|
Hồi thứ chín
Quan b́nh chương Trần Công Xán vâng
mệnh bàn việc biên cương.
Lại nói, khi ở Cao Bằng bắt đầu nhóm lên việc binh đao, Lưu Tiệp, Nguyễn Hàn đều có sai trạm đưa thư về kinh cáo biến. Tiệp bảo Hàn là phản nghịch, Hàn bảo Tiệp là phản nghịch, và cả hai đều nói “hiện đă điều quân vây đánh, chỉ khoảng mươi ngày sẽ bắt được kẻ có tội”. Quan B́nh chương là Phan Lê Phiên thấy thư ấy, rất kinh hăi mà rằng: - Hai người đều là bậc thanh cao trong hàng triều sĩ, ra ngoài gánh việc phiên trấn, đáng lẽ phải v́ việc công mà quên việc riêng. Sao họ không chịu nén ḷng theo nhau, lại đi cầm đầu cho cuộc quấy rối? Đồng loại làm hại nhau, đó cũng là một biến cố lớn! Đáng ghê! Đáng sợ! Vừa lúc ấy, các viên trấn thủ ở bốn lộ Lạng, Thái, Tuyên, Hưng cũng đều lần lượt gửi thư hoả tốc về cáo biến. Vua Lê bèn bàn với Bằng công Nguyễn Hữu Chỉnh. Chỉnh thưa: Các trấn đem quân đánh nhau, cũng là thói thường của bọn tù trưởng ở ngoài bờ cơi, chỉ cần hạ một bức thư, báo cho họ biết đường hoạ phúc, chắc họ sẽ nghe theo; dẹp yên việc ấy, không có ǵ khó. Riêng việc biến cố ở Cao Bằng th́ lại do các viên quan trấn gây ra, bọn tù trưởng trên ấy đều không đáng trách. Cái tội tự tiện đánh nhau, giết nhau, triều đ́nh sẽ phải có phân xử, vậy xin giao xuống cho các quan họp bàn. Quan đồng b́nh chương Trương Đăng Quỹ và quan tham tri Nguyễn Diệu đều xin gấp rút chọn hai viên đốc trấn, đốc đồng khác có tài cán lên coi thay việc trấn và luôn thể hạ chiếu chỉ triệu bọn Tiệp, Hàn về triều, may ra mới dẹp được cuộc rối loạn. Phan Lê Phiên nói: - Phải đấy! Rễ chùm, mấu cứng, phải dùng đồ sắc! Viên quan cử lên coi trấn ấy, không thể dễ dàng muốn sai ai cũng được. Quan đồng b́nh chương Trần Công Xán nói tiếp: - Việc loạn ở Cao Bằng hồi xưa, viên đại thần đă qua đời là Nghĩa thành vương (tức Nguyễn Đ́nh Bá) vâng mệnh lên vỗ về, ở luôn trên trấn ấy bảy năm, nhân dân các bản đều mến phục. Sau ông mất tại đó, dân địa phương v́ thương tiếc mà nghỉ mấy phiên chợ liền, lại dựng đền mà thờ. Quan xu mật hiện nay là Nguyễn Đ́nh Tố (người ở Khoái Châu, Hưng Yên (Hải Hưng)), chính là con của Nghĩa thành vương. Ông ta là người rộng răi có độ lượng, tài xử sự cũng nhanh, vậy xin gấp rút sai đi ngay. Vua Lê bèn dùng Nguyễn Đ́nh Tố làm đốc trấn Cao Bằng, lại sai Nguyễn Huy Túc làm phó đốc trấn. Rồi hạ lệnh giục hai người lên đường đi nhậm chức. Tố nói: - Cha thần sinh ở Cao Bằng, mất ở Cao Bằng, thần cũng sinh ở Cao Bằng, nay lại lên đó, việc sau này có thể biết rồi. Vậy xin cho phép mười ngày để thần xếp đặt việc nhà. Khi hai người lên đến giáp giới tỉnh Lạng Sơn th́ nghe tin Hàn đă bị hại, Tố giật ḿnh nói: - Thương thay! Chết cũng bởi số, nhưng cũng lỗi tại ta đi chậm quá. Rồi Tố lập tức giục trạm đi dấn lên. Khi trạm đầu báo tin quan đốc trấn mới là Nguyễn Đ́nh Tố đến, th́ tù trưởng các nơi đều vui mừng chờ đón. Lúc Tố đến Cao Bằng th́ Lưu Tiệp c̣n đang đóng cửa thành, đánh nhau với dư đảng của Hàn. Tố vâng lệnh tuyên bố uy đức của nhà vua, bảo hai bên phải giải tán quân lính, rồi thong dong xếp đặt mọi việc, trong cơi lại yên ổn như thường. Một hôm, vừa gặp lúc đến yết kiến đền thờ Nghĩa thành vương, Tố bảo Nguyễn Huy Túc: - Tôi nay có lẽ sắp đi với tiền nhân, trách nhiệm ở bờ cơi rất nặng, rồi đây sẽ có những việc khó khăn, lớn lao. Trấn này thông với đất Trung Quốc, trước đây tôi đă đi sứ, cũng hơi thuộc đường lối, chỉ giận rằng không ở đây nữa. Ông c̣n ở đây, hăy nên cố gắng mà đương lấy mọi việc. Tố lại ngoảnh sang các phiên trưởng mà dặn rằng: - Sau khi tôi đi rồi, các ông chỉ nên nghe lệnh quan phó đốc trấn, chớ như vừa rồi, gây ra nhiều việc, th́ thế nào cũng có vạ lớn. Mọi người đều lấy làm lạ mà hỏi, th́ Tố nói: - Điều đó rất khó nói. Chiều hôm ấy, Tố về doanh rồi chết. Huy Túc một mặt lo liệu việc ma chay, một mặt viết thư báo tin cho triều đ́nh, rồi vâng chỉ của vua lĩnh chức đốc trấn Cao Bằng. Lại nói vua Tây Sơn từ lúc rút quân về Nam, đến Nghệ An ở lại mười ngày, giao cho phó tướng Nguyễn Duệ giữ đất này, cùng đô đốc là Chiêu Viễn đóng quân ở doanh Hà Trung (thuộc Hà Tĩnh). Sau đó, vua Tây Sơn lại đổi Chiêu Viễn vào đóng ở châu Bố Chánh, Nguyễn Duệ coi doanh Kỳ Hoa, tả quân Vơ Văn Nhậm đóng một đạo binh quan trọng ở Động Hải (Bố Chánh thuộc Quảng B́nh. Kỳ Hoa thuộc Hà Tĩnh. Động Hải tức Đồng Hới Quảng B́nh (B́nh Trị Thiên)) để làm thanh viện và nương tựa lẫn nhau. Lúc Nguyễn Hữu Chỉnh theo kịp, thượng công (tức Nguyễn Huệ) ngỏ lời yên uỷ dỗ dành, và bảo ở lại Nghệ An làm việc với Duệ. Bề ngoài tuy thượng công hứa hẹn với Chỉnh bằng những lời ngon ngọt, nhưng lại dặn riêng Duệ rằng: - Chỉnh vốn người Bắc, trốn về với ta. Xem bộ hắn ta là kẻ phản phúc gian dối, không thể tin cậy. Vả chăng người Bắc oán hắn rất sâu. Ta định bỏ hắn, để cho hắn chết. Không ngờ hắn lại trốn chết cố theo. Nghệ An là quê hương của hắn. Nay để nhà ngươi ở lại đây, ngươi nên xem xét kỹ ḷng người xứ này, xem theo ai chống ai và t́nh h́nh động tĩnh của hắn ra sao. Chiêu Viễn ở gần đấy, gọi một tiếng là đến. Tả quân cũng không xa đây lắm, có việc nên chăng, ngươi phải viết thư báo tin cho mau, và cùng bàn định với ông ta. Sống ở nước ngoài đất khách, ngươi phải để ư đề pḥng cẩn thận, chớ có dễ dàng tin theo Chỉnh mà mắc mưu của hắn. Ngươi phải cẩn thận lắm mới được! Sau khi thượng công về Nam, Chỉnh liền được chiếu chỉ nhà vua vời đưa quân ra Bắc. Lúc đi, Chỉnh để đồ đảng của ḿnh là Nguyễn Duật ở lại làm việc với Duệ. Ngày chia tay lên đường, Chỉnh hai ba lần dặn ḍ và mong mỏi Duệ đối xử tử tế với ḿnh; Duệ cũng tiễn đưa Chỉnh rất ân cần, tử tế. Sau khi Chỉnh nắm được chính quyền, thường thường gửi thư qua lại với Duệ và biếu tặng rất hậu. Rồi Chỉnh lại ngầm sai người gọi Duật về kinh thành, để hỏi t́nh h́nh Tây Sơn và ḍ ư tứ của Duệ. Khi đă biết vua Tây Sơn và thượng công gây ra việc binh đao, anh em đánh lẫn nhau, tiếp đó lại được thư của Duệ hẹn cùng chung sức đánh vào phương Nam, th́ Chỉnh rất mừng, cho là có thể mưu đồ lấy lại Nghệ An. Chỉnh bèn thu xếp mười lạng vàng và mười tấm đoạn, sai Duật đem vào biếu Duệ, nhân tiện lấy việc lợi hại hoạ phúc mà doạ hắn ta, lại dỗ dành hắn ta giữ lấy Nghệ An, ngăn chặn Chiêu Viễn, đắp lại luỹ cũ Hoành Sơn, và vạch sông Gianh làm nơi biên giới như việc cũ trước đây (chỉ vào cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn (1627-1672), sau lấy sông Gianh làm giới hạn để phân chia Đàng trong (Nam) và Đàng ngoài (Bắc)). Lúc đó, người do thám của Vơ Văn Nhậm ở Nghệ An biết rơ việc ấy, vội vàng về báo với Nhậm. Nhậm lập tức đưa binh phù triệu Duệ về. Duệ chống lại và nói: - Tướng ở ngoài, mệnh lệnh của vua cũng có khi không cần phải theo. Lúc thượng công về, giao cho tôi đóng giữ đất này, nay tôi không dám tự tiện rời khỏi trấn này. Nhậm được thư ấy, liền nói: - Quả nhiên Duệ làm phản rồi! Tiếp đó, Nhậm lập tức gửi thư cáo biến với thượng công; trong thư có đoạn viết: “Ngày trước dùng Chỉnh tức là nhốt hổ gầm giường; ngày nay để Duệ, ấy là nuôi ong tay áo. Xin kíp phát quân ra Bắc, trước hết giết Duệ ở Nghệ An, rồi sau bắt Chỉnh ở Thăng Long. Dẹp loạn và b́nh định đất nước ở một chuyến này, cơ hội không nên bỏ lỡ...” Trong lúc ấy, thượng công và vua Tây Sơn đang có việc xích mích, cuộc binh đao giữa hai anh em chưa dàn xếp xong, việc nội chiến ở miền Nam so với mối lo ở miền Bắc c̣n cần kíp hơn nhiều. Bởi vậy thượng công không quả quyết thi hành, bèn sai người báo cho Nhậm biết, và giục Nhậm tiến quân ra Nghệ An bắt Duệ; rồi sau đó sẽ kiểm điểm quân lính, thu góp lương thực, chia đi đóng đồn ở các nơi hiểm yếu và viết thư hỏi Chỉnh về tội thông mưu với Duệ, xem Chỉnh trả lời ra sao. Nếu Chỉnh c̣n biết sợ hăi, cố t́nh chối căi, th́ nên để đó sau này sẽ liệu, chưa nên đánh vội. Bằng Chỉnh ra mặt chống lại, th́ như thế là đă có cớ, lúc ấy cứ việc tiến quân ra đánh cũng không muộn ǵ. Nhậm vâng lệnh, tự ḿnh đem đại quân đi gấp. Chỉ trong một ngày một đêm. Nhậm đă đến doanh Kỳ-hoa nhưng Duệ không c̣n ở đó nữa. Số là mùa đông năm trước,
thượng công nghe tin Chỉnh đem quân ra bảo
vệ vua Lê, sợ có biến cố ǵ khác xảy ra,
liền sai Nguyễn Văn Đức đem quân giữ
phủ Diễn Châu cùng làm chức trấn thủ với
Duệ, để nương tựa lẫn nhau. Kịp
đến khi nghe miền Nhậm đến Nghệ An, kiểm điểm binh lính, trưng thu lương thực, sửa soạn khí giới, rồi đưa thư ra Thăng Long, trách móc Chỉnh gay gắt. Chỉnh được thư, giấu giếm không cho vua Lê biết, đoạn viết thư tạ tội, đại ư nói: “Trước kia tôi bỏ nước
cũ về với chúa công, nhờ ơn cho vào nơi
mạc phủ, hầu hạ túi cung roi ngựa
đến bốn năm năm. Mùa thu năm ngoái,
đại quân về Nhận được thư ấy, biết Chỉnh c̣n có ư sợ, Nhậm bèn viết bức thư khác, dùng lời nói khéo, vỗ về khuyên giải làm cho Chỉnh yên ḷng, để ḿnh c̣n có th́ giờ sắp đặt công việc ở trấn Nghệ An. Tiện thể Nhậm cũng không quên buộc Chỉnh phải mau chóng dẹp yên quận Nhưỡng, rồi rút quân về Nam, để khỏi trái với ư định. Chỉnh tiếp thư, không hiểu rơ
ư của Nhậm, cho rằng Nhậm có thể dễ
lừa phỉnh, chắc không phải lo ǵ về mặt Lúc bấy giờ, trong ngoài đều đồn đại rằng tướng của Tây Sơn là tả quân Nhậm, kéo quân ra Nghệ An, kén chọn lính tráng, định kỳ xuất phát, chẳng bao lâu quân Tây Sơn lại tới, Thăng Long sẽ thành nơi chiến trường. V́ thế, trong kinh nhốn nháo, người chuyển vận đồ đạc, người bồng bế con cái, tranh nhau đi lánh nạn, lính Kim Ngô (tên một đội lính bảo vệ trật tự ở kinh đô) ngăn cấm không nổi. Nhiều viên đ́nh thần đem việc đó tâu với vua Lê. Vua Lê liền triệu Chỉnh vào hỏi. Chỉnh tâu: Người ta đồn nhảm, không
cần phải tin. Thần đă cho người đi xem
xét biết hết sự thật rồi. Vua Tây Sơn
từ khi ở đất Bắc về Quan ngự sử là Nguyễn Đ́nh Giản nói: - Xưa nay t́nh hoà hảo thông gia, nói chung đều không thể tin cậy. Chỉ có bằng vào chước tự cường của ḿnh, làm sao cho bờ cơi được vững chắc, ngăn chặn sự ḍm dỏ của kẻ địch, th́ như vậy mới có thể tin cậy được. Bắc b́nh vương cũng là một bậc anh hùng, xem thường ông ta không được đâu! Chỉnh nói: - Tôi đă từng cộng sự với ông ta, há lại không biết? Ông ta quả thật là bậc anh hùng, nhưng nhân tài xứ Bắc ta đây cũng không thua lắm. Vạn nhất xảy ra việc binh đao, tôi xin chọi với ông ta, c̣n như bọn Vơ Văn Nhậm đă chiếm giữ đất Nghệ An, nhưng cứ mặc y. Quân nước ngoài ở trọ, chẳng qua cũng như bọn Chiêu vơ, Thuận nghĩa hồi xưa chiếm đóng bảy huyện phía nam Nghệ An, không bao lâu rồi cũng lại về ta (chỉ việc các tướng của họ Nguyễn là Thuận nghĩa hầu, Nguyễn Hữu Tiến và Chiêu vơ hầu Nguyễn Hữu Dật, đánh chiếm được bảy huyện ở nam sông Lam hồi xưa (1655-1660), trong cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn. Về sau, các miền ấy, lại bị họ Trịnh giành lại). Vua Lê nói: - Nhân t́nh lo sợ, nghi ngờ, họ
đang coi việc động tĩnh ở phương Chỉnh tâu: - Đó là việc trong chức phận của thần, dám đâu không hết ḷng hết sức? Ngoài mặt, Chỉnh tuy nói năng khuếch khoác để trấn áp mọi người, nhưng kỳ thực, từ khi được thư của Nhậm, trong ḷng Chỉnh rất đỗi lo sợ. Một hôm vào chầu, Chỉnh đuổi người chung quanh ra mà nói kín với nhà vua rằng: - Vơ Văn Nhậm tuy là tả tướng trong soái phủ của Bắc b́nh vương, nhưng vốn là rể vua Tây Sơn. Lâu nay chỉ huy việc quân, y vẫn đóng vai con rể của nước. Nay thấy anh em Tây Sơn xích mích nhau, Nhậm là kẻ đứng giữa, cố nhiên là phải tuân theo tướng lệnh, nhưng trong ḷng lẽ nào lại hoàn toàn không nghĩ ǵ đến bố vợ? Vừa rồi có tên do thám nói rằng: “Nhậm ở Động Hải nghe việc biến cố ấy, bèn xin về hầu. Nhưng Bắc b́nh vương không cho mà bảo ra thẳng Nghệ An. Nay Nhậm đang ở vào địa vị nguy ngập và bị ngờ vực, nên không thể không có ư trông về bên trong. Thần xin nhân cơ hội này để thương lượng về việc bờ cơi Nghệ An. Hết sức nhắm nhe vào ân t́nh của họ, lại lễ nhiều, lời ngọt, ngoài có Văn Nhậm tâng bốc, trong có công chúa đỡ lời; Bắc b́nh vương dù có ḷng nào chăng nữa cũng không thể không gượng theo ḿnh. Vua Lê khen phải. Sáng hôm sau, nhân buổi chầu sớm, vua nói với các quan rằng: - Nghệ An liền kề với Thanh Hoa, là một quận phụ vào đất “thang mộc”. Con em đất ấy vẫn được lựa chọn vào quân túc vệ, làm nanh vuốt cho nước nhà. Đất ấy không thể để cho người khác chiếm giữ măi. Trẫm sắp sai người đi Phú Xuân để bàn với Bắc b́nh vương một phen. Vậy các ngươi hăy chọn xem người nào có thể sung vào sứ bộ? Trương Đăng Quỹ thưa: - Nguyễn Đ́nh Giản và Phạm Đ́nh Dư là người ngay thẳng có thể làm được việc ấy. Phan Lê Phiên nói: - Giản cương trực có thừa mà mềm mỏng ôn hoà th́ không đủ. Dư tuy nghị luận vững vàng, nhưng xét việc hơi chậm. Bắc b́nh vương là người rất quỷ quyệt, hay dùng mưu khôn lung lạc người ta. Trong lúc bàn bạc, khi nén xuống, khi nâng lên, không biết đường nào mà ḍ. Thần sợ rằng hai người ấy tranh biện với ông ta, thế nào rồi cũng làm hỏng việc nước. Đ́nh thần bàn măi việc cử người, luôn mấy ngày vẫn chưa ngă ngũ. Chỉnh bèn tâu để Trần Công Xán đi. Vua Lê nói: - Được đấy! Nhà vua bèn đ̣i Công Xán vào triều mà bảo rằng: - Người là người trung trinh v́
nước, ḷng trẫm đă biết. Ngày xưa Phú
Bật sang sứ Khiết Đan, làm cho nước
địch phải kính trọng, công việc xong xuôi
(Khiết Đan là một nước ở phía đông
bắc Trung Quốc, thường hay xâm phạm bờ
cơi. Đời vua Tống Nhân tông, quân Khiết Đan
đến đóng sát biên giới và bắt nhà Tống
phải cắt đất. Phú Bật được
đi sứ, đă hết sức biện bạch,
kết quả làm cho quân Khiết Đan phải lui và
từ đó hai nước hoà b́nh được
đến vài chục năm). Chuyến đi này, cũng
giống như thế. Ngươi cố v́ trẫm vâng
mệnh ra đi, cũng là Phú Bật của nước Xán hăng hái xin đi, và nói: - Vua phải lo th́ bề tôi mang nhục; thần đâu dám sợ khó khăn? Trong những người từng làm việc chung với thần mà thần đă biết, th́ có Ngô Nho là có thể dùng được. Vua ưng lời, rồi ban mệnh lệnh xuống. Cả triều đ́nh đều khen là chọn được người xứng đáng. Duy án là con thứ sáu của vua ư tông, và là ông chú họ nhà vua. án tính người cẩn thận, nho nhă và trung thực. Công chúa Ngọc Hân khi chưa lấy chồng, vẫn thường tôn kính án, mọi việc nên chăng đều hỏi ư kiến của án. Kịp đến khi công chúa về với Bắc b́nh vương, án thường nhân có việc tới gặp, Bắc b́nh vương cũng khen án nói năng lui tới có lễ độ. Lúc đó v́ muốn luôn tiện hỏi thăm công chúa, cần chọn người hoàng thân xứng đáng, nên mới sai án đi. Trần Công Xán, người làng Yên Vỹ, huyện Đông An, đỗ tiến sĩ khoa Nhâm th́n (1772) đời Cảnh Hưng. Hồi Đoan nam vương c̣n coi giữ việc nước, Xán đang ở chức tả thị lang bộ công, được sung chức hành tham tụng. Trong cuộc biến loạn năm Bính ngọ (1786), quân Tây Sơn tiến sát kinh kỳ, quân quận Thạc tan vỡ, các quan văn vỡ đang đêm đua nhau bỏ trốn, riêng có ḿnh Xán xin với chúa quyết liều một trận sống chết. Xán bận quần áo trận, tay cầm gươm, hộ vệ chúa Trịnh ở lầu Ngũ Long. Lúc Bắc b́nh vương vào kinh đô, vua Lê trước sai các quan lần lượt tới yết kiến. Thấy thần sắc của Bắc b́nh vương rực rỡ, nghiêm nghị, ai cũng run sợ, hăi hùng, riêng có Xán là tiến thoái như thường, không mất phong thể của bậc đại thần. Bắc b́nh vương lấy làm lạ, đă mấy lần mời Xán đến, hỏi việc Bắc Hà. Hỏi đâu Xán đáp luôn đấy, nói như suối chảy, không có chỗ nào ngập ngừng, ấp úng. Có lúc Bắc b́nh vương cố ư hỏi vặn, nhưng Xán vẫn lật qua lật lại, tranh căi nhiều lần, không mảy may chịu khuất phục. Bắc b́nh vương bảo với tả hữu rằng: “Ta nghe Bắc Hà rất nhiều nhân tài, nay đến tận nơi th́ chỉ thấy Trần Công Xán là có khí sắc con người mà thôi!”. Công Xán vốn được Bắc b́nh vương kính trọng là như vậy. Xán đă từng làm thượng thư bộ H́nh, được vào chầu ở toà Kinh-diên, rồi lĩnh chức đồng b́nh chương quân quốc trọng sự. Trong triều đ́nh, Xán là người cương trực, gặp việc có tài ứng biến, lại thêm có học thuật, v́ vậy ai cũng tôn trọng. Xán lại là thầy học của Chỉnh. Mỗi khi Chỉnh có tâm sự ǵ, không thể nói với người ngoài th́ không khi nào không hỏi Xán để quyết định. V́ thế, chuyến này Chỉnh mới xin vua để sai Xán đi. Ngô Nho người làng Tri Chỉ, huyện Phú Xuyên. Trước kia Xán làm đài quan (tức là chức ngự sử) coi việc chấm thi, đă lấy Nho đậu tiến sĩ khoa Ất-tỵ (1785), nên Nho vẫn theo lễ thầy học mà đối đăi với Xán, thường tới nhà Xán luôn. Nho thấy Xán là người khảng khái, có khí tiết lớn lao, không thèm xu phụ quyền thế, nên hai bên thanh khí hợp nhau. Xán cũng yêu và trọng Nho, v́ thế bảo Nho đi với ḿnh. Khi Nho mới nghe lệnh ấy, liền vào gặp Xán. Xán bảo Nho rằng: - Nước địch đè lấn, tin báo ngoài bờ cơi đang gấp. Nay chỉ biết ra đi chưa biết ngày về. Tôi là đại thần của nước nhà, nghĩa phải ra đi, sống thác không cần tính đến. Ông mới làm quan, ngôi thứ c̣n thấp, ở nhà lại có mẹ già. Trung hiếu không thể vẹn cả đôi đường, hăy thử nghĩ cho kỹ, tôi không dám ép ông đâu. Nho trả lời: - Tướng công chịu ơn dày của nước, tôi th́ chịu ơn trí ngộ cao cả của tướng công. Đại thần gánh việc cho nước nhà, kẻ sĩ chết v́ người tri kỷ, đều là nghĩa phải như thế, ngoài ra không biết đến việc ǵ khác. Xán mừng mà rằng: - Mạnh mẽ thay! Kẻ sĩ như thế đáng gọi là “đạt” vậy. Rồi đem Nho vào yết kiến vua. Vua cho Nho lạy ở nội điện và hỏi: - Nhà ngươi đă ôm ấp kinh luân, từng trải việc đời thử liệu xem chuyến đi này ra sao? Nho tâu: - Ngửa trông phúc lớn của nhà nước và mưu sâu của miếu đường, công việc xong xuôi tưởng cũng không khó. Vả lại lúc ấy đă có vị lương thần chuyên việc ứng đối, chắc sẽ không để nhục đến mệnh vua. Thần làm người giúp việc chỉ biết làm hết chức phận mà thôi. Nhà vua gật đầu, rồi sai quan b́nh chương Phan Lê Phiên cùng với Bằng công Nguyễn Hữu Chỉnh họp nhau bàn việc thảo quốc thư. Trong thư đại lược nói rằng: “ Nghệ An là đất nền móng trong cuộc trung hưng của bản triều, cùng với Thanh Hoa, đều là quận chân tay của nhà nước, quan văn tướng vơ phần nhiều ở đó mà ra. Quân lính túc vệ cũng đều kén chọn đinh tráng ở xứ ấy sung vào. Nếu như dùng người mà bỏ đất, để họ cách trở quê hương, xa ĺa thân thích, xét về nhân t́nh, rất là trái ngược. Đức vua quư quốc trọng điều tín nghĩa, hoà với láng giềng, “suy bụng ta ra bụng người”, chắc rằng không việc nhỏ mọn nào mà không soi thấu, huống chi là việc rơ ràng như thế. Nghĩ lại đức vua quư quốc lúc mới ra Bắc, vốn lấy việc tôn pḥ làm nghĩa thứ nhất. Tiên đế lúc sinh thời, từng mời ngồi trên giường, cầm tay cùng tṛ chuyện. Tiếng ngọc c̣n văng vẳng bên tai, vội quên sao được? Kịp đến khi tiên đế tựa ghế trối trăng mọi việc, ân cần lo cho kẻ tiểu tử này tuổi c̣n trẻ nhỏ, muốn nhờ vào phúc ấm của quư quốc, để làm nơi nương tựa. Gần đây nghe tin quư quốc sai tướng ra đóng ở Nghệ An, ḷng người ngờ vực, có kẻ cho rằng đó là do bọn bề tôi ở biên giới gây việc, không phải bản ư của quư quốc vương. Đến lúc tiếp được bức thư tư ra, mới biết thật là vâng mệnh lệnh của quư quốc vương. Trong thư vin vào cớ mùa thu năm ngoái bản quốc đă hứa cắt đất khao quân. Kẻ tiểu tử này mới lên ngôi, chưa được rơ nguyên nhân việc trước, đă sai đ́nh thần tra cứu lại cái ước cắt đất, th́ là hai châu Bố Chánh, Minh Linh (Bố Chánh nay gồm các huyện Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hoá thuộc Quảng B́nh. Minh Linh nay là Vĩnh Linh, Do Linh thuộc Quảng Trị (B́nh Trị Thiên)), chứ không liên can ǵ tới bờ cơi xứ Nghệ An. Vả lại, hồi đó đă vâng lời quư quốc vương dụ rằng: “Quả là đất đai của nhà Lê, một tấc cũng không lấy”. Nay nếu khao quân bằng đất th́ không bằng khao quân bằng của. Vậy xin tính số thu nhập hàng năm của đất ấy, dùng làm chi phí khao quân; rồi cứ hàng năm đưa đến biên giới, làm thành định lệ lâu dài. Xa trông quư quốc vương xét cho, để trọn t́nh hoà hảo của hai nước. Cả nước chúng tôi đều lấy làm may lắm!”. Thư thảo xong, đệ lên vua xem. Vua sai lấy ở kho nội phủ một số vàng, đoạn màu, và lụa vải thổ sản làm đồ biếu tặng. Rồi vời Trần Công Xán vào trước mặt để dặn ḍ và giao cho mang đi. Ngay hôm đó, bọn Xán lên đường. Trăm quan đều tiễn chân đến ngoài kinh thành. Riêng Nguyễn Hữu Chỉnh th́ cùng Xán ngủ đêm ở chùa Thịnh Liệt. Xán bảo Chỉnh rằng: - Bắc b́nh vương là người
hiểm sâu khó lường, chuyến đi này vị
tất ông ta đă nghe theo. Nhưng tôi đă vâng mệnh
nhà vua th́ cứ liệu chiều biện luận, liều
chết mà căi. C̣n công việc pḥng bị th́ sau khi tôi
đi, ông phải chú ư thêm, chớ có sơ suất. Dọc
theo địa phận miền núi Thanh Hoa, phải gấp
rút chia đồn đóng giữ các nơi hiểm yếu
đề pḥng quân bộ. Cửa biển trong trấn
Sơn Chỉnh nói: - Xin thầy cứ đi, không cần phải quá lo. Lời nói của thầy ai chẳng nghe theo? Nếu không th́ việc điều khiển quân lính của tṛ đây cũng chẳng kém ai. Vạn nhất có biến, há lại không làm nổi một trận sấm vang chớp giật, nghiêng biển, lật núi cho sướng bụng hay sao? Họ dù kiệt hiệt, cũng chẳng làm được ǵ. Xán không cho lời nói của Chỉnh là phải. Khi sứ thần đến đầu huyện Quỳnh Lưu th́ có viên tướng của Vơ Văn Nhậm sai ra đóng đồn ở đấy đón vào trong đồn. Xem xét đồ vật xong rồi, y chỉ cho ba viên sứ thần và mười tám người tôi tớ cùng đi, c̣n bao nhiêu đều bảo về. Đến doanh trấn Nghệ An, Nhậm sai thết tiệc khoản đăi, rồi thong thả hỏi Xán rằng: - Quan văn quan vơ ở Bắc Hà như cụ phỏng được mấy người? Vua Lê giao nước cho tên giặc Chỉnh, ư ngài tự nghĩ ra sao? Tôi nay đă lĩnh binh phù, sớm tối sẽ kéo thẳng ra Thăng Long, trước chém đầu giặc Chỉnh sau hỏi tội vua Lê sao lại bội ơn dong nạp đứa làm phản? Rồi báo cáo rơ ràng với sĩ dân Bắc Hà, cho họ biết tại sao chúng tôi phải dùng quân? Vua Lê đă không giữ nổi nước nhà th́ các trấn từ Thanh Hoa trở ra, chúng tôi không lấy, người khác cũng sẽ lấy. Nghệ An là một mảnh đất cỏn con, cắt hay không cắt có quan hệ ǵ đến việc mất c̣n của nước nhà mà phải đi xa xin xỏ cho mất công trèo non lội suối. Tôi chỉ e rằng con chim đă ĺa tổ, đến lúc bay về lại không có cành để đậu nữa mà thôi! Xán im lặng, mọi người nghe nói đều sợ hăi. Đến lúc trở ra, Xán bảo Nho rằng: - Người Tây Sơn hành binh như bay, tiến quân rất gấp. Xem họ đi lại vùn vụt mau chóng như thần, chống không thể được, đuổi không thể kịp, xưa nay chưa hề nghe có giặc nào như thế. ư tôi đă lo xa, phải đề pḥng trước, lúc đi đă dặn ông Bằng phải như thế, như thế, không biết ông ấy có nhớ không? Nếu hơi chậm trễ, việc sẽ không kịp. Nói xong, than thở hồi lâu rồi đi. Nho bèn nói với Xán rằng: - Xem mưu kín của chủ tướng họ, th́ việc thôn tính nước ḿnh họ đă sắp đặt sẵn sàng. Việc tôn phù năm trước chẳng qua chỉ là mượn cớ mà thôi. Bọn lang sói vốn sẵn bụng ác, quyết không thể nói bằng nhân nghĩa. Bây giờ xe sứ thần đă ra khỏi bờ cơi, kinh thành sắp bị nạn đinh đao, sự thế quá gấp, phải tính đường quyền biến để làm cho được việc, không nên câu nệ. Vả xem ông Bằng từ khi đắc chí đến nay, đai vàng ngang lưng, bộ dạng nhơn nhơn tự đắc, không c̣n như hồi trước “nhá rễ cây mà làm nên việc”. Tôi e rằng ông ta lính quưnh ra trận, thế nào cũng bị Vơ Văn Nhậm bắt mất. Lúc đó vua ta đi hay ở lại, cũng chưa dám chắc. Chúng ta phải trù tính thế nào để ngấm ngầm xoay lại then máy, may ra mới có thể cứu văn được. Chỉ cần cho nước được yên, dầu có tự tiện cũng không hề ǵ. Nếu cứ vâng chỉ cũ, cố tranh căi về việc Nghệ An, th́ đúng như người ta vẫn nói: “Cướp đă vào nhà c̣n sửa phên dậu”. Như thế thật là thất sách. Vậy xin chữa lại quốc thư để mang đi. Xán nói: - Chữa! Chữa như thế nào? Nho nói: - Chữa rằng: “Họ Trịnh chuyên quyền, vua Lê đă không c̣n nước. May nhờ quư quốc vương tôn pḥ. Nếu trời c̣n phù hộ nhà Lê, tiên đế đâu đến nỗi qua đời. Tôi là cháu kế tự c̣n nhỏ tuổi, nghĩ rằng gánh vác không nổi, để nhục cho xă tắc. Kinh thư có chữ “làm khách”, Kinh thi nói rằng “có khách” (hai câu này đều có nghĩa là muốn nhường nước cho người khác. ở đây, tỏ ư nhường cả nước cho Tây Sơn, và chỉ xin cắt lại cho một mảnh để vua Lê lấy chỗ thờ cúng tổ tiên mà thôi), đều là việc cũ đời xưa. Kính xin cắt cho một phần đất để được nối đời thờ phụng tổ tiên. Thật là thuận mệnh trời để mà sống c̣n, cầu ḷng thương của trời về dài lâu vậy!”. Nếu họ chỉ muốn giữ nước, không có bụng làm hại ḿnh, thấy nói như thế chắc hẳn phải mừng rỡ, thế nào họ cũng thả sứ thần về nước và chia đất cho ta. Nhân thế ta có thể khuyên vua ta hăy tạm ở đất ấy. Họ không có ḷng ngờ ta, th́ sẽ không đến ḍm giỏ nữa. Bấy giờ ta sẽ lo tính dần dần như vua Thiếu Khang ở Luân ấp, vua Câu Tiễn ở Cối Kê, tự nhiên sẽ có ngày trung hưng. Nếu không thế, họ đă tức giận mà ra tay hung tàn, th́ bọn ḿnh chỉ làm ma biển khơi. Điều đó tuy chẳng đáng kể nhưng vua ta sau khi phiêu bạt, long đong, không c̣n tấc đất để nương tựa, th́ dẫu đến tài như Khổng Minh cũng khó ḷng mà trở tay. Xán nói: - Không được! Ông Bằng theo việc quân từ lúc đầu c̣n để chỏm, là tay lăo luyện trong chốn trận mạc, nếu như đô thành mắc nạn binh đao, tưởng cũng không đến nỗi khốn đốn lắm. Hai nước đánh nhau, chưa biết ai thua ai được. Chúng ta vâng mệnh đi sứ, mới ra khỏi cơi mà đă chữa quốc thư, mạo lời chúa, chẳng những bị tội với nước ḿnh, mà nếu bên địch khám phá ra chỗ lừa dối đó, họ cũng không dong ḿnh; tai vạ càng lớn, tiếng cười không biết bao giờ mới hết. Chi bằng cứ minh bạch mà làm, việc thành hay bại là tại ông trời, ta có lo ǵ. Từ đó Nho không dám nói nữa. Khi đến Phú Xuân, các sứ thần bày lễ vật vào yết kiến Bắc b́nh vương. Xán tŕnh quốc thư lên. Bắc b́nh vương xem qua một lượt, rồi vứt xuống đất mà nói to: - Thư này ai làm? Nói ra toàn điều vô nghĩa lư. Người Bắc quen dùng lời lẽ để dử người. Ta không phải trẻ con mà lừa dối được đâu! Xán vẫn không đổi nét mặt, ung dung trả lời: - Xin đại vương hăy bớt giận, để tôi nói rơ. Nếu muốn giết tôi, tôi cũng xin nói một lời rồi chết. Bắc b́nh vương vốn trọng Xán, liền đổi nét mặt mà rằng: - Ngày xưa ta vượt biển ra Bắc, phá Thăng Long, diệt họ Trịnh, cả nước khiếp sợ, trong triều ngoài nội đều chịu bó tay, không ai dám làm ǵ. Lúc bấy giờ nếu ta chiếm giữ đất nước, xưng đế, xưng vương, ǵ mà chả được? Nhưng v́ ta xa mến đức của tiên đến, nên đem cả cơi đất nguyên vẹn trả lại ngài. Cơ đồ thống nhất đều do tay ta gây dựng lại. Bắc triều lại dùng chế sách “thượng công” để đền đáp ta. Chẳng biết “thượng công”? là danh hiệu ǵ? Đối với ta có thêm được cái ǵ không? Kịp đến khi tiên đế chầu trời, lễ cả sơn lăng, ta giúp đỡ cho: tự vương nối ngôi, lễ lớn sách lập, ta chủ trương cho. Nay không cảm ơn những việc của ta làm, lại chứa chấp kẻ phản ta, chống cự với ta, mưu đồ dành lại đất Nghệ An. Xử sự như thế, nhân t́nh có ai nín nhịn được không? Ta đă phái ra hai vạn binh mă, sai tả quân Vơ Văn Nhậm thống lĩnh, thẳng tới Thăng Long, chặt đầu cha con giặc Chỉnh về dâng. Chắc rằng khi Chỉnh nghe tin quân ta kéo ra, thế nào cũng kèm tự tôn bỏ chạy. Bấy giờ ở dưới gươm đao, ngọc đá lẫn lộn, không biết tự tôn có giữ được yên lành hay không? Nếu có làm sao, người trong nước lại qui oán về ta th́ thật phiền. Xán thưa: - Xưa đức Lê Thái tổ dẹp
yên quân Ngô, mở mang nước nhà, công đức như
trời. Vua Thánh tông tự ḿnh làm nên thái b́nh, rạng danh
đời trước, mở rộng về sau. Từ
núi Thạch Bi ra bắc, từ dẫy Đại Lĩnh
(Thạch Bi ở Quảng Nam (Quảng Nam-Đà Nẵng)
Đại Lĩnh ở Khánh Hoà (Phú Khánh)) vào nam,
đều làm tôi làm dân, ai ai cũng phải tôn kính,
trải qua hàng trăm năm. Họ Mạc tiếm ngôi,
cả nước đều giận. Đấng tiên vương
hội họp những người đồng chí,
dựng lại họ Lê. Họ Trịnh nối theo
cũng v́ có công pḥ Lê, cho nên mới sai bảo được
bốn phương, và được mọi người
hưởng ứng. Từ mấy đời nay, chúa
Trịnh tuy là hiếp chế vua Lê, nhưng chính sóc không
đổi thay, chuông khánh vẫn ở đấy (Chính sóc
là ngày mùng 1 tháng giêng; xưa các vua sáng nghiệp khi lên ngôi
thường đổi chính sóc, đây mượn ư
đó để nói đến quyền vua. Chuông khánh
(nguyên văn là chuông và giá khánh) là những đồ
thờ của nhà vua; đây ư nói miếu đường
của nhà vua vẫn tồn tại), thiên hạ vẫn là
thiên hạ của nhà Lê. Đại vương ruổi xe
một mạch, thẳng đến kinh thành, tuy rằng
oai danh đă vang dậy khắp nơi, nhưng cũng do
lấy nghĩa cả tôn pḥ, khiến người ta tin
phục, mới được như vậy. Nếu
không, việc vào nước người ta, đâu có
dễ dàng như thế. Tiên đế thoạt thấy
đại vương, tiếp đăi rất là long
trọng. Trước ban sách mệnh làm tước công,
rồi sau sẽ phong vương, đó là điển
cũ của bản triều, không phải trả ơn
không hậu, chớ nên thấy như thế mà cho là
bạc. Một nước đă trải hơn ba trăm
năm, trời cao chứng giám, ḷng người tôn sùng.
Đại vương đem cả cơi đất trả
lại nguyên vẹn, là thể thuận ư trời,
chiều ḷng dân, chưa có thể lấy đấy làm
ơn. Tiên đế mất đi, hoàng thượng
nối ngôi, mọi việc đều bẩm trước
với đại vương. Đại vương
không làm chủ th́ ai làm chủ nữa. Lư đă đến
thế, đừng cũng chẳng được. Tôi
không dám khen ngợi để dâng lời ton hót.
Đại quân về Xán cứ căi đi căi lại măi, không chịu khuất phục một lời nào. Đến lúc trời sắp tối, Bắc b́nh vương bảo: - Hăy ra nhà trọ mà nghĩ đi nghĩ lại cho kỹ! Xán nói: - Nghĩ lắm luẩn quẩn lại dễ lầm lẫn, một chết là xong! Bắc b́nh vương nổi giận, sai đem giam Xán vào ngục. Bọn án và Nho cũng đều bị chia ra giam ở các nơi khác. Xán vào ngục, cười nói như thường, Bắc b́nh vương sai người đến ḍ, thấy Xán viết ở chỗ giam đôi câu đối như sau: Đạt đức hữu tam, túng
vị năng chi, nguyện học. Tiểu tâm vô nhị, hành kỳ tố dă, hà vưu? (nghĩa là: Đạt đức có ba, dù chẳng làm nên xin học. Giữ ḷng như một, noi theo chí cũ, oán ǵ?) Tư mă Ngô Văn Sở xin giết chết bọn Xán. Bắc b́nh vương c̣n tiếc tài của Xán, bèn bảo trung thư Lê Văn Kỷ và viên quan bộ Lễ là Vũ Văn Trụ rằng: - Nhân vật Bắc Hà, Xán cũng vào bậc giỏi đấy! Ta muốn thu phục hắn để dùng, nhưng mà chắc hắn không chịu. Các ngươi thử hiểu dụ hắn một phen nữa xem sao? Hai người bèn đến chỗ giam Xán, thấy Xán mang gông nằm sấp, liền nói: - Ông già sao lại tự ḿnh làm khổ ḿnh như vậy? Xán trả lời: - Cũng là số mệnh đấy thôi! Kỷ nói: - Quân tử có khi không cần theo số mệnh, chế ngự được số mệnh là cốt ở ḿnh. Ví như đánh bạc, đồng tiền một sấp một ngửa; ta theo kẻ được mà đánh, thiên hạ sẽ khen ta là người đánh bạc giỏi. Xán nói: - Bởi thế cho nên đó chỉ là phường cờ bạc, chứ không phải đạo của người quân tử. Tôi nghe nói: “Kẻ làm bề tôi phải chết v́ chữ trung”. Đấy là lời dạy của người xưa! Hai người biết là không thể làm lung lay được ư chí của Xán, liền đi ra và nói với nhau: - Nhà Hán có Tô Tử Khanh (tức Tô Vũ đời Hán Vơ đế. Khi đi sứ Hung Nô, Tô Vũ bị Hung Nô giữ lại, bắt nuôi dê ở Bắc Hải 19 năm ṛng, mà Tô Vũ vẫn giữ khí tiết không chịu khuất phục) nhà Lê có Trần Công Xán. Đáng thương, nhưng cũng đáng ghét thay! Vừa gặp lúc đó, vua Tây Sơn gửi thư ra kể tội lỗi của Bắc b́nh vương và sắp phái quân tới đánh. Tướng sĩ dưới cờ của Bắc b́nh vương có kẻ trốn đi, Bắc b́nh vương liền bảo Trần Văn Kỷ rằng: - Nay nước ta có việc lôi thôi, ḷng người c̣n phân vân. Việc biến trong nhà không nên để nước láng giềng nghe biết. Sứ Bắc ở đây, tai vách mạch rừng. Họ ở xa đến để ḍ xét ta, giữ họ ở lại th́ họ biết rơ t́nh h́nh trong nước, hoặc giả nhân đó họ xúi giục, gây ra việc không hay. Thả họ về th́ lại bị họ rêu rao làm lộ việc, người Bắc Hà mà biết, th́ lại sinh ḷng khinh rẻ ta. Bởi thế, ta định ném bọn họ xuống biển, để cho hết tiếng tăm dấu vết, vậy cứ theo chước đó mà làm. Rồi Bắc b́nh vương sai đô đốc là Vơ Văn Nguyệt sắp sẵn vài chiếc thuyền biển, nói phao là đưa sứ thần về Bắc. Lúc bọn Xán vào từ giă, Bắc b́nh vương nói: - Các ông hăy về trước, chờ lúc tôi ra ngoài ấy vời vào gặp mặt, sẽ có cách xử trí việc Nghệ An. Rồi Bắc b́nh vương lại đem tặng họ một trăm nén bạc và bảo: - Đây là của công chúa gửi tặng, các ông đừng chối từ. Tiếng gọi là đưa họ về, nhưng thật ra Bắc b́nh vương đă ngầm bày mưu cho Nguyệt, người ngoài không ai được biết. Tháng ba, mùa xuân năm Đinh vị (1787) thuyền từ cửa Tư Dung (thuộc Thuận Hoá, nay là cửa Tư Hiền) giương buồm ra đi, không mấy ngày đă đến cửa biển Đan Nhai thuộc thị trấn Nghệ An. Nguyệt cùng bọn sứ thần ghé thuyền vào bờ, rồi cùng lên bộ. Lúc ấy có người học tṛ của Xán là giám sinh Nguyễn Hiên, người huyện Chân Lộc, nghe tin thầy học được về, vội mừng rỡ đến chào. Chợt thấy nét mặt Nguyệt có vẻ khác thường, Hiên ngầm đoán được ư của hắn, bèn nói kín với Xán hăy xin đổi đi đường bộ. Nhưng Nguyệt nói: - Tôi vâng mệnh đưa sứ giả đi đường biển, thuận tiện mà ổn thoả, không nên đi đường bộ, trèo non vượt suối vất vả. Rồi đó, cả bọn lại lên thuyền ra biển. Vừa ra đến ngoài khơi, Nguyệt liền bảo bọn lái thuyền đục thuyền cho nước vào, d́m cả bọn sứ thần xuống biển. Hiên đứng trong bờ trông ra xa gào khóc hồi lâu mà về. Hôm ấy nhằm ngày 11 tháng 4, mùa hè năm Đinh vị (1787). Xong việc, Nguyệt lại ghé thuyền vào bờ, nói phao cho trong ngoài biết rằng, thuyền gặp sóng gió bị đắm, để tránh cái tiếng giết hại sứ giả. Lúc bấy giờ, có người làm hai câu thơ rằng: Tên lưu vũ trụ bia ngàn
thuở, Nghĩa nặng cương thường
biển vạn năm. Từ lúc bọn Xán đi Nam, Chỉnh cho rằng việc thế nào cũng xong, nên đă nói toạc ra ở trong triều rằng: - T́nh h́nh Tây Sơn như ở trong
tầm con mắt của ta. Họ sẽ mừng là ta
đă không gây sự, để họ có thể chuyên tâm
vào việc nước họ. Hiện nay cuộc nội
chiến của họ đang rối ren, th́ giờ
đâu mà lo đến việc bên ngoài. C̣n Vơ Văn
Nhậm th́ chơ vơ ở Nghệ An ngoảnh về
bên trong không có quân cứu viện, có làm được ǵ?
Bắc b́nh vương thấy thư của ta đưa
đến, thế nào cũng mừng mà nghe theo, xin
đừng lo ǵ việc miền V́ thế, những lời Xán dặn lúc ra đi, Chỉnh đều không để ư tới, chỉ tâu xin cho Nguyễn Duật làm trấn thủ Thanh Hoa mà thôi. Lúc Duật sắp đi, Chỉnh dặn rằng: - Chỉ nên giữ ǵn bờ cơi cẩn thận, chớ có sinh sự để bên địch nghi ngờ. Đợi khi Trần b́nh chương trở về, sẽ dời vào làm trấn thủ Nghệ An, sửa lại luỹ cũ ở Hoành Sơn, giữ vững bờ cơi để làm chước lâu dài. Quan b́nh chương Phan Lê Phiên nghe được chuyện ấy, liền đến nhà Chỉnh mà nói: - Ông Trần đă già giặn việc đời, xét đoán công việc rất nhanh. Ngày thường ông ấy bàn bạc tính liệu như thần, đến lúc sự việc xảy ra, không việc ǵ là không đúng. Ông chớ nên xem thường! Chỉnh cũng không cho là phải. Phiên ra ngoài nói với người bạn đồng liêu là Trương Đăng Quỹ rằng: - Ông Bằng vốn có tiếng là biết việc binh, thế mà không nghe lời can, coi thường quân giặc, sợ rằng quốc đô mới qua một cuộc tàn phá, không thể chịu nổi một trận giày đạp nữa. Chúng ta gánh chức phụ bạt đă lâu, nếu “đổ mà không giữ, nguy mà không pḥ” th́ c̣n dùng hạng tướng quốc như chúng ta làm ǵ? Hai người than thở cùng nhau hồi lâu, rồi Phiên nói: - Nghĩ lại công đức của tiên đế rất lớn, mà nay ngài chưa có miếu hiệu, không bàn định cho kịp lúc này, rốt cuộc điển lễ vẫn thiếu. Hai người bèn cùng bàn với các quan, dùng sách vàng tôn xưng tiên đế làm Vĩnh hoàng đế, miếu hiệu Hiển tông. Rồi tâu với vua xin làm lễ cáo miếu. Chỉnh nói: - Theo lễ, việc tôn xưng miếu hiệu phải chờ sau ngày đại tường, khi đă rước linh vị vào miếu rồi mới cử hành, làm ǵ mà gấp thế? Phiên nói: - Việc đời chưa biết thế nào, bây giờ chính là lúc cần phải tôn mỹ hiệu của tiên đế cho xong ngay đi! Chỉnh nghe nói cũng im lặng. Lại nói, lúc Nguyễn Hữu Chỉnh từ Nghệ An vào kinh. án đô vương Trịnh Bồng chạy qua sông, sang trấn Kinh Bắc, vào tạm lánh ở làng Quế ổ. ở đấy có viên vơ biền tên là Nguyễn Đ́nh Toại (Cương mục chép là Nguyễn Trọng Mại) vâng mật chỉ của chúa kêu gọi các thổ hào vùng Thuận Thành, Từ Sơn mộ quân nghĩa dũng, mưu đồ đánh Chỉnh để dẹp yên nạn nước và khôi phục nghiệp cũ. Rồi đó, Toại lại đưa hịch cho các phiên thần ở vùng Lạng Sơn, Cao Bằng, bảo họ họp quân lại, làm việc cần vương. Chỉnh thấy vậy, luôn luôn tỏ ư muốn đánh, nhưng v́ có Dương Trọng Tế chiếm giữ huyện Gia Lâm, đắp luỹ chống nhau với Chỉnh, đường đi c̣n bị ngáng trở một lối, nên Chỉnh đành phải tạm gác việc ấy lại chưa làm vội. Kịp đến khi Trọng Tế đă bị giết, Chỉnh bèn hối hả cho việc đánh chúa Trịnh là điều cần thứ nhất, liền tâu xin tự ḿnh đem quân bản bộ tiến đánh. Vua Lê nghĩ chúa Trịnh vốn có ḷng kính thuận không nỡ đánh, vả trong bụng đang hết sức ghét Chỉnh, không muốn cho hắn đắc chí, sợ sẽ thành cái thế lấn át vua, nên muốn ngăn việc ấy lại. Nhưng rồi khó nói ra lời, nhà vua bèn sai viên nội hàn là Vũ Trinh tuyên rơ chỉ ư của vua và truyền cho Chỉnh biết rằng: - Gia đinh họ Trịnh trải qua nhiều đời, thực có công lớn, nếu để người như Tử Văn mà phải tuyệt tự th́ lấy ǵ mà khuyến khích điều thiện? (Tử Văn tên thực là Đấu Cốc Ô Đồ, người đời Xuân thu, làm quan nước Sở, có công lớn trong việc trị nước. Sau người em họ là Đấu Việt Thục làm loạn, đáng lẽ phải tru di cả họ, nhưng Sở Trang Vương tha tội cho người cháu của Tử Văn, và nói: “Người như Tử Văn mà bị tuyệt tự th́ lấy ǵ mà khuyến khích điều thiện”). Chỉ bằng trước hăy làm bài cáo văn hiểu dụ rơ đường phúc hoạ cho y. Nếu y cứ u mê không tỉnh, sau đó ta hăy đem quân đánh. Ta cứ giữ niềm trung hậu, để cho người ngoài không nói vào đâu được, há không hơn hay sao? Chỉnh không nghe, nói: - Nếu tôi không đem quân ra, để cho việc Trọng Tế giúp chúa được thành, xem y có xử hậu với hoàng thượng không? Anh hùng làm việc, há lại theo ḷng nhân đức của đàn bà? Rồi Chỉnh cố xin ra quân, vua Lê bất đắc dĩ phải cho Chỉnh đốc suất các quân qua sông, thuyền bè chật cả mặt nước, khí thế rất là lẫm liệt đáng sợ. Chúa Trịnh nghe tin, vội vàng sai Toại đốc suất người trong họ ở Quế ổ làm quân tiền phong, thổ hào Yên Dũng là Nguyễn Trọng Linh làm tướng chống bên tả, thổ hào Gia B́nh là Trần Quan Châu làm tướng chống bên hữu, bày trận chờ sẵn. Quân Chỉnh tới nơi, hai bên đánh nhau từ sáng đến trưa, chưa phân được thua; sau đều rút quân để nghỉ ngơi. Chỉnh sai người đưa tờ chiếu của vua tới dụ chúa, khuyên nên qui thuận, không nên chống cự. Chúa cười mà nói: - Hữu Chỉnh đến đây lần này, ư muốn bắt sống ta, nếu nuốt trôi được, chắc không chịu nhả ra. Nay lại lấy lời ngon ngọt dỗ ta, thằng nghịch tặc này quỉ quyệt đáng ghét thật. Tuy vậy, hắn đă mượn mệnh lệnh hoàng thượng đưa ra, ta không thể im lặng không trả lời. Chúa bèn tự thảo một tờ biểu trần t́nh, kể tội ác của Chỉnh và nói nhân dân ai cũng nghiến răng tức giận, xin hăy giết Chỉnh đă, rồi sẽ về triều, lời lẽ có nhiều câu gay gắt. Thật là: Sống mái ngoài
đồng c̣n chửa quyết, Trai c̣ trong ruộng
vẫn giằng co. Chưa biết thua được ra sao? Hăy xem hồi sau phân giải. |