật (luật bảy chữ), mỗi bài tám câu, năm vần, theo đúng niêm luật bằng trắc. Lối này có từ đời Đường, nên gọi là luật Đường. nối điêu: Nối đuôi con điêu. “Điêu” là một loài chuột ở rừng núi miền lạnh, đuôi to, lông dài đến một tấc, màu vàng hoặc đen tía. Đời Hán, theo quan chế, các quan hầu cận vua đều đội thứ mũ có cắm đuôi con điêu làm ngù. Đến đời Tấn, Triệu Vương Luân cướp ngôi Huệ đế, phong quan tước cho cả bọn tôi tớ, mỗi khi triều hội, ngồi đầy những người đội mũ đuôi điêu, nên người thời ấy đă chế giễu: Điêu bất túc, cẩu vĩ tục (đuôi điêu không đủ, lấy đuôi chó nối vào). Người sau nhân dùng chữ cẩu vĩ tục điêu mà nói tắt là tục điêu (nối điêu) để chỉ những sự việc ǵ có tính chất học đ̣i. Chữ “nối điêu” ở đây, là lời Kiều tự khiêm về việc hoạ lại thơ Thúc sinh. nỗi quê: Nỗi ḷng nhớ quê hương. mây vàng: Nói ư nhớ nhà, do câu văn cổ: Tần trung đa bạch vân. Thục trung đa hoàng vân, cố tư gia giả vị chi tư hoàng vân (đất Tần nhiều mây trắng, đất Thục nhiều mây vàng, cho nên nhớ nhà gọi là nhớ mây vàng). cành kia, cỗi này: Chỉ Kiều và Tú bà. Thúc sinh tưởng Kiều là con đẻ của Tú bà. thu ba: Sóng mùa thu, chỉ con mắt (nói con mắt trong suốt như nước mùa thu). chúa xuân: Người chủ vườn xuân, chủ hoa xuân, đây chỉ Thúc sinh. Câu này ư nói: Thúc sinh ở nhà đă có vợ rồi. thú, ṭng: Thú là “thú thiếp”: lấy vợ lẽ, chỉ bên Thúc sinh; ṭng là “ṭng lương”: trở về lương, tức bỏ chỗ lầu xanh để trở về, đi lấy chồng, chỉ bên Kiều. Hai bên cùng gặp điều khó khăn. B́nh-khang: Đời đường, ở kinh thành Trường-an, gần cửa bắc, có một xóm gọi là B́nh-khang, là xóm kỹ nữ ở, sau nhân dùng làm danh từ chỉ chung xóm kỹ nữ. thềm quế: Sách Dậu dương tạp trở chép: Trên mặt trăng có cây quế, cao năm trăm trượng, do đó, khi tả mặt trăng, người ta thường dùng chữ điện quế, cung quế. chị Hằng: Chị Hằng nga, người chủ trương trong điện quế, nói bóng vợ cả Thúc sinh. giải đồng: Giải đồng tâm. Thêm người, người cũng chia ḷng riêng tây: Chữ người trên chỉ Kiều, chữ người dưới chỉ Thúc sinh. bèo mây: Nói thân phận trôi nổi, bất định, như bèo mặt nước, mây trên không. bể ái: Bể ân ái, tức t́nh yêu vợ chồng. vững tay co: Cái tay co vững. Kiều nói: Nếu chàng có cứng tay, tức có quyền lực đối với vợ cả. trong, ngoài: Chỉ vợ cả và Thúc Sinh. Theo lễ giáo xưa: nam trị ngoại, nữ trị nội: Đàn ông trông coi việc bên ngoài, đàn bà trông coi việc trong nhà, nên đây đặt là trong, ngoài. Kiều nói: Nếu thế lực vợ cả mạnh hơn thế lực chàng. hàm sư tử: Như nói miệng sư tử, sư tử là loài thú dữ, ví với người đàn bà ghen tuông độc ác. Đời Tống, Trần Tháo, hiệu Long Khâu cư sĩ, hay nói chuyện đạo Phật, vợ là Liễu Thị, tính dữ tợn mà cả ghen, mỗi khi Tháo thết tiệc tân khách, có ca kỹ, th́ ở trong nhà. Liễu thị lấy gậy đập vào vách, ḥ hét, khách phải giải tán. Tô Thức, bạn Tháo, viết mấy câu thơ đùa: "Thuỳ tự Long khâu cư sĩ hiền Đàm không thuyết hữu dạ bất miên Hốt văn Hà-Đông sư tử hống Trụ trượng lạc thủ tấm mang nhiên" Dịch nghĩa: "Ai giỏi như Long khâu cư sĩ, Nói những thuyết không, thuyết có, đêm không ngủ, Bỗng nghe sư tử Hà-đông rống lên, Tay rơi gậy chống, ḷng bàng hoàng". đằng la: Những loại dây leo (Chính nghĩa là dây b́m, dây tơ hồng) đây dùng như chữ cát đằng, dây sắn, dây b́m, ví với phận lẽ mọn. giấm chua: Do chữ “thố ư” (ư giấm chua) hay nói tắt là “thố” (giấm chua) chỉ sự ghen tuông của người phụ nữ. lửa nồng: Do chữ “hoả khanh” (hầm lửa), chỉ cảnh khổ ở lầu xanh. Đại ư câu này nói: Sự khổ sở v́ bị vợ cả ghen tuông, hành hạ c̣n gấp mấy nỗi khổ ở lầu xanh. Một số cố lăo ở Nghệ-Tĩnh thuộc hai chữ đầu câu này là: Dấm vùi hay Nhúm vùi. ư nói: lửa bếp vùi âm ỉ cháy (chỉ thói ghen tuông) c̣n khó chịu hơn cả lửa nồng. nhà thông: Nhà thung, đọc chạnh ra. ở đây chỉ bố Thúc Sinh. liễu ngơ, hoa tường: Nói ví gái lầu xanh như liễu bên đường, hoa đầu tường, ai vin ai hái cũng được. Ngô, Lào: Nước Ngô (Trung Quốc), nước Lào (Ai-Lao) tác giả dùng nghĩa bóng. ư nói: Đừng nghĩ ngợi xa xôi, quanh quẩn làm ǵ. phong ba: Sóng gió, chỉ sự bất trắc xảy ra. non đoài: Núi ở phía tây. trúc viện: Viện trúc, nơi nghỉ mát có trồng trúc chung quanh. thừa lương: Hóng mát, nghỉ mát, Thúc sinh mượn cớ là đưa Kiều đi hóng mát. chiến, hoà: ở đây, chiến là doạ chuyện kiện cáo, hoà là lựa cách điều đ́nh. Theo Kim Vân Kiều truyện của Thanh tâm tài nhân: Thúc sinh đưa Kiều về ở nhà Hoa Dương, một tay hào phú xứ ấy, rồi một mặt cậy Hoa Dương rêu rao là sẽ kiện Tú bà về tội mua con gái nhà lương thiện về làm gái điếm, một mặt mượn Bộ Tân đến điều đ́nh việc chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh. hoàn lương: Gái đĩ bỏ nghề tiếp khách trở về cuộc sống lương thiện. trần ai: Bụi bậm, chỉ cảnh lầu xanh. trúc mai: ở đây chỉ sự sum họp của vợ chồng. hương lửa: Chỉ t́nh duyên vợ chồng. ngọc, sen: Chữ ngọc ở đây chỉ một đôi ngọc, chữ sen chỉ một đôi hoa sen, ví với đôi vợ chồng hoà hợp. sân ngô: Sân có trồng cây ngô đồng. Ngô đồng là một loài cây cao, cành lá xanh biếc, nên thường gọi là bích ngô (cây ngô biếc). ư nói cây ngô đồng ngoài sân đă điểm một vài lá vàng giữa cḥm lá xanh biếc, tức trời đă sang thu. giậu thu: Giậu hoa mùa thu. gị sương: Gị hoa chịu được sương, ư nói chỉ hoa cúc. phong lôi: Gió, sấm, nói cơn giận nổi lên dữ dội như gió, như sấm. nặng ḷng e ấp: Thúc ông trong ḷng lấy làm e sợ, nghĩ ngợi lắm về việc để cho con lấy gái lầu xanh như thế, không những làm xấu thanh danh nhà ḿnh, mà đối với nhà Hoạn thư cũng sẽ có chuyện lôi thôi. nghiêm huấn: Lời dạy của cha. Dẫu rằng sấm sét, búa ŕu cũng cam: ư nói dẫu đánh mắng hay giết chết cũng xin chịu. tay đă nhúng chàm: Cái tay đă nhúng vào chàm, th́ dù rút ra, cũng bị nhuộm xanh rồi. Ôm cầm, ai nỡ dứt dây cho đành!: Câu này tiếp ư câu trên nói: Đă lấy nhau thành vợ chồng, th́ nỡ nào lại ĺa bỏ, cũng như đă ôm đàn cầm mà gẩy th́ nỡ nào lại dứt dây cho được. sốt gan: Nóng gan, như nói nóng tiết. cáo qú: Cáo là thưa tŕnh, qú là qú gối, tức qú gối mà đệ đơn thưa tŕnh. phủ đường: Dinh quan phủ, ở đây chỉ quan phủ. phiếu hồng: Tờ trát của quan. thôi tra: Đ̣i lên, bắt lên mà xét hỏi. sân hoa: Sân phủ đường (Chữ hoa ở đây chỉ là đặt cho đẹp lời). mặt sắt: Do chữ thiết diện, mặt cứng rắn như sắt, thường mượn để chỉ một vị quan cương trực, nghiêm nghị. Nhưng ở đây mặt sắt đen ś lại bao hàm ư dữ tợn và đáng ghét. nguyên đơn: Đơn của người nguyên cáo, tức Thúc ông (Thúc sinh và Kiều là bị cáo). gia h́nh: Gia h́nh phạt, ở đây là phạt trượng tức dùng trượng (gậy) mà đánh. Nhện này vương lấy tơ kia mấy lần!: ư Kiều nói: Đă quyết t́nh hoàn lương rồi, không muốn lại lần nữa mắc vào cảnh lầu xanh, như con nhện lại vương víu vào lưới tơ... yếu thơ: Yếu ớt, thơ dại. lôi đ́nh: Sấm sét, chỉ h́nh phạt. ba cây: Do chữ tam mộc là ba thứ h́nh cụ bằng gỗ thời xưa, tức già, nữu, giới (cái gông cổ, cái kẹp tay và cái cùm chân). ở đây, chữ ba cây có lẽ chỉ các h́nh phạt nói chung, chứ không nhất định là cả gông cổ, kẹp tay, cùm chân (v́ Kiều chỉ bị phạt trượng). ở dưới có chữ một cành, nên đặt là ba cây cốt cho lời văn đối nhau. mẫu đơn: Cành hoa đẹp, ở đây ví với Kiều. phủ đường: Đây là nói quan phủ, giống như trong câu 1406. cầu thân: Cầu làm thân, nói việc định lấy nhau. giải vi: Cởi, gỡ ṿng vây ra, đây ư nói quan phủ thương t́nh, ra lệnh ngừng đánh, tha đ̣n cho Kiều, như tháo ṿng vây cho nàng vậy. mộc già: Cái gông. Đầu đề bài thơ là vịnh cái gông. giá lợt Thịnh Đường: ư nói làm mờ nhạt cả thơ đời Thịnh Đường. Thịnh Đường là giai đoạn thơ Đường phát triển hơn cả. Châu Trần: ở châu Từ, về huyện Phong, xưa kia có họ Châu và họ Trần, đời đời làm thông gia với nhau, về sau người ta dùng hai chữ Châu Trần để chỉ sự kết hôn của hai bên nam nữ. rước dữ, cưu hờn: Mua rước lấy điều dữ và cưu mang lấy sự hờn giận. cổ xuư: Nhạc bát âm. Cổ là những nhạc khí dùng để đánh như chiêng, trống. Xuư là những nhạc khí để thổi, như kèn, sáo. trướng đào: Màn hoa đào, đây chỉ buồng cưới. huệ lan: Hoa huệ, hoa lan, ngụ ư nói cảnh sum họp. mảng: Tiếng cổ nghĩa là mải mê. Đào đà phai thắm, sen vừa nảy xanh: ư nói hết mùa xuân và bắt đầu sang mùa hạ. chữ ṭng: Đạo ṭng phu. Đổi thay nhạn yến đă ḥng đầy niên: Chim én (mùa xuân) chim nhạn (mùa thu), đổi thay nhau, ư nói từ mùa nọ qua mùa kia. ở đây ư nói thời gian trôi thấm thoát đă gần được một năm. tao khang: Bỗng (bă rượu), cám. Người vợ cùng ăn bỗng, ăn cám với nhau, tức là người vợ cả lấy từ lúc c̣n hàn vi. Vua Quang Vũ nhà Hán muốn đem người chị gái mới goá là công chúa Hồ Dương gả cho Tống Hoằng, nhưng Hoằng đă có vợ. Vua hỏi ư Hoằng, Hoằng thưa: Tao khang chi thê bất khả hạ đường, nghĩa là người vợ lấy trong lúc ăn bỗng, ăn cám không thể đẩy xuống dưới thềm (tức rẫy bỏ). Vua biết ư vậy, liền thôi. phi thường: Khác với người thường, ư nói người sâu sắc hiểm độc. hồi trang: ở đây có nghĩa là về quê. ninh gia: Về thăm nhà. quan hà: Quan là cửa ải, hà là sông. chén quan hà: Chén rượu tiễn biệt. xuân đ́nh: Chưa thực rơ nghĩa. Có thể hiểu là nơi xum họp vui vẻ. cao đ́nh: Cổ thi: Cao đ́nh tương biệt xứ, chỗ biệt nhau ở cao đ́nh. sông Tần: Sông ở đất Tần-xuyên, mạn tỉnh Cam-túc. Theo Tản Đà th́ sông Tần ở đây không phải là lời văn hư phiếm mà chính là trỏ vào con sông thực tức là sông Tần-hoài, thuộc tỉnh Giang-tô, quê Thúc sinh (Vô-tích), nhưng Kiều và Thúc sinh từ biệt nhau ở Lâm-tri, như vậy hai chữ này vẫn chỉ có nghĩa ước lệ, tượng trưng thôi. Dương-quan: Tên một cửa ải ở biên giới tỉnh Thiểm-tây, mạn Tây Bắc Trung-quốc. yếm thắm trôn kim: Chưa thực rơ nghĩa. Đại ư câu này nói: Kiều cho rằng việc hai người lấy nhau là một việc không thể giấu kín được. bưng mắt bắt chim: Do chữ yểm mục bộ tước, ư nói muốn bắt chim nhưng sợ nó trông thấy, rồi tự bưng mắt ḿnh lại cho được yên ḷng, có biết đâu chỉ bưng được mắt ḿnh chứ không bưng được mắt chim, nên vẫn không bắt được chim, nói ví một sự che giấu vô lư (cũng một ư nghĩa với chữ yểm nhĩ đạo linh: bưng tai trộm nhạc). đèo ḅng: Có nghĩa là vương vít t́nh duyên. nói ṣng: Tức nói thẳng, nói trắng ra, không quanh co giấu giếm. bào: áo. Thường thường trong khi ly biệt người ta hay nắm lấy áo nhau, tỏ t́nh quyến luyến. Chia bào tức là “buông áo”. phong: Một loại cây ở Trung-quốc, lá chia ra nhiều cánh, gần giống lá cây thầu dầu bên ta, đến mùa thu th́ sắc lá hoá đỏ. quan san: Quan ải, núi non, đây chỉ cảnh sông núi trên đường xa. dặm hồng: Dặm đường đi giữa bụi hồng. Chinh là đi đường xa, an là yên ngựa. Người ta thường dùng hai chữ chinh an để chỉ việc đi đường xa. buồng trong: Chỉ vào người vợ. Câu này đại ư nói: Bây giờ hăy nói đến người vợ Thúc sinh làm chủ gia đ́nh ở quê nhà. lại bộ: Bộ Lại, tức là bộ quan trọng nhất trong sáu bộ của triều đ́nh phong kiến. duyên Đằng: Ngạn ngữ Trung-quốc có câu: Thời lai phong tống Đằng vương các (Thời vận đến, gió đưa lại gác Đằng vương). ư nói gặp cơ hội may mắn. vườn mới thêm hoa: ư nói Thúc sinh có thêm vợ lẽ. đen bạc: Cùng nghĩa như bạc bẽo, phụ bạc. trăng hoa: Do chữ hoa nguyệt mà ra, ư chỉ sự chơi bời trai gái. nền: Nền nếp của người trên kẻ cả. "Cho người thăm ván bán thuyền biết tay": Tục ngữ: Chưa thăm ván đă bán thuyền. ở đây, chỉ Thúc sinh là người vừa được mới đă nới cũ. thị phi: Có nghĩa là việc phải th́ nói thành trái, việc trái th́ nói thành phải, thêu dệt phải trái làm cho người nghe mắc lầm. lầu hồng: Do chữ hồng lâu, chỉ nhà ở của bọn quyền quí, cũng dùng để chỉ chỗ ở của hạng phụ nữ giàu sang. tẩy trần: Rửa bụi. Tục xưa, khi có người đi xa về th́ đặt tiệc “tẩy trần”, ư nói rửa sạch bụi bặm trong lúc đi đường. Rằng: "Trong ngọc đá vàng thau, Mười phần ta đă tin nhau cả mười: Đại ư nói ngọc hay đá, vàng hay thau, đôi ta đều đă biết phân biệt rạch ṛi không thể nào lầm lẫn được. thuần: Là một thứ rau, hức là một thứ cá. Trương Hàn đời nhà Tấn, đang lúc làm quan ở xa, thấy cơn gió thu, sực nhớ đến canh rau thuần và gỏi cá hức ở quê nhà, bèn bỏ quan mà về. V́ thế người ta thường dùng hai chữ thuần hức để chỉ phong vị nơi quê nhà. cổ thi: Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu: (một lá ngô đồng rụng xuống ai cũng biết là thu sang). Câu này đại ư nói: Thúc sinh ở quê nhà vừa bén mùi rau cá th́ trời đă bắt đầu sang thu. quan tái: Cũng như quan ải, chỉ cảnh núi sông ngăn cách. mây bạc: Do chữ bạch vân mà ra. Địch Nhân Kiệt đời Đường đi làm quan xa, thường chỉ đám mây trắng trên núi Thái-hàng mà nói: “Nhà cha mẹ ta ở đấy”. ở đây dùng để nói Thúc sinh có cha ở xa. xe hương: Do chữ hương xa, chỉ xe của phụ nữ. qui ninh: Về thăm hỏi cha mẹ. Nghĩ rằng: "Ngứa ghẻ hờn ghen: Thành ngữ: Ngứa ghẻ hờn ghen, ư nói hai điều khó chịu nhất. hải đạo: Đường biển. mầu: Mầu nhiệm. Câu này ư nói: Mẹ Hoạn thư khen cái mưu ấy rất diệu, rất hay. lèo: Dây treo buồm. khuyển: Chó. Ưng: chim cắt, hai loài vật trung thành dùng để đi săn. ở đây dùng để đặt tên cho bọn tôi tớ trung thành của họ Hoạn. côn quang: Cũng như côn đồ, dùng để chỉ bọn vô lại. thuận phong: Thuận gió. Một lá: Một lá buồm. Kiều lúc ấy đang ở Lâm-tri. Lâm-tri nguyên là kinh đô nước Tề xưa nên gọi là bến Tề. ấm lạnh: Do chữ Ôn sảnh (Đông ôn hạ sảnh); ngọt bùi do chữ cam chỉ. Cả câu ư nói: Làm con phải quạt nồng ấp lạnh và phụng dưỡng những thức ngon lành cho cha mẹ. sắn b́m: do chữ cát đằng. cung Quảng: Cung Quảng hàn trong mặt trăng, ả Hằng tức ả Hằng Nga trong cung Quảng hàn. Hằng Nga là vợ Hậu nghệ, trộm thuốc trường sinh của chồng rồi chạy lên ở một ḿnh trên cung trăng. Câu này đại ư nói: Thôi th́ liều sống một ḿnh như Hằng Nga trong cung Quảng hàn vậy. ba sao: Do chữ Kinh Thi: Tam tinh tại thiên (ba sao ở trời) chỉ cḥm sao “Tâm”, gồm ba ngôi đứng chéo góc với nhau. ở đây tác giả chỉ mượn câu ấy để nói đêm đó ngoài song gió thổi, giữa trời có trăng, có sao, v.v... khốc quỷ, kinh thần: Quỷ phải khóc, thần phải sợ, ư nói rất là ghê gớm, đáng sợ. di hài: Hài cốt c̣n sót lại. khâm liệm: Lễ mặc quần áo mới và bọc vải lụa cho người chết trước khi bỏ vào áo quan. Tang trai: Lễ đưa ma và làm chay. lục tŕnh: Đi đường bộ. trung đường: Nhà chính giữa. linh sàng: Giường thờ. bài vị: Mảnh gỗ viết tên người chết để thờ. vĩnh quyết: Cũng như vĩnh biệt, từ biệt hẳn, không bao giờ gặp nhau nữa. phi phù trí quỷ: Đốt bùa thổi tàn cho bay đi mà gọi được quỷ đến. thông huyền: Thông cảm được với cơi huyền bí, tức cơi quỷ thần. tam đảo: Ba đảo tiên: Bồng-lai, Phương-trượng, Doanh-châu. Người ta thường dùng để chỉ cơi thiêng liêng, hoặc cơi tiên. cửu tuyền: Chín suối, tức là âm phủ. đạo nhân: Cũng như đạo sĩ, chỉ ông thầy pháp. tĩnh đàn: Đàn thờ thần thánh của bọn thầy pháp. xuất thần: Linh hồn thầy pháp thoát ra ngoài thể xác để đi vào cơi thần linh. mệnh cung: Cung bản mệnh, một trong 12 cung của số Tử vi. Sách số Tử vi có câu: Cung mệnh mà có sao Bột chiếu vào th́ người ấy mắc nạn. Câu này đại ư nói: Xem số Thuư Kiều th́ đang mắc nạn to. chiền chiền: Tiếng cổ, có nghĩa là rành rành, hoặc liền liền. đồng cốt: Ông đồng bà cốt, những người làm nghề cầu đồng, cầu bóng. cánh suyền: Cánh buồm đi nhanh. hoàng lương: Kê vàng. Xưa Lư sinh đời Đường đi thi không đỗ, gặp ông già họ Lă cho mượn cái gối nằm ngủ. Chàng mơ thấy ḿnh thi đỗ, làm quan vinh hoa phú quư hơn 20 năm. Lúc tỉnh giấc th́ nồi kê của nhà hàng nấu chưa chín. Người sau bèn dùng hai chữ hoàng lương để chỉ giấc mộng phú quí. Nhưng ở đây, hoàng lương chỉ có nghĩa là giấc mơ. hồn mai: Xưa có người gặp cô gái đẹp trong rừng, cùng uống rượu, sáng dậy thấy ḿnh nằm dưới gốc cây mai. Nhưng ở đây tác giả dùng hai chữ hồn mai chỉ là để cho câu văn thêm nhă, chứ không có ư dùng điển. ả hoàn: Tên gọi chung các đầy tớ gái trẻ tuổi. thiên quan trủng tể: Thiên quan là loại quan đứng đầu sáu loại quan do nhà Chu đặt ra. Trủng tể tức là chức tể tướng, thuộc về Thiên quan. Đời Đường Tống về sau, không đặt sáu quan, mà đặt sáu bộ, đứng đầu là Lại bộ và Lại bộ thượng thư cũng coi như Thiên quan trủng tể của nhà Chu. ở đây, cha Hoạn thư làm Lại bộ thượng thư nên có bài treo như thế. thất bảo: Bảy sản vật quí như vàng, bạc, lưu ly, xà cừ, mă năo, san hô, trân châu. ở đây chỉ cái giường có khảm các vật quí. mèo mả gà đồng: Chưa thực rơ nghĩa. Có thể là mèo hoang sống ở mồ mả; gà hoang sống ở ngoài đồng. Người ta thường dùng để ví với hạng người lông bông giang hồ, không có chỗ ở nhất định. Hoặc do chữ dă miêu, một loài cáo và điền kê tức là con ếch. Người ta dùng để chỉ hạng trai gái dâm dật không chính chuyên. gia pháp: Phép tắc trong nhà. Gia đ́nh phong kiến đời xưa thường đặt gia pháp thành ra một thứ pháp luật riêng để trừng phạt gia nhân và tôi tớ. trúc côn: Gậy tre. đào lư: Cây đào, cây lư thường dùng để chỉ phụ nữ. phiên thị t́: Thị t́ ở nhà quyền quư rất nhiều, chia ra từng ban và từng phiên mà hầu hạ nên gọi là phiên thị t́. thanh y: áo xanh. Đầy tớ gái các nhà giàu sang ngày xưa đều mặc áo xanh nên gọi chung là thanh y. quản gia: Trong gia đ́nh quan lại phong kiến đời xưa, thường dùng những người đàn bà đứng tuổi trông coi việc nhà và cai quản số hầu gái, gọi là quản gia. phương tiện: Phương chức tiện lợi, nguyên là chữ nhà Phật, sau thường mượn để chỉ sự ǵ có ích lợi cho người khác. lời phương tiện: Những lời bảo ban có ích lợi cho Kiều. hiếu sinh: Quư trọng sinh mệnh, ư nói có ḷng nhân ái, muốn tránh cho người ta con đường khổ sở chết chóc. oan nghiệt: Tiền oan, nghiệp chướng, ư nói có oan thù và tội lỗi từ thời trước để lại. tai vách mạch rừng: Do câu thành ngữ: Rừng có mạch, vách có tai. phong trần: Nghĩa đen là gió bụi, thường được dùng để chỉ sự khổ sở mà đời người phải chịu. túc trái tiền oan: Nợ nần, oan thù từ kiếp trước để lại. địa ngục, thiên đàng: Theo giáo lư đạo Phật th́ những người độc ác sau khi chết phải xuống địa ngục để chịu tội, c̣n hồn những người lương thiện th́ được lên thiên đàng (thiên đường). ở đây ư nói nơi khổ ải và nơi sung sướng. trúc tơ: Do chữ ty trúc: Ty là tơ để làm dây đàn, trúc là tre để làm ống sáo. Hai chữ này thường được dùng để chỉ các thứ âm nhạc nói chung. tương phùng: Gặp nhau. Câu này ư nói Thuư Kiều nghĩ rằng, t́nh nghĩa giữa ḿnh với Thúc sinh muốn nối lại th́ hoạ chăng chỉ ở kiếp khác. Bốn phương mây trắng một màu: Câu này ư nói Thuư Kiều trông ra bốn bề th́ thấy đâu cũng man mác một màu mây trắng mà không thấy quê nhà (không phải dùng điển mây Thái hàng để nói nhớ cha mẹ). cố quốc: Nguyên nghĩa là nước cũ, sau cũng dùng như chữ cố hương (quê cũ). uyên: Do chữ uyên ương, giống chim ở với nhau từng đôi nên người ta thường dùng để chỉ vợ chồng. Uyên bay: ư nói Thuư Kiều không c̣n nữa. trăng mới: Trăng đầu tháng. Câu này ư nói: Thúc sinh trông thấy mặt trăng lưỡi liềm đầu tháng giống như lông mày người gái đẹp mà tưởng nhớ đến Kiều. Phấn thừa hương cũ bội phần xót xa!: Câu này ư nói Thuư Kiều không c̣n nữa, Thúc sinh trông thấy phấn hương của nàng c̣n sót lại mà thương tâm. cố nhân: Người cũ. ở đây chỉ Thuư Kiều. gia hương: Quê hương nhà ḿnh, quê nhà. ở đây chỉ quê hương của Thúc sinh ở huyện Vô-tích. nhà hương: Do chữ hương khuê. động dong: Biến đổi sắc mặt, ư nói động ḷng. hiếu phục: Tang trở cha mẹ. ở đây chỉ Thúc sinh vừa hết tang mẹ. trắc dĩ: Kinh thi có câu: Trắc bỉ Dĩ hề, chiêm vọng mẫu hề (Lên núi Dĩ trông ngóng mẹ). Người sau bèn dùng hai chữ trắc Dĩ để nói thương nhớ mẹ. chung thiên: Suốt đời, ư nói không bao giờ quên. hiếu tử: Người con có hiếu với cha mẹ. thù: Chén rượu do chủ nhà rót mời khách. tạc: Chén rượu do khách rót cho chủ để đáp lại. ở đây nói vợ chồng Thúc sinh uống rượu và mời mọc nhau. tŕ hồ: Bưng bầu rượu. Hoạn thư bắt Kiều đứng hầu một bên để rót rượu cho hai vợ chồng ḿnh uống. Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm!: Người ngoài là người ngoài cuộc, chỉ Hoạn thư; người trong là người trong cuộc, chỉ Thúc sinh và Kiều. giọt rồng: Có nghĩa là thời giờ, thời khắc. loan pḥng: Pḥng nằm của đôi vợ chồng. thuư: Chim chả. Uyên: Chim uyên ương. ở đây chỉ việc Hoạn thư dùng mưu chia rẽ đôi lứa Thúc sinh và Thuư Kiều. đài dinh: Đài các, dinh thự, chỉ chỗ ở của bọn quyền quư. ở đây mượn để chỉ nhà ở của Thúc sinh và Hoạn thư. thân cung: Cung khai, khai tŕnh. diện tiền: Trước mặt. cửa không: Do chữ Không môn, Đạo Phật cho mọi vật trên thế gian đều là “không” nên người ta gọi đạo Phật là “Không môn”. Quan âm các: Cái chùa để thờ Phật Quan thế âm bồ tát. Đây là chùa riêng của nhà Hoạn thư. cổ thụ: Cây lâu năm. sơn hồ: Núi giả và hồ đào ra để làm cảnh. tâng tâng: Tang tảng sáng. ngũ cúng: Năm vật cúng Phật, tức hương, hoa, đăng, trà, quả. tam quy: Ba lễ “quy y”, tức quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, nghĩa là đem cả tâm và thân mà tin theo, nương nhờ đạo Phật. ngũ giới: Năm điều răn, tức là răn sát sinh, răn ăn trộm, răn tà dâm, răn nói càn, răn uống rượu. xuất gia: Ra khỏi nhà, tức đi tu. áo xanh: Do chữ Thanh y. cà sa: áo nhà sư mặc. pháp danh: Tên đặt theo tập tục tôn giáo cho người đi tu. Trạc Tuyền là pháp danh Hoạn thư đặt cho Kiều. Xuân, Thu: Tên hai người đầy tớ gái do Hoạn thư sai đến Quan âm các ở với Kiều để giúp việc hương đèn. rừng tía: Do chữ tử trúc lâm, chỗ ở của Phật Quan âm bồ tát. nhân duyên: Duyên vợ chồng. ở đây chỉ duyên phận giữa Kiều và Thúc sinh. thủ tự: Chữ do tay ḿnh viết ra. tâm hương: Hương ḷng. Nén hương dâng lên do tấm ḷng thành kính. giọt nước cành dương: Do chữ dương chi thuỷ. Theo sách Phật th́ Phật Quan âm có cành dương liễu và b́nh nước cam lộ, khi muốn cứu ai th́ lấy cành dương liễu dúng nước trong b́nh mà rảy vào người ấy. ở đây giọt nước cành dương dùng để chỉ phép mầu nhiệm của Phật. lửa ḷng: Do chữ tâm hoả, chỉ mọi sự tức giận, phiền năo của con người. trần duyên: Duyên nợ ở cơi trần. gác kinh: Cái gác viết kinh, chỉ chỗ ở của Kiều. viện sách: Pḥng đọc sách, chỉ chỗ ở của Thúc sinh. vấn an: Hỏi thăm sức khoẻ (của bực tôn trưởng). áo xanh: Do hai chữ thanh khâm, chỉ thứ áo có cổ xanh, mà các nho sĩ xưa thường mặc (Thúc sinh là sinh viên). ở đây tác giả cũng mượn ư ở một câu trong bài Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị đời Đường: Giang-châu tư mă thanh sam thấp (quan tư mă Giang-châu khóc nhiều, lệ ướt cả vạt áo xanh). tông đường: Nhà thờ tổ tông. ở đây dùng với nghĩa: “ nối dơi tông đường” ư nói Thúc sinh nghĩ ḿnh chưa có con trai để nối dơi tông đường. chiếc bách: Chiếc thuyền bằng gỗ bách. Kinh Thi có bài Bách châu nói thân phận lênh đênh không nơi nương tựa của người phụ nữ, ví như chiếc thuyền gỗ bách trôi nổi giữa ḍng sông. ở đây chỉ thân thế trôi nổi bấp bênh của Kiều. dông tố: Cơn mưa to gió lớn. ở đây chỉ sự giận dữ ghê ghớm của Hoạn thư. thiếp Lan-đ́nh: Do chữ Lan-đ́nh thiếp là bản bút tích rất tốt của nhà văn Vương Hy Chi đời Tấn. thiền trà: Nước trà của nhà chùa. hồng mai: Gỗ cây mai già dùng để nấu làm nước uống, sắc nước đỏ hồng nên gọi là hồng mai. thư trai: Nhà đọc sách. bó tay: Chữ Hán là thúc thủ. ở đây đặt hai chữ “bó tay” sau chữ “Thúc” là một cách chơi chữ của tác giả. đăi đằng: ở đây nghĩa là nói năng, làm ầm ỹ lên. cổ nhân có câu: Nộ giả thường t́nh, tiếu giả bất khả trắc, nghĩa là: Giận dữ là thói thường, cười th́ không thể lường được. Câu này dùng ư ấy. "Rào cây lâu cũng có ngày bẻ hoa!: Câu này ư nói Giam giữ Thuư Kiều ở đây lâu, thế nào cũng có ngày trừng trị, hành hạ điêu đứng hơn, hoặc đem trừ khử đi. "Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.: Câu này ư nói Thuư Kiều nghĩ thân phận của ḿnh như cánh bèo trên mặt nước, ở đâu th́ cũng là lênh đênh cả, không c̣n quản ǵ. kim ngân: Vàng bạc, chỉ các đồ thờ như chuông, khánh đúc bằng vàng bạc. Tiếng gà điếm nguyệt, dấu giày cầu sương: Bài thơ Thương sơn tảo hanh của Ôn Đ́nh Quân đời Đường có câu: Kê thanh mao điếm nguyệt, nhân tích bản kiều sương (tiếng gà gáy dưới bóng trăng nơi điếm cỏ, vết chân người in lên làn sương trên cầu gỗ). ở đây, tác giả mượn ư câu ấy để tả Kiều ra đi lúc đêm khuya. Chiêu-ẩn: Tên ngôi chùa, nghĩa đen là chiêu nạp những người ẩn dật. trụ tŕ: Người cư trú và chủ tŕ mọi việc trong một ngôi chùa. (chữ nhà Phật). ở đây chỉ vị sư việc tu hành trong chùa. tiểu thiền: Cũng như tiểu tăng, tiểu ni là người đi tu nhỏ mọn (lời Kiều tự khiêm). qui sư, qui Phật: Theo thầy, theo Phật, cũng như nói “qui tăng, qui Phật”, lối nói quen miệng của các nhà sư. bản sư: Vị sư thầy học ḿnh. pháp bảo: Bảo bối của nhà chùa, chỉ các đồ thờ cúng quư giá. sư huynh: Vị sư đàn anh, lời xưng hô giữa các vị sư với nhau. diện hiến: Đem dâng ngay trước mặt. Hằng Thuỷ: Tên hiệu một vị sư nữ khác mà Kiều mạo xưng là thầy học ḿnh. hậu t́nh: T́nh nghĩa đối xử hậu hĩ, thân mật. am mây: Do chữ Vân pḥng, chỗ nhà sư ở. thông tuệ: Thông minh, sáng suốt. vẻ ngân: ánh bạc, ánh trăng sáng như bạc. đàn việt: Người đứng ra bố thí, thường dùng để chỉ người có công với nhà chùa, hay người đi văn cảnh chùa. cửa già: Tiếng Phạn gọi chùa là già lam. "Ngồi chờ nước đến nên dường c̣n quê.": ở đây ư nói ngồi chờ cho nước đến chân rồi mới nhảy là khờ dại. đồng môn: Cùng học một thầy, một trường, ư nói Bạc bà cũng một phường buôn phấn bán hương như Tú bà. "Lại mang lấy tiếng dữ gần, lành xa: Tục ngữ: Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa. ở đây mượn ư ấy để nói Thuư Kiều đă mang tiếng trốn chúa và ăn cắp, thế nào cũng bị người ta đồn đại, dị nghị. "Khéo oan gia, của phá gia: Câu này ư nói Bạc bà bịa đặt ra mà nói Kiều là một oan gia kiếp trước vào nhà ḿnh để chực gây tai hoạ cho ḿnh. xe dây: Cũng như xe tơ, nghĩa là lấy chồng. thành thân: Làm lễ hợp hôn, thành vợ chồng. Châu Thai: Chỗ Bạc Hạnh buôn bán, thuộc tỉnh Chiết-giang (Trung-quốc). "Phải cung, rày đă sợ làn cây cong!: Cổ ngữ: Thương cung chi điểu, kiến khúc mộc nhi cao phi, nghĩa là con chim đă bị thương v́ cung th́ thấy cây cong cũng sợ mà bay cao. Hai câu này dùng ư câu ấy. sở cầu: Cầu đến, hỏi đến, ư nói muốn cưới làm vợ. tâm minh: Lấy ḷng thực mà thề với nhau. thành hoàng, thổ công: Các thần bản thổ coi giữ một địa phương. ở đây, ư nói: Bạc Hạnh thề rằng: Nếu ḿnh không tốt với Kiều th́ xin thành hoàng, thổ công chứng giám. lễ tơ hồng: Tức là lễ Nguyệt lăo, vị thần xe dây cho người ta nên vợ nên chồng. hàng viện: Tên gọi khác của nhà chứa. theo sách số tử vi: Con gái có sao “đào hoa” đứng ở cung mệnh th́ phải lấy nhiều đời chồng, hoặc làm gái giang hồ. hồng quân: Hồng quần. biên đ́nh: Nơi biên ải xa xôi. Râu hùm, hàm én, mày ngài: Tướng mạo của người anh hùng: râu dữ như râu hùm, hàm nở rộng như hàm chim én, mày cong và to như con tằm. côn quyền: Côn: Món vơ đánh bằng gậy. Quyền: Món vơ đánh bằng tay. lược thao: Mưu lược về cách dùng binh, do chữ Lục thao, Tam lược là tên hai pho binh thư đời xưa mà ra. Việt-đông: Tức tỉnh Quảng-đông (Trung-quốc), tỉnh này ở về phía đông sông Việt nên gọi là Việt-đông. Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo: Hoàng Sào, một lănh tụ nông dân khởi nghĩa đời Đường có câu thơ: Bản kiên cung kiếm bằng thiên túng, nhất trạo giang sơn tận địa duy (Chỉ nửa vai cung kiếm mà tung hoành khắp cả gầm trời, chỉ một mái chèo mà đi khắp cả non sông). ư nói khí phách ngang tàng của người anh hùng. thiếp danh: Tấm thiếp ghi tên họ người có danh thiếp. tâm phúc tương cờ (kỳ): Ḷng dạ hứa hẹn với nhau. Câu này ư nói: Từ Hải nói với Kiều là muốn cùng Kiều kết thành đôi lứa tri kỷ chứ không phải là cái t́nh yêu đương trăng gió tạm bợ. mắt xanh: Nguyễn Tịch đời Tấn, trọng ai th́ nh́n bằng con mắt xanh, khinh ai th́ nh́n bằng con mắt trắng. Câu này ư nói: Từ Hải hỏi Kiều, xưa nay nàng chưa hề xem trọng ai có phải không? cá chậu chim lồng: Chỉ hạng người tầm thường, sống trong ṿng giam hăm, câu thúc. B́nh-nguyên quân: Chính tên là Triệu Thắng, một trọng thần nhà Triệu, đời Chiến quốc, được phong đất ở B́nh-nguyên nên gọi là B́nh-nguyên quân, nổi tiếng là người hiếu khách. Cao Thích đời Đường có câu: Vị trí can đảm hướng thuỳ thị, linh nhân khước ức B́nh-nguyên quân nghĩa là chẳng biết gan mật hướng vào ai, khiến người lại nhớ B́nh-nguyên quân. ở đây nhân Kiều nói đến gửi can trường nên Từ Hải lại nhớ đến B́nh-nguyên quân. Tấn-dương: Tên đất, nơi Đường Cao tổ khởi binh đánh nhà Tuỳ, dựng nên đế nghiệp. Câu này ư nói: Thuư Kiều tin tưởng là Từ Hải sẽ làm nên sự nghiệp đế vương. tri kỷ: Người hiểu biết ḿnh. trần ai: Bụi bậm, chỉ lúc người anh hùng c̣n hàn vi, ẩn náu, chưa có danh vị ǵ để phân biệt với người thường. muôn chung: Do chữ vạn chung, muôn hộc thóc. ngh́n tứ: Do chữ thiên tứ, ngh́n cỗ xe, dùng để chỉ cảnh giàu sang. nguyên ngân: Số tiền bỏ ra khi trước. phát hoàn: Đưa trả lại. Bát tiên: Tám vị tiên là Chung Ly Quyền, Lă Động Tân, Trương Quả lăo, Lư Thiết Quái, Lam Thái Hoà, Tào Quốc cữu, Hà tiên cô, Hàn Tương tử. Người ta hay thêu h́nh tám vị tiên này trên màn trướng. sánh phượng, cưỡi rồng: Xưa Kính Trọng, người nước Tần, được quan đại phu nước Tề gả con gái cho, trong quẻ bói được câu: Phượng hoàng vu phi... (Chim phượng hoàng cùng bay). Đời Đông Hán, Hoàng Hiến và Lư Ưng là hai người có danh vọng, cùng lấy con gái Hoàn Yên, người đời khen hai con gái Hoàn Yên đều cỡi rồng. Câu này dùng ư hai điển ấy để nói Từ Hải, Thuư Kiều đẹp duyên với nhau. trượng phu: ở đây có nghĩa là đàn ông tài giỏi, có chí lớn. tâm phúc tương tri: Biết nhau từ trong thâm tâm, hiểu rơ bụng dạ của nhau. nữ nhi thường t́nh: Cái t́nh thông thường của đàn bà, con gái. chiêng: Tức chinh cổ, chỉ chung chiêng trống. Tinh: tức tinh kỳ, chỉ chung cờ quạt. nghi gia: Do chữ nghi kỳ thất gia ở Kinh Thi, ư nói vợ chồng hoà hợp. ở đây, hai chữ nghi gia chỉ có nghĩa là con gái về nhà chồng. bằng: Một loài chim rất lớn. Sách Trang tử có câu Bằng chi tỉ ư Nam minh dă, đoàn phù dao nhi thướng giả cửu vạn lư (Chim bằng khi rời biển Nam, vỗ cánh trong làn gió cuốn mà bay lên chín vạn dặm tầng không). Người ta thường dùng h́nh ảnh ấy để chỉ người anh hùng có địa bàn hoạt động rộng răi, có mưu đồ sự nghiệp lớn lao. Đoái thương muôn dặm tử phần: Kinh Thi có câu: Duy tang dữ tử, tất cung kính chi. (Cây tang, cây tử do cha mẹ trồng ra, nên phải kính trọng). Người sau bèn dùng hai chữ tang tử để chỉ quê nhà. Hán Cao tổ quê ở Phần-du, sau khi làm vua có về làng ấy chơi. Người sau bèn dùng hai chữ phần du để chỉ quê nhà. ở đây hợp hai chữ ấy thành tử phần để chỉ quê nhà. Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa: Thơ Hàn Dũ, đời Đường: Vân hoành, Tần-lĩnh gia hà tại? Nghĩa là: Mây che ngang núi Tần, biết quê nhà ở đâu? ở đây mượn ư câu thơ ấy cũng là ư nói Kiều nhớ nhà. Dầu ĺa ngó ư c̣n vương tơ ḷng: Câu này ư nói: Kiều tuy dứt t́nh với Kim Trọng, nhưng ḷng vẫn không quên chàng, cũng ví như ngó sen bị bẻ găy, mà sợi tơ vẫn liền với nhau. cố quốc tha hương: Có nghĩa là quê nhà đất khách. sát khí: Cái khí dữ dội của cảnh chém giết, thường được dùng để chỉ cảnh binh đao, sát phạt. ḱnh, ngạc: Hai giống cá to, dữ, thường được dùng để chỉ giặc giă. giáp binh: áo giáp và binh khí, đây dùng để chỉ quân lính. phu nhân: Tiếng xưng hô đối với vợ các người tôn quí. Đây chỉ Thuư Kiều. cung nga: Gái hầu trong cung, cung nữ. thể nữ: Loại gái hầu kém cung nữ một bậc. ở đây tác giả dùng những danh từ ấy là cố ư xem Từ Hải như một vị đế vương. phượng liễn loan nghi: Xe, kiệu và đồ nghi trượng có chạm khắc, thêu vẽ h́nh chim loan, chim phượng. hoa quan: Mũ hoa. hà y: áo màu hồng như ráng mặt trời. hoả bài: Cái thẻ bài hoả tốc, cầm đi trước để báo tin. nam đ́nh: Chưa thực rơ nghĩa. Có bản giải là triều đ́nh ở phương nam do Từ Hải lập ra. đại doanh: Doanh trại lớn, nơi đóng đại quân của Từ Hải. thân nghênh: Đây nói Từ Hải tự ḿnh đích thân ra đón Thuư Kiều. cân: Khăn (mũ); đai: cái đai ṿng quanh áo lễ. Câu này ư nói: Từ Hải lúc này ăn mặc không phải như lần gặp Kiều khi c̣n hàn vi, mà đă ăn mặc theo cung cách đế vương. cá nước duyên ưa: Do câu ngư thuỷ duyên hài, ư nói vợ chồng đẹp duyên với nhau. trướng mai: Trướng có thêu hoa mai, chỉ pḥng nằm của vợ chồng. nghiêm quân: Chỉnh đốn hàng ngũ quân lính. tuyển tướng: Lựa chọn tướng tá. ruổi sao: Do chữ tinh tŕ, ư nói đi nhanh như sao đổi ngôi. ở đây cũng có nghĩa là đi lúc tảng sáng, trời c̣n sao. ba quân: Danh từ chỉ chung quân đội. Đời xưa các nước chư hầu có ba quân, mỗi quân 12.500 người. Và các nước thường chia quân đội làm ba bộ phận: trung quân, tả quân, hữu quân; hoặc: trung quân, thượng quân, hạ quân. chiếu danh tầm nă: Chiếu theo tên mà t́m bắt từng người. lệnh tiễn: Cờ lệnh có cắm mũi tên sắt của các tướng soái dùng để làm hiệu lệnh hoặc để làm tin. thệ sư: Lời tuyên cáo và hiểu dụ quân sĩ trước lúc xuất quân. chấp uy: Chấp hành uy lệnh. báo phục: Báo trả lại, ư nói làm ân th́ sẽ được trả ân, làm oán th́ sẽ trả oán. cơ, vệ: Tên gọi các đơn vị quân lính đời xưa. thị lập: Đứng hầu. song phi: Dàn làm hai hàng bác đồng: Súng bằng đồng. trướng hùm: Dịch chữ hổ trướng. Xưa thường dùng da hùm làm thành cái màn lớn để chủ soái họp bàn với các tướng, nên người sau quen dùng chữ “hổ trướng” để chỉ chỗ làm việc của các tướng soái. trung quân: Đội quân đóng ở giữa, do chính chủ tướng chỉ huy. tiên nghiêm: Hồi trống mở đầu để gây không khí uy nghiêm. cửa viên: Viên là cái càng xe. Đời xưa, lúc quân đội cắm trại thường chồng xe làm cửa, nên cửa doanh trại của quân đội gọi là “viên môn”. chàm đổ: Mặt xanh như bị chàm đổ vào. giẽ run: Ḿnh run rẩy như chim giẽ. Sâm và Thương: Theo nhận thức của người xưa, th́ sao Sâm ở phương tây, sao Thương ở phương đông, sao này lặn, sao kia mới mọc. Hai sao này không bao giờ gặp nhau, nên người ta dùng để chỉ cảnh xa cách mỗi người một nơi. tục ngữ: Kẻ cắp gặp bà già, ư nói kẻ ranh ma lại gặp phải tay sành sỏi, nghĩa cũng gần như câu: Vỏ quưt dày, có móng tay nhọn. mụ già: Chỉ bà quản gia nhà họ Hoạn. sư trưởng: Chỉ Giác Duyên. Phiếu mẫu: Bà làm nghề giặt sợi ở bến nước. Hàn Tín đời Hán, lúc hàn vi được bà Phiếu mẫu đăi một bữa cơm, sau làm đến tước vương tạ ơn ngh́n vàng. hiến phù: Dâng nộp những người bắt được. Thời xưa khi thắng trận trở về, người ta đem tù binh bắt được đem về tế cáo ở nhà tôn miếu và nền thờ xă tắc, gọi là lễ hiến phù. chính danh thủ phạm: Tên phạm tội nặng nhất, đứng đầu các tên khác. tri quá: Biết lỗi, tự ḿnh biết nhận rằng ḿnh có lỗi. nội đao: Quân đao phủ, chuyên việc chém người. pháp trường: Chỗ hành h́nh người có tội. thanh thiên bạch nhật: Trời xanh ngày trắng, ư nói giữa ban ngày ban mặt, ai cũng được chứng kiến. từ quy: Từ giă ra về. thiên tải nhất th́: Ngàn năm mới có một dịp. Câu này thường dùng để chỉ dịp may hiếm có. bàn hoàn: ở đây có nghĩa là gặp gỡ, tṛ chuyện. hạc nội: Chim hạc ở ngoài đồng nội. Mây ngàn: Đám mây bay trên rừng núi. ư nói nay đây mai đó, nơi ở không nhất định. hành cước: Tiếng nhà Phật, chỉ việc các nhà sư đi vân du. hội ngộ chi kỳ: Cái kỳ hẹn gặp gỡ nhau. chung thân: Trọn đời. ư nói Kiều muốn hỏi số phận của ḿnh sau này thế nào? ngh́ trời mây: Ơn nghĩa cao cả như trời như mây. quốc sĩ: Kẻ sĩ tài giỏi có tiếng trong nước. cổ ngữ: Lộ kiếu bất b́nh, bạt đao tương trợ, ư nói người anh hùng nghĩa hiệp, giữa đường đi mà thấy điều ǵ không công bằng th́ rút dao ra mà giúp sức cho người bị áp bức. Câu này mượn ư ấy. thâm tạ: Tạ ơn một cách sâu sắc. tri ân: Biết ơn của người khác đối với ḿnh. Việt: Một xứ ở đông nam Trung-quốc. tần: Một xứ ở tây bắc Trung-quốc. Kẻ Việt, người Tần có nghĩa là cách biệt xa xôi. tẩy oan: Rửa oán thù, ư nói Từ Hải sai mở tiệc trung quân cho binh tướng cùng dự, để ăn mừng Kiều đă rửa được oán thù. binh uy: Uy thế của quân đội. Câu này ư nói: Uy thế của quân Từ Hải từ đó vang dội trong ngoài như sấm dậy. huyện thành: Thành tŕ của một huyện. Câu này ư nói: Quân Từ Hải đă đánh chiếm được năm huyện phía nam Trung-quốc. giá áo túi cơm: Thành ngữ ám chỉ những người vô dụng, kém cỏi. cô và quả (cô gia, quả nhân): Tiếng tự xưng của bọn vua chúa đời xưa. Bá vương cũng nghĩa như vua chúa. Câu này ư nói: Từ Hải cũng xưng cô, xưng quả, làm vương, làm bá một phương chứ không thua kém ǵ ai. tranh cường: Đua tranh về sức mạnh. Câu này ư nói: trước ngọn cờ của Từ Hải không ai dám chống lại. hùng cứ: Lấy sức mạnh mà chiếm giữ. hải tần: Đất ven biển. kinh luân: Nghĩa đen là quay tơ và bện tơ, người ta thường dùng để nói tài sắp xếp chính sự, kinh bang tế thế. đẩy xe: Do chữ thôi cốc (đẩy bánh xe). Thời xưa, khi sai tướng đi đánh giặc, vua thường tự ḿnh đẩy vào xe của viên tướng một cái, để tỏ ư tôn trọng. Câu này ư nói: vua nhà Minh sai Hồ Tôn Hiến đi đánh Từ Hải là một việc rất quan trọng. tiện nghi bát tiễu: Tuỳ sự cơ tiện lợi mà đánh dẹp. đổng nhung: Trông coi, đốc suất việc quân. chiêu an: Kêu gọi, chiêu dụ cho giặc đầu hàng. vương thần: Bề tôi của nhà vua. thanh vân: Mây xanh, người xưa thường dùng để chỉ con đường công danh. mệnh phụ: Vợ các quan to đời xưa. đắc hiếu: Tṛn đạo hiếu với cha mẹ. đắc trung: Tṛn đạo trung với vua. b́nh thành: Do chữ địa b́nh thiên thành ở Kinh thư, ư nói nhà vua sửa sang việc nước cho trời đất được bằng phẳng. vô-định: Tên một con sông ở biên thuỳ tỉnh Thiểm-tây (Trung-quốc). Ngày xưa ở con sông ấy đă xảy ra nhiều cuộc chiến tranh giữa người Hán và người Hồ, làm cho rất nhiều người bị chết. Đường thi có câu: Khả tiên Vô-định hà biên cốt, do thị thâm khuê mộng lư nhân, nghĩa là: Thương thay nắm xương khô bên sông Vô-định c̣n là người trong giấc mộng của kẻ buồng the. Hoàng Sào: Một lănh tụ nông dân khởi nghĩa cuối đời Đường, đă từng vây hăm kinh đô Trường-an, tung hoành trong 10 năm trời, sau bị hạ thủ giết chết. thúc giáp: Bỏ áo giáp lại. giải binh: Giải tán quân đội. thành hạ yêu minh: Cùng nhau ăn thề dưới thành để tỏ ư không làm hại nhau và thật thà tuân theo những điều đă ước hẹn. vương sư: Quân của nhà vua, tức quân của Hồ Tôn Hiến. quyết kế thừa cơ: Quyết định cái mưu kế là nhân cơ hội Từ Hải trễ tràng việc quân để đánh. lễ tiên, binh hậu: Phía trước th́ dàn lễ nghi để chiêu hàng, phía sau th́ phục sẵn binh mă để đánh úp. Khắc cờ (kỳ): ấn định kỳ hạn. tập công: Đánh úp. chiêu phủ: Kêu gọi, vỗ về, để cho quy hàng. tiên phong: Toán quân đi trước. Câu này ư nói: Hồ Tôn Hiến lập mưu cho kéo cờ “chiêu phủ”đi trước. đại quan lễ phục: Ăn bận theo phục sức của vị quan lớn. ra đầu: Ra đầu hàng. ḍng thu: Hai chữ ḍng thu ở đây chỉ nước mắt. oan khí tương triều: Cái khí oan ức vấn vít lại với nhau. Câu này ư nói: Từ Hải và Thuư Kiều đều mang nỗi oan ức v́ bị Hồ Tôn Hiến lừa gạt, hai cái khí oan đó của một người chết và một người sống như có sự linh ứng với nhau. binh cách: Binh là binh khí. Cách là áo giáp và mũ đầu mâu làm bằng da. Người ta thường dùng hai chữ binh cách để chỉ cuộc binh đao chinh chiến. thành toán miếu đường: Mưu chước đă sắp đặt sẵn ở nơi tôn miếu triều đường. Câu này ư nói: đành hay triều đ́nh đẫ có mưu kế sẵn, nhưng cũng nhờ lời nàng nói giúp mới nên việc. phu quư phụ vinh: Chồng làm nên quan sang th́ vợ cũng được vinh hiển. tiện thổ: Miếng đất xấu. cảo táng: Chôn một cách sơ sài, không có khâm liệm quan cách ǵ. di h́nh: Cũng như di hài. hạ công: Mừng công (thắng trận). thị yến: Hầu hạ bên bàn tiệc. hương lửa ba sinh: Do chữ tam sinh hương hoả, ư nói t́nh duyên vợ chồng đă định từ kiếp xưa. dây loan: ở đây dùng để chỉ việc nối lại nhân duyên vợ chồng. Tiểu Lân: Tên nàng Phùng Thục Phi, vợ vua Hậu chủ nước Tề, đời Nam Bắc triều. Sau khi nước Tề mất, nàng về tay người khác, nhân lúc dây đàn đứt, nàng xúc cảm, làm bài thơ, trong có câu: Dục tri tâm đoạn tuyệt, ưng khan tất thượng huyền, nghĩa là muốn biết tơ ḷng đứt nát, nên xem cái dây đàn trên đầu gối th́ rơ. Câu này mượn ư câu thơ ấy. gốc phần: Do chữ phần du. phương diện quốc gia: Nguyên chỉ vị tướng đảm đương việc chinh chiến, pḥng thủ ở một phương của đất nước, về sau được dùng để chỉ một vị quan to cai trị một địa phương. công nha: Chỗ làm việc quan, cũng như công môn, công đường, v,v... thổ quan: Cũng như thổ tù, viên quan người ở bản thổ, thường được dùng để chỉ các lang đạo cai trị ở vùng dân tộc ít người. tơ đào: Cũng như tơ hồng. Câu này ư nói: Ai đă chia rẽ nhân duyên của ḿnh, đối nghĩa với câu dưới: “Nợ đâu, ai dắt vào tận tay?” Nợ đây tức là việc “ ép t́nh mới gán cho người thổ quan.” triều: Nước thuỷ triều. ở cửa sông Tiền-đường (Trung-quốc) vào mùa thu, nước triều dâng lớn, sóng nổi rất dữ dội. thần mộng: Lời báo mộng của thần, ư nói lời Đạm Tiên dặn trong chiêm bao, lúc Kiều tự vẫn ở nhà Tú bà: “ Sông Tiền-đường sẽ hẹn ḥ về sau.”. tiên hoa: Do chữ hoa tiên, tờ giấy vẽ hoa, dùng để viết thư. tuyệt bút: Bút tích cuối cùng, viết trước khi chết để kể nỗi tâm t́nh của ḿnh cho người sau biết. cửa bồng: Cửa thuyền. rèm châu: Rèm có trang sức châu báu. Châu ở đây chỉ là đặt cho đẹp lời. con nước: Tiếng quen gọi của dân chài lưới để chỉ nước thuỷ triều lên xuống. Th́ đà đắm ngọc, ch́m hương cho rồi!: Người xưa thường dùng hai chữ hương ngọc để chỉ phụ nữ. âm cực dương hồi: Khí khí âm đă cao hết mực th́ khí dương lại trở về. Câu này cũng nghĩa như câu bĩ cực thái lai, ư nói con người ta khi vận đen đă hết, th́ vận đỏ trở lại. bầu: Quả bầu khô rút ruột đi để đựng nước. níp: Cái tráp đan bằng tre để đựng quần áo sách vở. Hai vật thường dùng của những người đi đường đời xưa. vân du: Danh từ nhà Phật, ư nói nhà sư đi lang thang nay đây mai đó như đám mây bay vô định. phúc hoạ đạo trời: Nói người ở đời gặp phúc hay gặp hoạ đều do ư trời, không phải ngẫu nhiên. thanh lâu: Gái điếm. thanh y: Gái hầu. Thuư Kiều làm gái điếm một lần ở Lâm -tri, một lần ở châu Thai, và làm gái hầu một lần ở nhà Hoạn bà, một lần ở nhà Hoạn thư. hùm sói: Người xưa thường dùng hai chữ hùm sói để chỉ các tướng giặc. ở đây ám chỉ việc Kiều gửi thân vào Từ Hải. thuỷ tinh: Cung của Long vương ở dưới nước, cũng đồng nghĩa như thuỷ phủ. Câu này ư nói: Thuư Kiều trầm ḿnh. nghiệp duyên: Danh từ nhà Phật, có nghĩa là mối duyên nợ do bản thân ḿnh làm nên từ kiếp trước. t́nh thâm: Do câu phụ tử t́nh thâm. Câu này ư nói: Thuư Kiều đền bồi ơn nghĩa sâu sắc của cha mẹ. thửa công đức ấy: Do chữ Thử kỳ công đức, nghĩa là công đức ấy của Kiều. túc khiên: Tội lỗi kiếp trước. thảo đường: Nhà lợp bằng tranh, bằng cỏ. ngư phủ: Người làm nghề chài lưới. duềnh ngân: Ḍng nước bạc. ngư ông: Ông lăo đánh cá, tức “ngư phủ” nói trên. phách quế, hồn mai: Do chữ quế phách mai hồn. Hai chữ “quế mai” ở đây chỉ có ư thêm thắt cho đẹp lời văn. âm công: Công đức cứu người làm ngấm ngầm, không mấy ai biết, cũng gần nghĩa như nói “âm đức”. "Đoạn trường thơ phải đưa mà trả nhau: Thơ đây là nói mười bài thơ đoạn trường do Đạm Tiên đưa Kiều vịnh khi trước. thảo lư: Nhà tranh, cũng nghĩa như thảo đường. phù tang: Phù tŕ đám tang, cũng có nghĩa như hộ tang. vườn Thuư: Chính là cái vườn có hiên “Lăm thuư”, chỗ Kim Trọng trọ học lúc trước. Nhưng ở đây cần hiểu bao gồm chung cả nhà Kiều nữa, nơi hai người đi về t́nh tự lúc trước. Hoa đào năm ngoái c̣n cười gió đông: Thôi Hộ đời Đường, đi t́m lại người con gái đă gặp gỡ năm trước nhưng chỉ thấy một cây đào đương nở hoa năm xưa, c̣n th́ cửa đóng, người đi đâu vắng, nhân đó mà làm bài thơ, trong có câu: nhân diện bất tri hà xứ khứ, đào hoa y cựu tiếu đông phong, nghĩa là mặt người không biết đi đằng nào, hoa đào vẫn cười với gió đông như cũ. Câu này dựa theo ư câu thơ ấy để nói không thấy bóng dáng nàng Kiều ở đâu, chỉ thấy hoa đào năm ngoái c̣n cười với gió đông như cũ mà thôi! tụng đ́nh: Sân kiện, nơi xử kiện. ở đây dùng với nghĩa việc kiện cáo. di trú: Dời đi ở chỗ khác. lang quân: Tiếng dùng để chỉ người chồng trẻ và chỉ những người trai trẻ nói chung. lai sinh: Kiếp sau. Câu này ư nói: nếu như chết mà c̣n có tri giác th́ kiếp sau xin đền bù lại. kư chú đinh ninh: Ghi chú, dặn ḍ cặn kẽ. ván đă đóng thuyền: ư nói Thuư Kiều bây giờ đă về tay người khác. kim hoàn: Ṿng vàng, vật Kim Trọng đưa cho Thuư Kiều làm của tin tức lúc mới gặp nhau. (Câu 318: Xuyến vàng đôi chiếc, khăn là một vuông). dưỡng thân: Nuôi cha mẹ. Câu này ư nói: Kim Trọng thay Kiều phụng dưỡng vợ chồng Vương ông như cha mẹ ḿnh. Lâm-thanh: Mă Giám sinh nói dối là quê ở đó, nên Kim Trọng mới sai người đến đấy hỏi thăm tin Kiều. chế khoa: Khoa thi do ư vua mở ra, nhân một dịp ǵ, khác với khoa thi thường lệ. bảng xuân: Do chữ xuân bảng, bảng thi về mùa xuân (kỳ thi hội và thi đ́nh mở vào mùa xuân). Chiếm bảng xuân tức là thi đỗ tiễn sĩ. cửa trời: Do chữ thiên môn, tức là cửa nhà vua. đường mây: Do chữ vân lộ hay thanh vân lộ, ư nói đường công danh, sĩ hoạn. ngơ hạnh: Tức ngơ Hạnh-viên ở kinh đô Tràng-an (Trung-quốc). Đời nhà Đường, các tân khoa tiến sĩ được xem hoa và dự tiệc ở đấy. dặm phần: Do chữ phần du, ư nói quên hà. Câu này tả cảnh vinh hiển của Kim, Vương khi thi đỗ và về vinh quy. chu tuyền (hay chu toàn): Làm cho được trọn vẹn. Câu này ư nói: Vương Quan sang nhà Chung công tạ ân về việc trước kia ông ta đă thu xếp việc kiện tụng cho được xong xuôi trót lọt. gia thân: Do câu thân thượng gia thân, ư nói trước kia hai nhà đă thân nhau nay lại kết nghĩa Châu Trần, để cho thân thêm nữa. Ngọc đường: Đời Tống Thái tông, vua đề ở dinh Hàn lâm bốn chữ Ngọc đường chi thự. Đời sau bèn dùng những chữ Kim mă ngọc đường để nói chung cảnh quan gia, phú quí. ngoại nhậm: Làm quan ở ngoài quận huyện (đối với trong triều mà nói). Cầm đường ngày tháng thanh nhàn: Phụ Tử Tiện đời Xuân thu, làm quan huyện, thường hay gẩy đờn cầm, người sau bèn gọi dinh quan huyện là cầm đường. 2876. Triệu Biện đời Tống, là người thanh liêm, giản dị, khi đi làm quan ở đất Thục, chỉ đem theo một con hạc và một cây đờn. thanh khí: Câu này ư nói: Thuư Vân, Thuư Kiều là chị em ruột, cho nên dễ cảm thông với nhau. giai âm: Tin tức tốt lành. thăng đường: Ra ngồi làm việc ở công đường. kiên trinh: Kiên quyết giữ ǵn trinh tiết. liều ḿnh: Chỉ việc Thuư Kiều tự vẫn lúc mới đến nhà Tú bà. Phải lừa, chỉ việc bị Sở Khanh lừa đưa đi trốn. tóc tơ: Do thành ngữ: kẽ tóc chân tơ, ư nói hỏi rất tỉ mỉ. vân ṃng: Tiếng cổ, nghĩa là tin tức, manh mối. tiêu hao: Cùng nghĩa với tăm hơi, tin tức. b́nh: Bèo. Bồng: Cỏ bồng. Hai vật này thường hay trôi nổi theo nước và gió. ở đây dùng để chỉ tấm thân phiêu bạt của Kiều. đỉnh chung: Đỉnh: Cái vạc để nấu thức ăn. Chung: Cái chuông để đánh báo hiệu giờ ăn. Đỉnh chung ở đây |